intTypePromotion=1

Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005-2017

Chia sẻ: ViNeptune2711 ViNeptune2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:14

0
41
lượt xem
5
download

Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005-2017

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bài viết này, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đo lường mức độ tập trung thông qua chỉ số CRk và HHI của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2017 nhằm đưa ra đánh giá về cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng dưới tác động của M&A. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra chỉ số tập trung kinh tế HHI có xu hướng tăng sau mỗi thương vụ sáp nhập ngân hàng, thể hiện tính cạnh tranh giảm do M&A.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005-2017

Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam<br /> sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> Lương Minh Hà Tô Phương Ngọc<br /> Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng Sinh viên K19CLC-TC.A<br /> <br /> Nguyễn Bích Ngọc Nguyễn Thị Minh Tâm<br /> Sinh viên K19CLC-TC.A Sinh viên K19CLC-TC.A<br /> <br /> Lê Vũ Thu Trang<br /> Sinh viên K19CLC-TC.A<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Trên thế giới, hoạt động mua bán sáp nhập (M&A) các ngân hàng thương<br /> mại (NHTM) là xu hướng phổ biến nhằm cải tổ hệ thống NHTM, tăng cường<br /> tính cạnh tranh và khai thác các lợi thế kinh tế. Trong bài viết này, nhóm<br /> nghiên cứu đã sử dụng phương pháp đo lường mức độ tập trung thông qua<br /> chỉ số CRk và HHI của 35 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017 nhằm<br /> đưa ra đánh giá về cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng<br /> <br /> Ngày nhận: 13/05/2019 Ngày nhận bản sửa: 23/05/2019 Ngày duyệt đăng: 17/06/2019<br /> <br /> <br /> <br /> The competition level among Vietnamese commercial banks after M&A in the period of 2005- 2017<br /> Abstract: Four years after completing Project 254 “Restructuring the system of credit institutions in the period<br /> of 2011 - 2015”, the banking sector of Vietnam has changed remarkably through a series of mergers and<br /> acquisitions (M&A). However, the change in the number of Vietnamese commercial banks also impacted on<br /> the competitiveness in the banking sector, so the access of commercial banks’ performances in the post-<br /> merger period is extremely important. The objective of the article is to analyze the competitive situation of<br /> Vietnamese commercial banks before and after the merger, thereby seeing the level of competition in the<br /> banking industry decrease after mergers through analyzing two indicators HHI and CRk.<br /> Keywords: M&A, Vietnamese banks, economic concentration.<br /> <br /> <br /> Ha Minh Luong, M.Ec.<br /> Email: halm@hvnh.edu.vn<br /> Ngoc Phuong To, Student of K19 Advanced Program<br /> Email: tophuongngoc6a14gv@gmail.com<br /> Ngoc Bich Nguyen, Student of K19 Advanced Program<br /> Email: ngocnb.025@gmail.com<br /> Tam Thi Minh Nguyen, Student of K19 Advanced Program<br /> Email: minhtam31198@gmail.com<br /> Trang Vu Thu Le, Student of K19 Advanced Program<br /> Email: trangism216@gmail.com<br /> Organization of all: Finance faculty, Banking Academy of Vietnam<br /> <br /> Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng © Học viện Ngân hàng<br /> Số 207- Tháng 8. 2019 34 ISSN 1859 - 011X<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> dưới tác động của M&A. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra chỉ số tập trung kinh<br /> tế HHI có xu hướng tăng sau mỗi thương vụ sáp nhập ngân hàng, thể hiện<br /> tính cạnh tranh giảm do M&A. Tuy nhiên, mức độ cạnh tranh vẫn ở khoảng<br /> chấp nhận được do các ngân hàng sáp nhập đều có quy mô không lớn so<br /> với toàn hệ thống và chỉ số CRk vẫn thể hiện sự tập trung ở mức trung bình.<br /> Từ khóa: tập trung kinh tế, M&A, ngân hàng, Việt Nam<br /> <br /> <br /> <br /> 1. Khái quát ngành ngân hàng Việt Trong khoảng từ năm 2005 đến 2011, dư<br /> Nam giai đoạn 2005- 2017 nợ cho vay kinh doanh, đầu tư bất động<br /> sản chiếm tỷ trọng lớn trên tổng dư nợ.<br /> Trong suốt giai đoạn 2005- 2017, nền kinh Đặc biệt trong năm 2007, tăng trưởng tín<br /> tế Việt Nam có nhiều biến động, đặc biệt dụng trở nên quá nóng khi đạt tốc độ tăng<br /> là năm 2008 do sự ảnh hưởng của cuộc 54% do nhu cầu tín dụng trong nền kinh<br /> khủng hoảng kinh tế thế giới mà nền kinh tế tăng cao, trong đó bao gồm cả nhu cầu<br /> tế Việt Nam có xu hướng đi xuống cho tới vốn đầu tư chứng khoán và bất động sản.<br /> năm 2013 mới có sự khởi sắc. Tuy nhiên, Từ năm 2012- 2017, tăng trưởng dư nợ tín<br /> nhìn chung, Việt Nam đã tạo ra được một dụng tuy không mạnh mẽ như giai đoạn<br /> môi trường kinh tế thị trường có tính cạnh trước nhưng ổn định và đều đặn hơn.