intTypePromotion=3

Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho người dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế - Trần Hữu Tuấn

Chia sẻ: Kinh Kha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
6
lượt xem
1
download

Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho người dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế - Trần Hữu Tuấn

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của người dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu tiến hành điều tra hộ gia đình ở 3 xã đại diện cho các xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế gồm Vinh Hải (huyện Phú Lộc), Hải Dương (huyện Hương Trà) và Quảng Ngạn (huyện Quảng Điền).

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu cho người dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế - Trần Hữu Tuấn

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72B, số 3, năm 2012<br /> <br /> NÂNG CAO KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CHO NGƯỜI<br /> DÂN VEN BIỂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ<br /> Trần Hữu Tuấn<br /> Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế<br /> Tóm tắt. Bài viết phân tích khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) của<br /> người dân ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu tiến hành điều tra hộ gia đình<br /> ở 3 xã đại diện cho các xã ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế gồm Vinh Hải (huyện Phú<br /> Lộc), Hải Dương (huyện Hương Trà) và Quảng Ngạn (huyện Quảng Điền). Kết quả<br /> nghiên cứu cho thấy trong những năm qua các địa phương ven biển Thừa Thiên Huế<br /> đã chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai và BĐKH. Kết quả so sánh về tình hình<br /> thiên tai giữa 3 xã cho thấy, Vinh Hải là xã chịu tác động nhiều nhất của bão. Trong<br /> khi đó, Hải Dương và Quảng Ngạn lại thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt hơn.<br /> Các chỉ báo đánh giá khả năng thích ứng với thiên tai và BĐKH của Vinh Hải là<br /> thấp nhất trong 3 xã nghiên cứu. Kết quả điều tra về những biện pháp ứng phó với<br /> thiên tai và BĐKH mà người dân ở 3 xã thực hiện trong thời gian qua cho thấy,<br /> hiện tại họ chỉ tập trung vào các biện pháp tức thời, ngắn hạn, mang tính ứng phó<br /> mà thiếu các biện pháp thích nghi dài hạn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất một<br /> số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH cho người dân vùng<br /> ven biển Thừa Thiên Huế.<br /> <br /> 1. Đặt vấn đề<br /> Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại<br /> trong thế kỷ 21. BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng tới sản xuất đời sống và môi trường<br /> trên toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng gây ngập lụt, và sự gia tăng về<br /> tầng suất và cường độ của các loại thiên tai ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế<br /> xã hội của nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển [1]. Kết quả nghiên cứu<br /> gần đây[2, 3]của các cơ quan quốc tế về BĐKH cho thấy các nước đang phát triển<br /> thường thiếu nguồn lực để thực hiện các giải pháp ứng phó với BĐKH. Cộng đồng dân<br /> cư thường có nhận thức thấp về các nguy cơ và rủi ro của BĐKH. Do vậy, hàng năm các<br /> quốc gia này chịu nhiều thiệt hại do BĐKH.