Muỗi và DDT
Trong cuộc chiến đấu trường k giữa người và mui, DDT (dichloro -
diphenyl trichloroethane: C14 H9 Cl5) tuy hiện nay không còn được dùng,
nhưng bản tráng ca oanh liệt một thi của nó vẫn còn đọng lại trongm t
nhiều người, nhất là gii Nobel long trọng đã dành cho DDT vào năm 1948.
Mui: Công thần hay tội phạm?
Thực ra, ging muỗi đa số không hút máu người, sống bằng phn và mật
hoa, là ngun thực phẩm cho nhiu sinh vật khác, nếu thiếu chúng, nhiều
loi chim t ăn n trùng schết, tai họa này n lớn n nhiều so với
điều tệ hi do loài muỗi gây ra. Người đầu tiên lên án muỗi là nhà bác học
Anh: Patrick Manson. Vào năm 1878, ông đã chứng minh ging muỗi Culex
quinquefasciatus truyn bệnh giun chỉ - căn bệnh làm cho t chi và hạch
trong người b sưng phồng n, đôi khi gây ra chứng phù chân voi. m
1897, Manson xác định một số giống muỗi anophèle thtruyền bệnh sốt
rét. m 1900, các nhà khoa học lại phát hiện giống muỗi Aedes aegypti là
tác nhân ca bệnh sốt vàng da và loi muỗi vn này còn truyn virut Dengue
gây bnh sốt xuất huyết. Số người chết hằng m do muỗi đốt truyền bệnh
cũng khá ln, chỉ riêng bệnh sốt rét, hàng m đã làm 3 triu người tử vong
DDT: Thời oanh và liệt
Nhà hóa sinh học Thụy Sĩ: Paul Muller (1899-1965) người phát minh ra
thuốc DDT o năm 1938. Đây một loại thuốc trừ sâu, từng tỏ ra đch
trong việc thanh toán các loại n trùng có hại cho nông nghip. Hồi chiến
tranh thế giới lần thứ 2 (1939-1945), lính chiến đấu ở Bắc Phi đã dùng DDT
để khmột số bọ typhus (nên đã tránh được bệnh thương hàn) trong việc
diệt chấy rận. Sau đó DDT được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dùng để diệt
mui Nam Âu, Bắc Phi và châu Á, mang lại hiệu qucao. Sản xuất DDT
giá thành rẻ,c dụng tốt, kéo dài ti 6 tháng trong khi những loại thuốc diệt
côn trùng khác chdọa muỗi có vài ngày. Muỗi chết như ng rạ mà DDT li
được coi là hi. Điu này, m 1948 đã mang li giải Nobel cho Paul
Muller và lúc đó mọi người đều phấn khởi vì đã loại thuốc k diu chống
li muỗi. m 1955, WHO phát động phong trào tổng tấn ng sốt rét, tc
đẩy việc sản xuất DDT tại nhiều nước, coi DDT y đũa thn chống li
bệnh sốt rét. Kết quả, Đài Loan,Jamaica sau này thêm 35 quốc gia khác,
bệnh sốt t dường như b đẩy lùi, hy vọng thanh toán bệnh y (!). Nhưng
chmột thi gian sau, muỗi “quen” DDT, trong 60 loài muỗi truyền bệnh sốt
rét thì ít nht đã 51 li khinh nhờn. Đã xuất hiện loài “siêu anophèle” đề
kháng cao vi DDT. Tại Bbin Ngà, 100% loại muỗi mang ký sinh trùng
sốt rét tỏ ra coi thường DDT, chúng vẫn bình yên s trước cảnh phun
DDT ạt.
m 1962, nhà nghiên cứu Rachel Carson tuyên bDDT tàn pmôi sinh
làm hi động vật, trong đó con người, kng phải là nhỏ. Không kể
DDT tàn sát nhiu loại động vật ăn n trùng bất ngờ n là DDT
thành phn cấu trúc tương đối ổn định. Khi b phân gii trong môi trường t
nhiên, trong nước bin tồn tại 20 m còn trong đất cát thì không biết u
đến chừng nào DDT mới b phá hủy hoàn toàn. DDT thâm nhập vào thể
nhiều sinh vật, hòa tan trong mvàngụ lâu trong cơ thể sống. Bò gặm c
nhim DDT s đem đến cho người ăn thịt này một lớp mỡ độc. tình,
DDT đã mặt trong y chuyền thực phm, làm ô nhim một cách âm
thm, tệ hại. Khi nồng độ DDT trong sinh vật với lượng đáng kể, thể
gây chết hoặc làm mất kh năng sinh sản. Với người, tác hại ca DDT trầm
trọng, phá hủy các nội tiết tố gii tính, gây các bệnh về gan và thần kinh.
m 2001, Hội nghị Stockholm v thuốc và hóa chất trừ u đã xếp DDT
vào danhch 20 hóa chất nguy him.
Hậu DDT: Vô kế kh thi (!)
Sau khi cm DDT, các nhà khoa học tìm mọi loại hóa chất khác để thay thế.
Rất tiếc, trong thập niên 1980, trong 4.000 loại hóa chất mi tìm ra, đem ứng
dụng chỉ xấp xỉ 10 loại tác dụng ít nhiu với muỗi. Trong việc chng
giặc muỗi”, con người đưa ra 3 phương pháp chính dùng chất hóa học: hiệu
quthấp; m thay đổi môi trường sống của mui như: thoát nước, làm khô
đất, phá rừng y nhưng hại nhiều n li và cui cùng sinh học: làm mui
anophèle đực bất lực, thtrực khuẩn độc vào nơi cung quăng, dùng nấm
độc để diệt cung quăng... Nghe thì hay, nhưng kết qurất khiêm nhường. Đã
từng dự án triển khai một loài mui anophèle biến đổi gen để chúng có
thkìm giký sinh trùng sốt rét bên trong ddày mui không đi theo
tuyến nước bọt khi muỗi đốt ngưi, nhm m gián đoạn quá trình truyn
bệnh. Tất cả chỉ là thuyết, vì cn 10 con muỗi biến đổi gen trên 1 con
mui hoang dã mi thể m thay đi tập tính ca muỗi. Với hàng t tỷ
con anophèle hin nay, cần biết bao nhiêu mui biến đổi gen, chưa kể có tới
60 loài anophèle truyền bệnh sốt rét và liệu sau này loại muỗi mới tạo ra s
tác động đến loài người như thế nào, i học DDT đang rất còn sng động,
cần được rút kinh nghiệm