<br /> tranh và năng động. Nền kinh tế hàng hóa<br /> nhiều thành phần được khuyến khích phát Cùng năm 2007, mức tăng trưởng huy<br /> triển, các quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở động vốn của toàn ngành Ngân hàng đạt<br /> nên thông thoáng hơn, thu hút được ngày 47,64%- tốc độ tăng mạnh nhất so với<br /> càng nhiều các nguồn vốn đầu tư trực tiếp những năm trước đó. Đến năm 2010, tổng<br /> nước ngoài, và phát triển thêm một số lĩnh huy động vốn từ nền kinh tế của hệ thống<br /> vực hoạt động tạo ra nguồn thu ngoại tệ ngân hàng đã đạt 2.321.973 tỷ đồng, tăng<br /> ngày càng lớn. 36,24% so với năm 2009, đây là mức tăng<br /> khả quan sau cuộc khủng hoảng tài chính<br /> Theo đó ngành ngân hàng trong giai đoạn năm 2008. Giai đoạn 2012- 2017, tăng<br /> này cũng có nhiều sự thay đổi lớn, đặc trưởng huy động vốn ở mức ổn định, chỉ<br /> điểm của giai đoạn này thể hiện rõ nét qua trong 2 năm 2014 và 2015 tốc độ tăng<br /> ba đặc trưng nổi bật: tăng trưởng nóng, trưởng huy động vốn chững lại do lãi suất<br /> suy thoái do khủng hoảng và dần đi vào huy động được điều chỉnh xuống mức thấp<br /> ổn định. Đặc biệt, với sự ra đời của Đề án so với các kênh sinh lời khác.<br /> “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng<br /> giai đoạn 2011 - 2015” (sau đây gọi tắt Bên cạnh hai hoạt động chính của các<br /> là Đề án 254), hoạt động của các NHTM NHTM là huy động vốn và tín dụng thì<br /> chịu sự tác động mạnh mẽ. Vì vậy, bài viết các hoạt động khác như bảo hiểm hay<br /> sẽ tập trung vào 2 giai đoạn chính: (1) Giai cung cấp các dịch vụ thanh toán cũng từng<br /> đoạn 2005- 2011: Giai đoạn trước khi thực bước được phát triển qua các năm.<br /> hiện Đề án 254; (2) Giai đoạn 2012- 2017:<br /> Giai đoạn trong và sau khi thực hiện Đề án 2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp<br /> 254. nghiên cứu<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 35<br /> Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> Hình 1. Tăng trưởng dư nợ tín dụng các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017<br /> Đơn vị: nghìn tỷ đồng, %<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN 2005- 2017<br /> <br /> Hình 2. Tăng trưởng huy động vốn các NHTM Việt Nam giai đoạn 2005- 2017<br /> Đơn vị: nghìn tỷ đồng, %<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Nguồn: Báo cáo thường niên của NHNN<br /> <br /> 2.1. Cơ sở lý thuyết về M&A và cạnh cải tổ hệ thống NHTM, tăng cường tính<br /> tranh trong các NHTM Việt Nam cạnh tranh và khai thác các lợi thế kinh<br /> tế. Bên cạnh đó, hoạt động này còn đem<br /> Trên thế giới, hoạt động mua bán sáp đến những kết quả khả quan khác như<br /> nhập các NHTM trong ngành tài chính- gia tăng lợi nhuận, tinh giản bộ máy<br /> ngân hàng là xu hướng phổ biến nhằm hoạt động, tiết kiệm chi phí xâm nhập<br /> <br /> <br /> 36 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> thị trường hay giải cứu các NHTM bên cấu trúc thị trường cạnh tranh trong lĩnh<br /> bờ vực phá sản. Tại Việt Nam, từ năm vực ngân hàng, nghiên cứu của Nguyễn<br /> 2006, khi Luật Doanh nghiệp 2005 có Thế Bính (2015) sử dụng phương pháp<br /> hiệu lực và đi vào đời sống, hoạt động đo lường mức độ tập trung thông qua chỉ<br /> M&A NHTM tại Việt Nam đã bước đầu số CRk và HHI. Đó là mức độ tập trung<br /> phát triển cả về số lượng và giá trị, theo thị trường trong hệ thống có xu hướng<br /> đó các nghiên cứu dưới đây về M&A giảm trong cả 03 tiêu chí: Tổng tài sản,<br /> trong lĩnh vực ngân hàng được chia huy động vốn và cho vay của hệ thống<br /> thành 2 hướng: Hướng thứ nhất đưa ra NHTM Việt Nam. Với mục đích phân tích<br /> những nhân tố tác động tới M&A; và tác động của M&A tới các yếu tố khác,<br /> hướng thứ hai chỉ ra sự ảnh hưởng của nhóm tác giả Vuong Quan Hoang, Tran<br /> hoạt động M&A đến các yếu tố bên Tri Dung và Nguyen Thi Chau Ha (2009)<br /> trong các ngân hàng cũng như các chỉ số đã kết hợp các nguồn dữ liệu từ phỏng vấn<br /> của thị trường kinh tế. quản lý tới báo cáo tài chính hay thông<br /> cáo báo chí để phân tích các tác động của<br /> Hướng thứ nhất phải kể đến các nghiên M&A tại Việt Nam thời kỳ đổi mới tới.<br /> cứu của Ngô Đức Huyền Ngân (2009), Nghiên cứu của Phan Quan Viet (2014)<br /> Shipra Jindal (2008) và Vương Thị Minh đã nghiên cứu hoạt động M&A ở Việt<br /> Đức (2018). Nghiên cứu của Jindal (2008) Nam giai đoạn 2005- 2011 và phân tích<br /> đã chỉ ra lý do tại sao M&A lại đóng vai các thành tựu và tác động của các thương<br /> trò quan trọng nhìn từ góc độ của công ty vụ M&A đến thị trường kinh tế Việt Nam.<br /> hoặc ngân hàng. Ngô Đức Huyền Ngân Nghiên cứu của nhóm tác giả Hoang<br /> (2009) đã phân tích thực trạng hoạt động Thi Thanh Hang, Phan Dien Vy, Jay<br /> M&A của hệ thống ngân hàng Việt Nam, Bandaralage (2016) đã chỉ ra tác động của<br /> điểm mạnh, điểm yếu cũng như động cơ M&A đối với hệ thống NHTM Việt Nam<br /> sáp nhập của các ngân hàng và đề xuất là tích cực; sau M&A, mức độ tập trung<br /> các giải pháp giúp định hướng các NHTM kinh tế chỉ ở mức trung bình và mức độ<br /> trong hoạt động M&A của các ngân hàng cạnh tranh cao. Tuy nhiên các chỉ số tập<br /> Việt Nam. Vương Thị Minh Đức (2018) trung trong bài không thể phản ánh toàn<br /> đánh giá ưu điểm và những vấn đề còn bộ sự ảnh hưởng của một nhóm ngân hàng<br /> tồn tại, rút ra được những đặc điểm, nhân trên thị trường.