<br /> BĐKH có nguyên nhân chủ yếu từ khí thải nhà kính. Tuy nhiên các thương<br /> lượng quốc tế trong những năm vừa qua đã bị thất bại trong việc đạt được một sự đồng<br /> thuận về việc giảm thiểu khí nhà kính. Hơn nửa, các nhà khoa học cũng đã chỉ ra rằng<br /> ngay cả khi dừng lại việc phát thải khí nhà kính (hướng tiếp cận giảm thiểu) thì BĐKH<br /> vẫn tiếp tục xẩy ra và ảnh hưởng nghiêm trọng đến các nước đang phát triển [2]. Vì thế<br /> 379<br /> <br /> đối với các nước đang phát triển không có lựa chọn nào khác ngoài việc tập trung vào<br /> việc thích ứng với BĐKH (hướng tiếp cận thích nghi).<br /> Nằm ở rốn bão của khu vực Đông Nam Á, Việt Nam được đánh giá là một trong<br /> năm quốc gia chịu tác động lớn nhất của BĐKH và các loại thiên tai liên hàng năm trên<br /> thế giới: bão, lụt, lũ quét, lốc tố, rét đậm rét hại, hạn hán, triều cường… [6]. Hậu quả<br /> của BĐKH ở Việt Nam là rất nghiêm trọng và là một nguy cơ cho mục tiêu xóa đói<br /> giảm nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ, và sự phát triển bền vững<br /> của đất nước [1].<br /> Trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện nhiều nỗ lực để phòng tránh và<br /> giảm nhẹ tác động của BĐKH, nhiều dự án cơ sở hạ tầng được triển khai, một số hoạt<br /> động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về BĐKH cũng được chính quyền<br /> các cấp thực hiện. Tuy nhiên, kết quả đạt được còn khá khiêm tốn mà biểu hiện cụ thể là<br /> tổn thất về người và của hàng năm do thiên tai gây ra cho các địa phương là rất nghiêm<br /> trọng [1, 5]. Để hạn chế một cách thấp nhất các tổn thất do thiên tai gây ra cũng như<br /> giảm thiểu các tác động bất lợi của BĐKH, với một nước đang phát triển như Việt Nam,<br /> không còn con đường nào khác ngoài việc nâng cao nhận thức về BĐKH và nâng cao<br /> năng lực thích ứng với BĐKH cho các bên có liên quan, đặc biệt các cộng đồng dân cư<br /> có nguy cơ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BĐKH.<br /> Các địa phương ven biển Thừa Thiên Huế là vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng<br /> trực tiếp bởi các thiên tai do BĐKH như lụt, bão, hạn hán, triều cường,... Đời sống của<br /> người dân địa phương chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như nông<br /> nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản và rất dễ bị tổn thương bởi các thiên tai do BĐKH<br /> [5]. Xuất phát từ thực tế đó, việc đánh giá khả năng thích ứng và đề xuất các biện pháp<br /> nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH cho các hộ gia đình ở vùng ven biển tỉnh<br /> Thừa Thiên Huế là việc làm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được sử dụng trong bài viết này.<br /> Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng bằng cách thảo luận với các chuyên<br /> gia về những vấn đề liên quan đến BĐKH và ảnh hưởng của BĐKH đến đời sống kinh<br /> tế xã hội của người dân vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, những vấn đề liên quan<br /> đến việc chọn các xã để điều tra hộ gia đình, những thông tin ban đầu về diễn biến của<br /> thiên tai và BĐKH, và khả năng thích ứng với BĐKH của người dân ven biển tỉnh Thừa<br /> Thiên Huế.