<br /> tố ảnh hưởng đến hoạt động M&A ngân<br /> hàng tại Việt Nam, qua đó gợi ý một số Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả<br /> giải pháp phát triển hoạt động M&A trong Nguyễn Ngọc Lý, Trần Văn Quyết, Dương<br /> ngành ngân hàng tại Việt Nam. Thanh Tình (2013), được thực hiện dựa<br /> trên các số liệu thu thập được từ các báo<br /> Hướng nghiên cứu thứ hai đã có nhiều cáo tài chính của các NHTM, đã phân tích<br /> đánh giá về tác động của hoạt động M&A các vấn đề cần lưu ý và đề xuất một số<br /> trong ngành ngân hàng tới mức độ cạnh kiến nghị nhằm thúc đẩy quá trình tái cấu<br /> tranh và các yếu tố khác. Nghiên cứu của trúc hệ thống ngân hàng trong thời gian tới<br /> Le Hai Trung (2014) đã chỉ ra M&A là từ thương vụ sáp nhập đầu tiên theo chủ<br /> một trong những nhân tố chính làm cải trương tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của<br /> thiện mức độ cạnh tranh các ngân hàng NHNN. Nghiên cứu của Lương Minh Hà,<br /> nội địa. Cùng mục đích đưa ra đánh giá về Nguyễn Minh Chi, Ngô Trần Vân Khanh<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 37<br /> Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> Bảng 1. Thống kê về tỷ trọng của 3 NHTM thuộc mẫu nghiên cứu giai đoạn 2005- 2017<br /> Tổng tài sản Cho vay Huy động vốn<br /> Năm Tương đối Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối<br /> (%) (triệu đồng) (%) (triệu đồng) (%) (triệu đồng)<br /> 2005 72,30% 373.625.709 76,81% 273.373.778 75,75% 279.725.897<br /> 2006 63,49% 460.735.158 71,57% 335.891.086 69,51% 317.146.479<br /> 2007 50,66% 568.032.155 58,45% 403.072.326 56,34% 389.350.609<br /> 2008 48,85% 662.199.555 56,21% 439.616.893 53,20% 442.098.432<br /> 2009 42,19% 795.713.178 50,26% 542.948.497 46,66% 504.726.555<br /> 2010 38,11% 1.041.619.762 47,46% 714.619.647 44,12% 655.375.289<br /> 2011 36,40% 1.232.897.811 48,90% 882.088.192 42,24% 724.660.428<br /> 2012 40,80% 1.402.803.136 47,18% 983.816.228 41,87% 877.546.566<br /> 2013 42,13% 1.593.748.531 47,16% 1.077.014.225 40,92% 1.035.644.731<br /> 2014 43,40% 1.888.577.751 48,18% 1.288.021.030 41,89% 1.286.856.543<br /> 2015 44,83% 2.304.385.067 48,52% 1.584.385.457 42,53% 1.558.705.673<br /> 2016 46,12% 2.742.883.228 49,16% 1.919.719.072 45,66% 1.971.533.188<br /> 2017 46,67% 3.332.637.968 49,55% 2.321.931.257 46,73% 2.321.440.228<br /> <br /> Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp<br /> <br /> Bảng 2. 35 NHTMCP thuộc mẫu nghiên cứu<br /> Á Châu (ACB) Nhà Hà Nội MHD Sacombank Bản Việt<br /> An Bình HDBank Nam Á SHB Vietcombank<br /> Bảo Việt Kiên Long Quốc dân Phương Nam Vietinbank<br /> Bưu điện Liên Xăng dầu<br /> BIDV Techcombank VIB<br /> Việt Petrolimex<br /> Việt Nam Thương<br /> Đại Á MSB Phương Đông Tiên Phong<br /> Tín<br /> Việt Nam Tín<br /> SeaBank MB SCB VPbank<br /> Nghĩa<br /> Eximbank MHB Saigonbank Việt Á Phương Tây<br /> <br /> <br /> (2018) đã bổ sung thêm kiến thức về hoạt nhận thấy rằng đa phần các nghiên cứu<br /> động M&A nói chung tại Việt Nam khi về cạnh tranh trong ngành ngân hàng và<br /> đánh giá, phân tích cả những nhân tố tác M&A đều thể hiện được mối quan hệ qua<br /> động tới M&A và những nhân tố bị ảnh lại của hoạt động M&A đến hoạt động của<br /> hưởng bởi M&A. các ngân hàng thời kỳ hậu sáp nhập nhưng<br /> chưa khẳng định rõ hệ quả của hoạt động<br /> Tổng quan các nghiên cứu trên cho thấy, này đến mức độ cạnh tranh trong ngành<br /> nghiên cứu về hoạt động M&A trong lĩnh cũng như các mô tả chi tiết hơn xung<br /> vực Tài chính- Ngân hàng tại Việt Nam là quanh các tác động đó đến tính cạnh tranh<br /> không quá mới mẻ, tuy nhiên các tác giả giữa các NHTM.<br /> <br /> <br /> 38 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> 2.2. Phương pháp nghiên cứu nhóm thực hiện nghiên cứu nên khi tính<br /> toán chỉ số CRk, nhóm sẽ không xét đến<br /> Để khảo sát diễn biến chỉ số tập trung kinh Agribank trong mẫu. Do đó, trong nghiên<br /> tế sau các thương vụ M&A trong lĩnh vực cứu này, nhóm sử dụng CR3, để kiểm tra<br /> NHTM tại Việt Nam, nghiên cứu chủ yếu mức độ tập trung trên ba khía cạnh tổng<br /> dựa trên dữ liệu thứ cấp từ trang thông tin tài sản, huy động vốn và cho vay của các<br /> điện tử của NHNN và các báo cáo thường ngân hàng qua các năm.<br /> niên của các NHTM Việt Nam trong giai<br /> đoạn nghiên cứu (2005- 2017). Đây là Cách thức xác định chỉ số này như sau<br /> khoảng thời gian mở cửa nền kinh tế với (Westman, 2005):<br /> hàng loạt bộ Luật đã ra đời, tạo hành lang<br /> pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp nói<br /> chung, ngành ngân hàng nói riêng có cơ sở<br /> tiến hành M&A, như Luật Doanh nghiệp Trong đó Si là thị phần của doanh nghiệp<br /> 2005, Luật Cạnh tranh 2004, Luật Chứng lớn thứ i trong ngành; n = 3 hoặc 5 tùy<br /> khoán 2006... Các thông tin được sử dụng trường hợp cần xác định CR3 hay CR5.<br /> là ba chỉ tiêu thể hiện đặc trưng hoạt động<br /> kinh doanh của các NHTM, đó là: tổng tài Dựa vào các mức độ tập trung, có thể phân<br /> sản, dư nợ tín dụng và tiền gửi khách hàng. loại thị trường thành các dạng sau:<br /> <br /> Về phương pháp đo lường, nhóm sử dụng - Cạnh tranh hoàn hảo, với tỷ lệ tập trung<br /> chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman Index) rất nhỏ.<br /> và CRk (Concentration Ratio). Hai chỉ<br /> số này được sử dụng phổ biến nhất trong - Cạnh tranh một cách tương đối, CR3<<br /> việc đo lường mức độ tập trung thị trường 65%, mức độ tập trung trung bình.<br /> trong nền kinh tế nói chung và lĩnh vực<br /> ngân hàng nói riêng (Le Hai Trung, 2014; - Độc quyền nhóm (Oligopoly) hoặc có vị<br /> Nguyễn Thế Bính, 2015; Hoang Thi trí thống lĩnh thị trường, CR3> 65%, mức<br /> Thanh Hang và cộng sự, 2016). độ tập trung cao.<br /> <br /> 2.2.1. Chỉ số CRk - Độc quyền, CR1 xấp xỉ 100%.<br /> <br /> Chỉ số CRk được dùng để đo lường mức 2.2.2. Chỉ số HHI<br /> độ tích tụ thị trường, cho biết liệu thị phần<br /> có rơi vào một nhóm ngân hàng không. Chỉ số HHI được sử dụng để đo lường quy<br /> Trong ngành ngân hàng Việt Nam hiện mô của doanh nghiệp trong mối tương quan<br /> nay, tuy có nhóm 4 ngân hàng lớn nhất với ngành. Đây là một chỉ báo về mức độ<br /> về quy mô tổng tài sản gồm có Agribank, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong<br /> BIDV, Vietinbank và Vietcombank, ngành, thường được tính bằng tổng bình<br /> nhưng đặc thù của Agribank là doanh phương thị phần của các doanh nghiệp và<br /> nghiệp Nhà nước tổ chức theo mô hình có giá trị từ 0 đến 10.000. Nhóm chọn ra 35<br /> công ty TNHH Một thành viên, với 100% NHTMCP có đầy đủ dữ liệu từ năm 2005<br /> số vốn thuộc sở hữu Nhà nước, và chưa đến năm 2017 về cả ba chỉ tiêu tổng tài sản,<br /> thực hiện cổ phần hóa trong giai đoạn mà huy động vốn và tín dụng.<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 39<br /> Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> Bảng 3. Thống kê về tỷ trọng của 35 NHTM thuộc mẫu nghiên cứu giai đoạn 2005- 2017<br /> Năm Tổng tài sản Cho vay Huy động vốn<br /> Tương đối Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối Tương đối Tuyệt đối<br /> (%) (triệu đồng) (%) (triệu đồng) (%) (triệu đồng)<br /> 2005 66,92% 516.760.444 67,40% 355.908.514 74,48% 369.261.254<br /> 2006 68,07% 725.646.844 68,96% 469.335.221 73,08% 456.237.130<br /> 2007 71,69% 1.121.198.264 71,45% 689.593.938 73,66% 691.014.997<br /> 2008 71,42% 1.355.569.659 69,45% 782.139.042 71,19% 830.944.686<br /> 2009 74,70% 1.886.127.679 70,24% 1.080.223.502 74,08% 1.081.798.054<br /> 2010 79,58% 2.733.515.807 73,38% 1.505.739.030 76,01% 1.485.412.554<br /> 2011 80,95% 3.387.402.885 75,46% 1.803.940.516 77,53% 1.715.431.917<br /> 2012 80,77% 3.438.228.450 76,64% 2.085.339.141 77,13% 2.095.695.648<br /> 2013 80,06% 3.783.202.151 79,41% 2.283.551.548 77,12% 2.530.798.753<br /> 2014 81,29% 4.351.580.113 78,21% 2.673.524.938 78,58% 3.071.850.082<br /> 2015 83,76% 5.139.731.747 80,88% 3.265.621.097 79,64% 3.664.951.828<br /> 2016 83,96% 5.947.657.847 81,53% 3.904.909.719 80,30% 4.318.209.066<br /> 2017 85,17% 7.140.908.948 82,64% 4.686.289.107 82,26% 4.967.927.375<br /> <br /> Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp<br /> <br /> Trong giai đoạn 2005- 2017, tỉ trọng của mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân hàng<br /> 35 NHTMCP này ở cả ba chỉ tiêu tổng nhưng lại là nghiệp vụ giải quyết yếu tố<br /> tài sản, tổng mức tín dụng và tổng mức đầu vào cho ngân hàng. Tổng tài sản là<br /> huy động vốn toàn ngành dao động trong một trong những chỉ tiêu cơ bản để đánh<br /> khoảng từ 65%- 80%. Cụ thể, năm 2005 giá mức độ cạnh tranh giữa các NHTM<br /> chiếm 66,92% tổng tài sản ngành ngân trên thị trường, vì tổng tài sản gắn liền<br /> hàng; 67,4% tổng mức tín dụng toàn với ưu thế thị phần, thị phần càng lớn<br /> ngành và 74,48% tổng mức huy động vốn thì lợi thế cạnh tranh càng lớn. Như vậy,<br /> toàn ngành. Như vậy, mẫu 35 NHTM có việc chọn ba chỉ tiêu trên từ 35 NHTMCP<br /> tính đại diện cho toàn ngành, đủ cơ sở là phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của<br /> cho nhóm nghiên cứu đưa ra nhận xét, kết nhóm.<br /> luận. Trong bài viết, nhóm chỉ tập trung<br /> vào các NHTMCP, không bao gồm chi Cách tính chỉ số HHI như sau:<br /> nhánh ngân hàng nước ngoài và NHTM<br /> Nhà nước.<br /> <br /> Cho vay và huy động vốn là hai nghiệp vụ<br /> kinh doanh chính của các NHTM. Trong Trong đó n là tổng số doanh nghiệp và Si<br /> đó, cung cấp tín dụng là hoạt động đặc là thị phần của doanh nghiệp thứ i trong<br /> trưng quan trọng nhất, mang đến lợi nhuận ngành.<br /> lớn hàng đầu cho các NHTM. Bên cạnh<br /> đó, nghiệp vụ huy động vốn tuy không Theo Horizontal Merger Guidelines, ban<br /> <br /> <br /> 40 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> hành bởi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ và Ủy ban Trong giai đoạn trước năm 2004, quá<br /> Thương mại Liên bang Mỹ, các cơ quan trình cải cách hệ thống ngân hàng Việt<br /> quản lý cạnh tranh thường phân loại các Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể.<br /> thị trường theo cơ sở sau: (i) HHI< 1.000: Tuy nhiên do ảnh hưởng của kinh tế trong<br /> Thị trường không mang tính tập trung; (ii) nước, các ngân hàng gặp khó khăn trong<br /> 1.000≤ HHI≤ 1.800: Thị trường tập trung việc thu hồi các khoản nợ từ doanh nghiệp<br /> ở mức độ vừa phải; (iii) HHI> 1.800: Thị làm ăn thua lỗ nên các ngân hàng, đặc<br /> trường tập trung ở mức độ cao. biệt là NHTMCP nông thôn mất khả năng<br /> thanh toán, gây ảnh hưởng đến cả hệ thống<br /> Ưu điểm chủ yếu của chỉ số HHI so với ngân hàng trong nước. Vì vậy, nhiều vụ<br /> các cách đo khác (chẳng hạn như tỷ lệ tập sáp nhập đã diễn ra (NHTMCP Phương<br /> trung- CR) là đã tính tỷ trọng lớn hơn đối Nam đã M&A hàng loạt các NHTM khác<br /> với các doanh nghiệp lớn. như NHTMCP nông thôn Ðồng Tháp<br /> năm 1997, Ðại Nam năm 1999, Châu Phú<br /> Chỉ số HHI tăng làm mức độ cạnh tranh năm 2001, Cái Sắn năm 2003; NHTMCP<br /> giữa các ngân hàng giảm, ngược lại, khi Ðông Á tiến hành M&A NHTMCP<br /> chỉ số HHI giảm nghĩa là mức độ cạnh Tứ Giác Long Xuyên năm 2001 và<br /> tranh giữa các ngân hàng tăng. NHTMCP Nông thôn Tân Hiệp năm 2004;<br /> Sacombank M&A Ngân hàng Thạnh<br /> 3. Kết quả nghiên cứu Thắng năm 2002; NHTMCP Phương<br /> Ðông M&A với NHTMCP nông thôn Tây<br /> Thông qua tính toán nhóm nghiên cứu Ðô năm 2003…) để tránh ảnh hưởng dây<br /> thấy rằng, chỉ số HHI ở các chỉ tiêu Tổng chuyền không tốt tới cả hệ thống cũng như<br /> tài sản, Tín dụng và Huy động vốn đều có củng cố niềm tin của người dân.