<br /> Phương pháp nghiên cứu định lượng được vận dụng để phân tích, so sánh số liệu<br /> về số lượng và tần suất của các loại thiên tai, các chỉ báo về khả năng thích ứng với<br /> BĐKH, và các biện pháp ứng phó với thiên tai được các hộ gia đình sử dụng ở các xã<br /> khác nhau.<br /> 380<br /> <br /> Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các các hội nghị, diễn đàn liên quan đến<br /> BĐKH, các tạp chí chuyên ngành, niên giám thống kê, số liệu từ các sở, ban ngành ở<br /> Thừa Thiên Huế và các xã điều tra.<br /> Nguồn số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra hộ gia đình ở địa bàn nghiên cứu.<br /> Trên địa bàn Thừa Thiên Huế, có 5 huyện gồm: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà,<br /> Phú Vang và Phú Lộc có xã thuộc vùng ven biển. Do nguồn kinh phí hạn hẹp đề tài<br /> không thể tiến hành điều tra ở tất cả các xã ven biển, mà chỉ tiến hành điều tra một số xã<br /> mang tính đại diện cho toàn vùng. Dựa trên kết quả thảo luận nhóm các chuyên gia cấp<br /> tỉnh gồm đại diện đến từ các sở, ban ngành liên quan… đề tài chọn 3 xã đại diện cho các<br /> địa phương ven biển ở Thừa Thiên Huế để điều tra gồm: Phong Hải (huyện Phú Lộc),<br /> Hải Dương (huyện Hương Trà), và Quảng Ngạn ( huyện Quảng Điền). Đây là các xã có<br /> phần đông người dân có sinh kế phụ thuộc biển, đồng thời là các xã được đánh giá là dễ<br /> bị tổn thương do BĐKH nhất trong các xã ven biển ở Thừa Thiên Huế. Ở mỗi xã 70 hộ<br /> được chọn ngẫu nhiên để điều tra sử dụng bảng hỏi đã được chuẩn bị trước.<br /> 3. Kết quả nghiên cứu<br /> 3.1 Tình hình thiên tai ở các xã điều tra<br /> Kết quả điều tra cho thấy, có 194 số mẫu hợp lệ trong tổng số 210 mẫu điều tra<br /> (đạt tỷ lệ 92%). Có 64% người trả lời là nam giới, độ tuổi trung bình của người trả lời<br /> khoảng 52 tuổi, số năm đến trường của người trả lời là 5,4 năm, và trung bình mỗi hộ có<br /> xấp xỉ 5 thành viên. Nhìn chung, không có sự khác biệt lớn về các đặc điểm của hộ điều<br /> tra giữa 3 xã.<br /> Tình hình thiên tai liên quan đến BĐKH trên địa bàn 3 xã trong 3 năm qua được<br /> thể hiện ở bảng 1.<br /> Bảng 1. Tình hình thiên tai trong 3 năm qua (2008-2010)<br /> <br /> Đơn vị<br /> tính<br /> <br /> Vinh<br /> Hải<br /> <br /> Quảng<br /> Ngạn<br /> <br /> Hải<br /> Dương<br /> <br /> BQC<br /> <br /> Bình quân số cơn bão đã trải qua<br /> <br /> Cơn<br /> <br /> 9,2<br /> <br /> 6,7<br /> <br /> 6,7<br /> <br /> 7,6<br /> <br /> Bình quân số trận lụt đã trải qua<br /> <br /> Trận<br /> <br /> 0,4<br /> <br /> 2,9<br /> <br /> 1,7<br /> <br /> 1,7<br /> <br /> Mức ngập lụt cao nhất trong nhà<br /> <br /> Mét<br /> <br /> 0,8<br /> <br /> 0,7<br /> <br /> 0,4<br /> <br /> 0,6<br /> <br /> Số ngày bị ngập lụt dài nhất<br /> <br /> Ngày<br /> <br /> 3,0<br /> <br /> 4,0<br /> <br /> 2,6<br /> <br /> 3,5<br /> <br /> Bình quân số đợt hạn hán đã trải qua<br /> <br /> Đợt<br /> <br /> 1,3<br /> <br /> 0,8<br /> <br /> 1,3<br /> <br /> 1,1<br /> <br /> Bình quân số lần sạt lở đất<br /> <br /> Lần<br /> <br /> 0,8<br /> <br /> 1,1<br /> <br /> 1,4<br /> <br /> 1,0<br /> <br /> Bình quân số đợt rét đậm, rét hại<br /> <br /> Đợt<br /> <br /> 2,3<br /> <br /> 2,8<br /> <br /> 2,5<br /> <br /> 2,5<br /> <br /> Các đặc điểm<br /> <br /> (Nguồn: số liệu điều tra năm 2011).