<br /> xu hướng giảm trước năm 2011 và tăng<br /> lên từ năm 2012 trở đi (Hình 3). Điều Đề án 254 “Tái cơ cấu các TCTD” chính<br /> này cho thấy mức độ cạnh tranh của các thức được phê duyệt vào năm 2012, tạo<br /> NHTM trước năm 2011 cao hơn so với ra nhiều thay đổi lớn trên thị trường tài<br /> các năm sau đó. Diễn biến của chỉ số CR3 chính. Các vụ sáp nhập ngân hàng làm<br /> trong giai đoạn này tương tự như chỉ số giảm số lượng ngân hàng trên thị trường<br /> HHI: Đồ thị của chỉ số CR3 (Hình 4) cũng dẫn đến sự biến động của chỉ số HHI và<br /> cho thấy một sự sụt giảm liên tục trong CR3 qua từng năm. Nhóm nghiên cứu tập<br /> giai đoạn 2005- 2011 và bắt đầu ổn định trung làm rõ sự thay đổi đó bằng việc phân<br /> hơn trong giai đoạn 2012- 2017. Hai chỉ tích hai giai đoạn chính: (1) Giai đoạn<br /> số này bổ sung cho nhau cùng thể hiện 2005- 2010; (2) Giai đoạn 2011- 2017.<br /> mức độ cạnh tranh của các NHTM tại Việt<br /> Nam có xu hướng giảm khi số lượng ngân 3.1. Mức độ cạnh tranh qua chỉ số HHI<br /> hàng giảm do hoạt động M&A. Điều này<br /> đồng nghĩa với việc hoạt động M&A có Giai đoạn 2005 - 2010, chỉ số HHI ở cả<br /> tác động làm tăng mức độ tập trung kinh 3 chỉ tiêu Tổng tài sản, Huy động vốn và<br /> tế trong ngành Ngân hàng, kết quả này Tín dụng đều có xu hướng giảm. Đây là<br /> giúp nhóm có cơ sở thực tế để đề xuất giai đoạn bùng nổ mạnh về số lượng các<br /> những kiến nghị trong phần tiếp theo. NHTM được thành lập. Số lượng ngân<br /> hàng mới thành lập tăng, khiến cho thị<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 41<br /> Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> Bảng 4. Số lượng ngân hàng thương mại tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017<br /> Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017<br /> Số lượng 42 39 40 43 42 42 40 39 38 38 35 35 35<br /> <br /> Ghi chú: bao gồm NHTM quốc doanh và NHTMCP, không bao gồm các chi nhánh NH nước ngoài tại VN<br /> Nguồn: Báo cáo thường niên NHNN 2005- 2017<br /> <br /> Bảng 5. Các thương vụ sáp nhập trong ngành ngân hàng giai đoạn 2005- 2017<br /> Năm Các bên tham gia Ngân hàng sau sáp Số lượng<br /> nhập NHTM toàn<br /> hệ thống<br /> - NHTMCP Liên Việt - NHTMCP Bưu<br /> 2011 - Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện VNPT điện Liên Việt 42<br /> (LienVietPostBank)<br /> - NHTMCP Đệ Nhất (Ficombank) - NHTMCP Sài Gòn<br /> 2011 - NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) (SCB) 40<br /> - NHTMCP Sài Gòn (SCB)<br /> - NHTMCP Nhà Hà Nội (Habubank) - NHTMCP Sài Gòn Hà<br /> 2012 39<br /> - NHTMCP Sài Gòn Hà Nội (SHB) Nội (SHB)<br /> - NHTMCP Đại Tín (TrustBank) - NHTMCP Xây dựng<br /> 2013 39<br /> - Tập đoàn Thiên Thanh (CB)<br /> - NHTMCP Đại Á - NHTMCP Phát triển<br /> - NHTMCP Phát triển thành phố Hồ Chí Minh thành phố Hồ Chí Minh<br /> 2013 38<br /> (HDBank) (HDBank)<br /> - Công ty tài chính Việt Societe Generale (SGVF)<br /> - NHTMCP Phương Tây (WesternBank) - NHTMCP Đại chúng<br /> 2013 38<br /> - Công ty tài chính dầu khí Việt Nam (PVFC) Việt Nam (PvcomBank)<br /> - NHTMCP Phát triển Mê Kông (MDB) - NHTMCP Hàng<br /> 2015 - NHTMCP Hàng hải Việt Nam (Maritimebank) hải Việt Nam 37<br /> (Maritimebank)<br /> - NHTMCP Phương Nam (Southern Bank) - NHTMCP Sài<br /> 2015 - NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) Gòn Thương Tín 36<br /> (Sacombank)<br /> - NHTMCP Phát triển Nhà đồng bằng sông Cửu - NHTMCP Đầu tư và<br /> 2015 Long (MHB) Phát triển Việt Nam 35<br /> - NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) (BIDV)<br /> <br /> Nguồn: Nhóm tác giả tự tổng hợp<br /> <br /> <br /> phần của các ngân hàng thành phần giảm, chỉ số HHI chủ yếu do sự góp vốn của các<br /> chỉ số HHI trong giai đoạn này giảm. Đặc công ty nước ngoài và trong nước (nhất<br /> biệt trong năm 2008, trên thị trường ghi là sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm<br /> nhận có 43 ngân hàng thương mại, tăng so 2006) và do số lượng ngân hàng mới tăng.<br /> với các năm trước đó (Bảng 4). Tuy nhiên,<br /> trong giai đoạn này, thị trường ngân hàng 2006: 3 NHTMCP dừng hoạt động<br /> không ghi nhận một thương vụ mua bán<br /> sáp nhập nào, do vậy những thay đổi của 2007: thành lập NHTMCP Việt Nam<br /> <br /> <br /> 42 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> Thương Tín chỉ số HHI của những lần này không quá<br /> cao (tăng từ 1,8- 3% qua các năm), vì vậy,<br /> 2008: thành lập 3 NHTM (Lien Viet Bank, mức độ cạnh tranh vẫn cao hơn so với thời<br /> Bao Viet Bank, Tien Phong Bank) kì 2005- 2011 (HHI trung bình giai đoạn<br /> 2005- 2011: 1314; HHI trung bình giai<br /> 2009: 1 NHTMCP dừng hoạt động (theo đoạn 2012- 2017: 989; so với năm 2005,<br /> Báo cáo thường niên của SBV) chỉ số HHI năm 2012 ở chỉ tiêu Tổng tài<br /> sản giảm còn 1051 đơn vị, ở chỉ tiêu Tín<br /> 2011: 2 NH bị sáp nhập dụng giảm xuống mức 1089 và ở chỉ tiêu<br /> Huy động vốn giảm còn 1206).<br /> 2012: 1 NH bị sáp nhập<br /> Trong năm 2012, vụ M&A duy nhất giữa<br /> 2013: 1 NH bị sáp nhập NHTMCP Nhà Hà Nội và NHTMCP Sài<br /> Gòn Hà Nội (SHB) đã ảnh hưởng phần<br /> 2015: 3 NH bị sáp nhập nào đến thị phần của SHB (NH mua). Cụ<br /> thể, theo Hình 3, chỉ số HHI của chỉ tiêu<br /> Năm 2011, Đề án 254 bước vào thời kì tổng tài sản đã bắt đầu tăng trở lại: Năm<br /> đầu thực hiện, số lượng ngân hàng đã 2012 tăng thêm 11% so với năm 2011.<br /> giảm đáng kể (Bảng 4) bắt đầu từ thương Tuy vậy, về chỉ tiêu tín dụng và huy động<br /> vụ sáp nhập đầu tiên giữa NHTMCP Đệ vốn, chỉ số HHI vẫn giảm nhẹ ở năm<br /> Nhất (Ficombank), NHTMCP Việt Nam 2012.<br /> Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và NHTMCP<br /> Sài Gòn (SCB). Ở giai đoạn này, chỉ số Sang đến năm 2013, ngành ngân hàng tiếp<br /> HHI về mức độ cạnh tranh giữa các ngân tục “chứng kiến” ba thương vụ M&A của<br /> hàng trên thị trường thấp hơn với giai đoạn 7 doanh nghiệp: NHTMCP Đại Á hợp<br /> trước (2005 - 2011), nghĩa là mức độ cạnh nhất với Cty tài chính dầu khí Việt Nam<br /> tranh cao hơn giai đoạn trước (HHI trung thành NHTMCP Đại Chúng, NHTMCP<br /> bình giai đoạn 2005- 2011: 1314; HHI Đại Á và Công ty tài chính Việt Societe<br /> trung bình giai đoạn 2012- 2017: 989; Generale- SGVF sáp nhập vào HDBank,<br /> HHI năm 2012 giảm 53,42% so với HHI NHTMCP Đại Tín và Tập đoàn Thiên<br /> năm 2005), nhưng nhìn chung vẫn ở mức Thanh hợp tác thành lập NHTMCP Xây<br /> cạnh tranh cao (100 ≤ HHI ≤ 1000). Quy dựng (CB). Các thương vụ này đều ảnh<br /> định nghiêm ngặt về việc thành lập và duy hưởng đến cả 3 tiêu chí, khiến thị phần ở<br /> trì hoạt động của các tổ chức tín dụng của cả 3 tiêu chí của 3 ngân hàng sau M&A<br /> Đề án 254 làm cho số lượng ngân hàng tăng lên, còn thị phần của các ngân hàng<br /> mới giảm so với thời kỳ trước, kết hợp khác cũng bị ảnh hưởng. Do đó, chỉ số<br /> với những thương vụ sáp nhập và mua lại HHI trong năm 2013 ở chỉ tiêu tổng tài<br /> ngân hàng (SHB mua lại Habubank- 2012, sản và chỉ tiêu tín dụng tiếp tục tăng. Tuy<br /> HDBank mua lại Đại Á- 2013, ...) dẫn đến nhiên, chỉ số HHI ở chỉ tiêu huy động vốn<br /> thị phần của các ngân hàng tăng, khiến vẫn tiếp tục giảm nhẹ. Như vậy, sau 3<br /> chỉ số HHI tăng nhẹ, mức độ cạnh tranh thương vụ kể trên, mức độ cạnh tranh ở 2<br /> giảm nhẹ theo thời gian. Tuy nhiên, sau chỉ tiêu tổng tài sản và tín dụng giảm nhẹ,<br /> lần giảm mạnh vào năm 2006 (12,21%) đặc biệt là mức độ cạnh tranh tín dụng đã<br /> và 2007 (giảm 28,32%), mức độ tăng ở không còn ở mức cạnh tranh cao, mà giảm<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 43<br /> Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> Hình 3. Diễn biến chỉ số HHI giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả<br /> <br /> <br /> xuống mức cạnh tranh trung bình (1000 ≤ hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Ngoài<br /> HHI ≤ 1800). ra, giai đoạn 2016- 2017 cũng là giai đoạn<br /> mà các ngân hàng vừa và nhỏ quyết định<br /> Năm 2014, thị trường không có giao mở rộng mạng lưới và dịch vụ của mình.<br /> dịch M&A nào thực sự diễn ra giữa các Nhờ quyết định phát triển mở rộng này mà<br /> NHTM. Vì vậy, có thể nói, khoảng thời thị trường có xu hướng cạnh tranh hơn.<br /> gian 2014 này chính là thời gian mà các<br /> ảnh hưởng của M&A trở nên rõ ràng hơn. Như vậy, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng:<br /> Từ Hình 3, chỉ số HHI ở tất cả các chỉ tiêu sau mỗi vụ M&A, chỉ số HHI đều tăng do<br /> đều bắt đầu tăng dần (so với năm 2012). thương vụ M&A nào cũng ảnh hưởng đến<br /> số lượng ngân hàng (giảm), khiến thị phần<br /> Sang đến năm 2015, thị trường ngân hàng của ngân hàng sau sáp nhập tăng, chỉ số<br /> tiếp tục có thêm 3 thương vụ M&A khác: HHI tăng.<br /> NHTMCP Phát triển Nhà đồng bằng sông<br /> Cửu Long (MHB) sáp nhập vào BIDV, 3.2. Mức độ cạnh tranh dựa trên chỉ số<br /> NHTMCP Phương Nam (Southern Bank) CR3<br /> sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn Thương<br /> Tín (Sacombank) và NHTMCP Phát triển Để có cái nhìn chắc chắn hơn về mức<br /> Mê Kông (MDB) sáp nhập vào NHTMCP độ cạnh tranh các NHTM qua các năm,<br /> Hàng hải Việt Nam (MSB). Sau những nhóm tiến hành nghiên cứu thêm chỉ số<br /> thương vụ này chỉ số HHI ở cả 3 chỉ tiêu CR3 đối với ba NHTM Việt Nam có thị<br /> vẫn tiếp tục tăng, mức độ cạnh tranh giảm. phần lớn nhất là BIDV, Vietinbank và<br /> Vietcombank. Diễn biến chỉ số CR3 qua<br /> Đến năm 2017, tốc độ tăng ở cả 3 chỉ tiêu 13 năm có sự tương đồng so với diễn biến<br /> đều có phần chững lại. Lý do là vì năm chỉ số HHI. Đồ thị của chỉ số CR3 cũng<br /> 2015 là năm cuối cùng thực hiện Đề án cho thấy một sự sụt giảm liên tục trong<br /> 254, vì vậy từ đầu năm, NHNN đã chỉ đạo giai đoạn 2005- 2010 và bắt đầu ổn định<br /> xử lý và triển khai mạnh mẽ, có hướng hơn trong giai đoạn 2011- 2017 (Hình 4).