<br /> 381<br /> <br /> Nhìn chung, người dân ở các xã nghiên cứu trong thời gian qua chịu ảnh hưởng<br /> của rất nhiều loại thiên tai khác nhau như bão, lụt, hạn hán, sạt lở đất, rét đậm,... Trong<br /> gia đoạn 2008-2010, Vinh Hải chịu ảnh hưởng của nhiều đợt bão hơn so với Hải Dương<br /> và Quảng Ngạn. Nguyên nhân của sự khác biệt này là do Vinh Hải có địa hình là một<br /> dãy đất hẹp lồi hẵn ra phía biển đông, với chiều dài bờ biển gần 6 km, nên hằng năm<br /> chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão hơn cả. Trong khi đó, với hai xã Quảng Ngạn và Hải<br /> Dương có một số thôn nằm tiếp giáp với đầm phá nên hàng năm hai xã này chịu ảnh<br /> hưởng của nhiều trận lũ lụt hơn so với Vinh Hải. Không có sự khác biệt đáng kể giữa 3<br /> xã về một số loại hình thiên tai như hạn hán, sạt lở đất và rét đậm, rét hại.<br /> 3.2 Khả năng thích ứng của hộ gia đình đối với thiên tai<br /> Để đánh giá khả năng thích ứng cấp hộ gia đình với thiên tai, người ta có thể sử<br /> dụng phương pháp chỉ số với các nhóm chỉ số như: Nhóm chỉ số cơ sở hạ tầng (mức độ<br /> kiên cố của nhà ở, khoảng cách từ nhà đến các trung tâm y tế; bệnh viện, diện tích đất<br /> sản xuất nông nghiệp bình quân hộ); nhóm chỉ số kinh tế (thu nhập bình quân hộ; tỷ<br /> trọng thu nhập phi nông nghiệp); Nhóm chỉ số công nghệ, kỹ thuật (khả năng tiếp cận<br /> thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng; các loại tài sản mà hộ sở hữu như tivi,<br /> xe máy, tàu thuyền); nhóm chỉ số vốn xã hội (khả năng tiếp cận các nguồn vốn; là thành<br /> viên của các tổ chức, đoàn thể); nhóm chỉ số kiến thức, kỹ năng (tham gia các lớp tập<br /> huấn phòng chóng thiên tai) [4].<br /> Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng một số chỉ số sau: chỉ số cơ sở hạ tầng<br /> (phần trăm nhà kiên cố); chỉ số kinh tế (thu nhập bình quân hộ năm 2010); chỉ số công<br /> nghệ (phần trăm nhà có tivi); chỉ số kỹ thuật (phần trăm nhà có xe máy); chỉ số vốn xã<br /> hội (phần trăm số hộ đã từng vay vốn); chỉ số kiến thức, kỹ năng (phần trăm số hộ đã<br /> qua tập huấn phòng chống thiên tai trong 5 năm qua). Kết quả đo lường các chỉ số này<br /> được thể hiện ở bảng 2.<br /> Bảng 2. Chỉ số khả năng thích ứng của hộ gia đình<br /> <br /> Vinh<br /> Hải<br /> <br /> Quảng<br /> Ngạn<br /> <br /> Hải<br /> Dương<br /> <br /> BQC<br /> <br /> Cơ sở hạ tầng: % nhà kiên cố<br /> <br /> 91,2<br /> <br /> 90,6<br /> <br /> 90,3<br /> <br /> 90,7<br /> <br /> Kinh tế: thu nhập BQ năm 2010 (tr.đ)<br /> <br /> 19,3<br /> <br /> 31,1<br /> <br /> 37,4<br /> <br /> 28,9<br /> <br /> Công nghệ: % hộ tiếp cận thông tin từ tivi<br /> <br /> 92,6<br /> <br /> 100<br /> <br /> 100<br /> <br /> 97,4<br /> <br /> Kỹ thuật: % hộ có xe máy<br /> <br /> 66,2<br /> <br /> 82,8<br /> <br /> 83,9<br /> <br /> 77,3<br /> <br /> Vốn xã hội: % hộ đã từng vay vốn<br /> <br /> 69,1<br /> <br /> 65,6<br /> <br /> 64,5<br /> <br /> 66,5<br /> <br /> Kiến thức, kỹ năng: % hộ đã qua tập huấn<br /> <br /> 27,9<br /> <br /> 31,3<br /> <br /> 37,1<br /> <br /> 32,0<br /> <br /> Các chỉ báo<br /> <br /> (Nguồn: số liệu điều tra năm 2011).