<br /> giải quyết, phương án và giải pháp tái cơ<br /> cấu, xử lý nợ xấu để đến cuối năm cơ bản Nhìn vào Hình 4, ở giai đoạn 2005- 2010,<br /> <br /> <br /> 44 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> Hình 4. Diễn biến chỉ số CR3 giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả<br /> <br /> <br /> chỉ số CR3 giảm mạnh từ mức tập trung này là vì 2011 là năm đầu tiên diễn ra hoạt<br /> cao xuống thị trường có mức tập trung động M&A trong phạm vi ngành ngân<br /> trung bình. Ở giai đoạn này, hệ thống hàng nên các chỉ số đều biến động rõ rệt.<br /> NHTM có sự phát triển cả về quy mô và Tuy nhiên, tại thời điểm sáp nhập, ngân<br /> chất lượng tín dụng. Vì vậy, mức độ cạnh hàng mới có thể có sự gia tăng rõ rệt về số<br /> tranh tăng mạnh do sự phát triển của các lượng khách hàng, nhưng hoạt động kinh<br /> ngân hàng vừa và nhỏ khác, “đập tan” thế doanh của ngân hàng lại chủ yếu dựa vào<br /> độc quyền của 3 ngân hàng có thị phần uy tín và niềm tin, nên rất nhạy cảm với<br /> lớn nhất ở cả 3 tiêu chí (BIDV, VCB, mọi biến động trên thị trường. Có khách<br /> Vietinbank). hàng sẽ tin tưởng quy mô, chất lượng của<br /> ngân hàng, nhưng cũng có khách hàng<br /> Sau hai thương vụ M&A của NHTMCP sẽ hoài nghi về chất lượng, hiệu quả hoạt<br /> Đệ Nhất (Ficombank), NHTMCP Việt động của ngân hàng mới. Điều này có thể<br /> Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và dẫn đến sự sụt giảm số lượng của cả khách<br /> NHTMCP Sài Gòn (SCB); NHTMCP Bưu hàng hiện hữu và khách hàng tiềm năng<br /> điện Liên Việt sáp nhập với VNPT năm các ngân hàng mới, trong khi đây lại chính<br /> 2011, tổng tài sản, tín dụng và huy động là ưu thế của các ngân hàng lớn. Hơn nữa,<br /> vốn của NHTMCP Sài Gòn và NHTMCP trong năm 2012, thị trường ngân hàng chỉ<br /> Bưu điện Liên Việt tăng mạnh, nguồn có một vụ M&A của NHTMCP Nhà Hà<br /> huy động vốn của NH ổn định và dồi dào. Nội (Habubank) vào SHB. Kết quả là, sau<br /> Điều này giúp LienVietBank tăng được sự khi tăng vọt trở lại vào năm 2012, chỉ số<br /> cạnh tranh so với ngân hàng khác. Từ đó, CR3 bắt đầu ổn định với mức tăng trung<br /> thị phần của top 3 ngân hàng bị ảnh hưởng bình 3% một năm.<br /> (giảm), chỉ số CR3 trong năm 2011 giảm<br /> hẳn xuống mức < 65%. Sang đến năm 2013, thị trường ngân hàng<br /> có 3 vụ M&A: NHTMCP Phương Tây<br /> Về chỉ tiêu tổng tài sản, sau khi chạm đáy hợp nhất với Công ty tài chính dầu khí VN<br /> năm 2011, chỉ số CR3 tăng 12% vào năm thành NHTMCP Đại Chúng Việt Nam,<br /> 2012. Nguyên do của sự tăng bất thường NHTMCP Đại Á và Công ty tài chính Việt<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 45<br /> Mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam sau sáp nhập giai đoạn 2005- 2017<br /> <br /> <br /> Societe Generale- SGVF sáp nhập vào Như vậy, mặc dù mức độ tập trung tăng,<br /> HDBank, NHTMCP Đại Tín và Tập đoàn mức độ cạnh tranh giảm so với thời kỳ<br /> Thiên Thanh hợp tác thành lập NH Xây trước, nhưng về tổng quan, mức độ tập<br /> dựng (CB). Kết quả là, sau khi tăng vọt trở trung này vẫn dưới 65%, cho thấy thị<br /> lại vào năm 2012, chỉ số CR3 tổng tài sản trường đang cạnh tranh ở mức tương đối,<br /> bắt đầu ổn định với mức tăng trung bình với mức độ tập trung trung bình.<br /> 3% một năm. Đối với lĩnh vực tín dụng,<br /> chỉ số CR3 còn thay đổi bất thường khi 4. Kết luận<br /> chỉ số này chạm đáy vào năm 2012, rồi<br /> lại tăng lên vào năm 2013, và giảm xuống Thông qua việc phân tích diễn biến 2<br /> vào năm 2014. Về phần huy động vốn, chỉ chỉ số HHI và CR3 để đánh giá mức độ<br /> số CR3 trong giai đoạn này vẫn tiếp tục tập trung và mức độ cạnh tranh trên thị<br /> giảm nhẹ từ 1- 2% vào năm 2012 và 2013. trường, bài viết tìm thấy bằng chứng chỉ ra<br /> rằng hoạt động M&A có xu hướng khiến<br /> Năm 2015 thị trường có 3 vụ M&A: mức độ cạnh tranh của các NHTM tại Việt<br /> NHTMCP Phát triển Nhà đồng bằng sông Nam giảm trong giai đoạn 2005- 2017,<br /> Cửu Long (MHB) sáp nhập vào NHTMCP nhưng vẫn trong mức chấp nhận được.<br /> Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Dù vậy, cạnh tranh giảm đồng nghĩa với<br /> NHTMCP Phương Nam (Southern Bank) giá cả của các dịch vụ, sản phẩm trên thị<br /> sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn Thương trường có thể diễn biến theo chiều hướng<br /> Tín (Sacombank) và NHTMCP Phát triển bất lợi cho người tiêu dùng và về mặt hiệu<br /> Mê Kông (MDB) sáp nhập vào NHTMCP quả kinh tế, độ thỏa dụng của thị trường<br /> Hàng hải Việt Nam (Maritime Bank). Sau sẽ giảm theo. Nhóm nghiên cứu cho rằng,<br /> những thương vụ này, chỉ số CR3 ở cả ba các cơ quan quản lý, đặc biệt là NHNN và<br /> chỉ tiêu đều có xu hướng tăng dần. Bộ Công thương cần tăng cường thanh tra<br /> giám sát, kiểm soát hoạt động M&A đảm<br /> Lí giải cho sự tăng dần này là vì, theo mục bảo hệ thống ngân hàng Việt Nam phát<br /> tiêu của Đề án 254 thì số lượng ngân hàng triển lành mạnh, an toàn đúng định hướng.<br /> sẽ giảm xuống, bù lại, nguồn vốn được tập Mặc dù vẫn còn trong giới hạn chấp nhận<br /> trung hơn và ngân hàng sẽ có cơ hội phát được về tập trung kinh tế, nhưng nếu các<br /> triển mạnh hơn. Hơn nữa, giai đoạn 2013- thương vụ M&A làm giảm số lượng ngân<br /> 2017, nhóm các ngân hàng lớn vẫn tiếp hàng vẫn tiếp tục, thì mức độ cạnh tranh<br /> tục phát triển, hoạt động 9 ngân hàng mới sẽ giảm, làm giảm tương ứng hiệu quả của<br /> sau sáp nhập cũng đã dần đi vào quỹ đạo nền kinh tế nói chung ■<br /> và kết quả là sự tăng đều trở lại của chỉ số<br /> CR3 qua các năm.<br /> <br /> Tài liệu tham khảo<br /> 1. Hannan, T. H. (1997). Market share inequality, the number of competitors, and the HHI: An examination of bank<br /> pricing, Review of Industrial Organization, 12(1), 23-35.<br /> 2. Hoang Thi Thanh Hang, Phan Dien Vy, Jay Bandaralage (2016), Mergers, Acquisitions and Market Concentration<br /> in the Banking Sector: The Case of Vietnam, Asian Journal of Economics and Empirical Research, 3(1), 49 -58.<br /> 3. Huỳnh Thị Hương Thảo (2009), Hoạt động sáp nhập và mua lại ngân hàng, Tạp chí Khoa học & Ứng dụng, 10,<br /> 39- 41.<br /> 4. Le Hai Trung (2014), Market concentration and competition in Vietnamese banking sector.<br /> <br /> <br /> <br /> 46 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019<br /> LƯƠNG MINH HÀ - TÔ PHƯƠNG NGỌC - NGUYỄN BÍCH NGỌC - NGUYỄN THỊ MINH TÂM - LÊ VŨ THU TRANG<br /> <br /> <br /> 5. Lương Minh Hà, Nguyễn Minh Chi, Ngô Trần Vân Khanh (2018), Đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp sau<br /> mua bán sáp nhập tại Việt Nam 2005-2016, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, 192, 49 -56.<br /> 6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Báo cáo thường niên các năm từ 2005 đến 2017.<br /> 7. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010), Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010.<br /> 8. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Dự thảo định hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống ngân hàng Việt Nam<br /> giai đoạn 2011- 2015.<br /> 9. Nguyễn Thế Bính (2015), Tập trung thị trường trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, Tạp chí Phát triển & Hội<br /> nhập, 26(36), 33 – 37.<br /> 10. Nguyễn Ngọc Lý, Trần Văn Quyết, Dương Thanh Tình (2013), Mua bán và sáp nhập (M&A) ngân hàng tại Việt<br /> Nam- những vấn đề đặt ra từ thương vụ sáp nhập ngân hàng TMCP Sài Gòn- Đệ Nhất- Tín Nghĩa, Tạp chí Khoa học &<br /> Công nghệ, 105(05), 137 – 143.<br /> 11. Nguyễn Thị Kim Nhung (2017), Hoạt động tín dụng ngân hàng thực hiện theo đúng định hướng điều hành của<br /> Ngân hàng Nhà nước, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, 5, 16 – 19.<br /> 12. Nguyễn Trọng Tài (2008), Cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn tại Việt<br /> Nam, Tạp chí Ngân hàng, 3.<br /> 13. Nguyễn Xuân Thành (2006), Bản thảo: Ngân hàng thương mại Việt Nam: Từ những thay đổi về luật và chính sách<br /> giai đoạn 2006-2010 đến các sự kiện tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015, Chương trình giảng dạy Kinh tế Fullbright TP.<br /> HCM.<br /> 14. Nguyễn Hồng Yến, Vũ Thị Kim Thanh (2017), Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của các ngân hàng<br /> thương mại, Tạp chí Công thương.<br /> 15. Ngô Đức Huyền Ngân (2009), Sáp nhập và mua lại Ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Kinh tế,<br /> Trường Đại học kinh tế TP. HCM.<br /> 16. Phan Ánh Hè (2018), M&A – Công cụ hữu hiệu cơ cấu lại doanh nghiệp để nâng cao khả năng cạnh tranh của<br /> doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia CPTPP, Tạp chí Công thương.<br /> 17. Phan Quan Viet (2014), Some Recommendations of M&A Activity in Vietnam Today, Macrothink Institute.<br /> 18. Shipra Jindal (2008), A study on Mergers & Acquisition in Banking industry - A global phenomenon.<br /> 19. Tô Ngọc Hưng (2013), Tăng trưởng tín dụng năm 2012 và một số khuyến nghị chính sách cho năm 2013, Tạp chí<br /> Ngân hàng, 4, 26 – 22.<br /> 20. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 254/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án “Cơ cấu lại<br /> hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”.<br /> 21. Vuong Quan Hoang, Tran Tri Dung và Nguyen Thi Chau Ha (2009), Mergers and Acquisitions in Vietnam’s<br /> Emerging Market Economy, 1990-2009, Université Libre de Bruxelles - Solvay Brussels School of Economics and<br /> Management Centre Emile Bernheim.<br /> 22. Vương Thị Minh Đức (2018), Hoạt động mua bán và sáp nhập các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, Luận án<br /> Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Ngân hàng.<br /> 23. Wesman, L. D. (2005). Assessing market power: The trade-off between market concentration and multi-<br /> participation. Journal of Competition Law & Economics, 1(2), 339-354.<br /> <br /> <br /> tiếp theo trang 33<br /> nghiên cứu này chưa tách biệt hai nhóm để Thứ ba, về mặt thống kê, cỡ mẫu nghiên<br /> phân tích, do đó chưa thấy được sự khác cứu đã đảm bảo tính đại diện nhưng so với<br /> biệt trong quyết định của hai đối tượng thực tế vẫn còn khá bé, dẫn đến kết quả<br /> này. mô hình nghiên cứu có thể bị thiên lệch.<br /> Vấn đề này đã gợi ra một hướng nghiên<br /> Thứ hai, số liệu sử dụng phân tích là dữ cứu trong tương lai với cỡ mẫu lớn hơn,<br /> liệu thứ cấp, do đó chưa lượng hóa đầy kỳ vọng sẽ giải quyết những hạn chế trên<br /> đủ các biến thuộc về nhân khẩu học của một cách thấu đáo, đầy đủ và hoàn thiện<br /> người mua. Mặt khác, quan hệ kinh tế đa hơn. ■<br /> dạng và phức tạp, do đó những biến trong<br /> mô hình chưa thể bao quát hết những tình<br /> huống thực tế dẫn đến mô hình giải thích<br /> chưa cao.<br /> <br /> <br /> Số 207- Tháng 8. 2019- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 47<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2