<br /> 382<br /> <br /> Kết quả bảng 2 cho thấy, các chỉ số đánh giá khả năng thích ứng của Vinh Hải<br /> như kinh tế, kỹ thuật và kiến thức, kỹ năng là thấp nhất trong 3 xã nghiên cứu; không có<br /> sự khác biệt đáng kể về các chỉ số này giữa hai xã Quảng Ngạn và Hải Dương.<br /> 3.3 Các biện pháp ứng phó với thiên tai được các hộ gia đình thực hiện<br /> Số liệu bảng 3 cho thấy, kết quả điều tra của 3 xã về các biện pháp ứng phó của<br /> hộ gia đình đã thực hiện đối với từng loại thiên tai khác nhau.<br /> Bảng 3. Những biện pháp ứng phó với lụt, bão của các hộ điều tra (ĐVT:%)<br /> <br /> Vinh<br /> Hải<br /> <br /> Quảng<br /> Ngạn<br /> <br /> Hải<br /> Dương<br /> <br /> BQC<br /> <br /> Sữa chữa, kiên cố lại nhà cửa<br /> <br /> 77,9<br /> <br /> 78,1<br /> <br /> 64,5<br /> <br /> 73,3<br /> <br /> Dự trữ thức ăn, uống và nhu yếu phẩm<br /> <br /> 61,8<br /> <br /> 78,1<br /> <br /> 72,6<br /> <br /> 70,6<br /> <br /> Di tản các thành viên đến nơi an toàn<br /> <br /> 32,4<br /> <br /> 43,8<br /> <br /> 38,7<br /> <br /> 38,1<br /> <br /> Cập nhật thông tin cảnh báo thiên tai<br /> <br /> 27,9<br /> <br /> 15,6<br /> <br /> 21,0<br /> <br /> 21,6<br /> <br /> Cắt tỉa cây gần nhà để ngăn cành cây gãy<br /> <br /> 23,5<br /> <br /> 4,7<br /> <br /> 6,5<br /> <br /> 11,9<br /> <br /> Bón phân giữ ấm cho cây trồng<br /> <br /> 73,5<br /> <br /> 40,6<br /> <br /> 64,5<br /> <br /> 59,8<br /> <br /> Dự trữ thức ăn cho vật nuôi trước mùa rét<br /> <br /> 21,5<br /> <br /> 48,4<br /> <br /> 54,8<br /> <br /> 51,5<br /> <br /> Giữ ấm cho người và vật nuôi<br /> <br /> 20,6<br /> <br /> 7,8<br /> <br /> 24,2<br /> <br /> 17,5<br /> <br /> 16,2<br /> <br /> 12,5<br /> <br /> 8,1<br /> <br /> 12,4<br /> <br /> 0<br /> <br /> 6,3<br /> <br /> 14,5<br /> <br /> 6,7<br /> <br /> 7,4<br /> <br /> 1,6<br /> <br /> 1,6<br /> <br /> 3,6<br /> <br /> Trồng cây dọc sông, suối và ven bờ<br /> <br /> 8,8<br /> <br /> 10,9<br /> <br /> 14,5<br /> <br /> 11,3<br /> <br /> Xây dựng, gia cố bờ đê, kè chống sạt lở<br /> <br /> 2,9<br /> <br /> 9,4<br /> <br /> 9,7<br /> <br /> 7,2<br /> <br /> 0<br /> <br /> 1,6<br /> <br /> 1,6<br /> <br /> 1,0<br /> <br /> Các biện pháp ứng phó<br /> Ứng phó với lụt, bão<br /> <br /> Ứng phó với rét đậm, rét hại<br /> <br /> Ứng phó với hạn hán, xâm nhập mặn<br /> Nạo vét kênh mương, lòng hồ<br /> Đầu tư, trang bị máy bơm<br /> Đào giếng, đào hồ lấy nước<br /> Ứng phó với sạt lở đất<br /> <br /> Di dời khỏi vùng có nguy cơ sạt lở<br /> (Nguồn: số liệu điều tra năm 2011).<br /> <br /> Các loại thiên tai khác nhau thì các biện pháp ứng phó mà người dân thực hiện<br /> cũng không giống nhau. Kết quả ở bảng 3 cho thấy, tỷ lệ hộ thực hiện các biện pháp ứng<br /> phó với lụt; bão, rét đậm; rét hại là khá cao, trong khi đó tỷ lệ hộ thực hiện các biện<br /> pháp ứng phó với hạn hán; xâm nhập mặn và sạt lở đất là khá thấp. Điều này phản ánh<br /> một thực tế là các hộ gia đình ven biển Thừa Thiên Huế khá quen thuộc với các loại<br /> 383<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản