intTypePromotion=1
ADSENSE

Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ axít folic huyết tương với đột quỵ nhồi máu não

Chia sẻ: Ni Ni | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

38
lượt xem
0
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá nồng độ axít folic huyết thương và mối liên quan với bệnh nhân (BN) đột quỵ nhồi máu não (NMN). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng, nhóm NMN 78 BN và nhóm chứng 88 người > 40 tuổi, có nồng độ homocystein huyết tương < 15 µmol/l, các yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ tương đương nhau giữa hai nhóm.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ axít folic huyết tương với đột quỵ nhồi máu não

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ®ét quþ-2016<br /> <br /> NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN QUAN GIỮA NỒNG ĐỘ AXÍT FOLIC<br /> HUYẾT TƯƠNG VỚI ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO<br /> Nguyễn Văn Tuấn*<br /> TÓM TẮT<br /> Mục tiêu: đánh giá nồng độ axít folic huyết thương và mối liên quan với bệnh nhân (BN) đột<br /> quỵ nhồi máu não (NMN). Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng, nhóm NMN<br /> 78 BN và nhóm chứng 88 người > 40 tuổi, có nồng độ homocystein huyết tương < 15 µmol/l,<br /> các yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ tương đương nhau giữa hai nhóm. Kết quả: tuổi trung<br /> bình nhóm bệnh 66,1 ± 10,67 tuổi, tỷ lệ đột quỵ não (ĐQN) nam/nữ là 1,48. Nhóm bệnh: nồng<br /> độ axít folic 9,53 ± 5,49 ng/ml thấp hơn nhóm chứng (13,58 ± 5,94 ng/ml), p < 0,0001. Nồng<br /> độ axít folic ở nam (8,53 ± 5,29 ng/ml) thấp hơn nữ (10,96 ± 5,53 ng/ml), p < 0,05; không có sự<br /> khác nhau về nồng độ axít folic theo phân nhóm tuổi. Kết luận: nồng độ axít folic huyết tương<br /> giảm ở BN đột quỵ NMN và không phụ thuộc vào tăng nồng độ homocystein máu.<br /> * Từ khóa: Đột quỵ nhồi máu não; Axít folic; Mối liên quan.<br /> <br /> Evaluate Relationship between Folic Acid Levels in Plasma in<br /> Patients with Ischemic Stroke<br /> Summary<br /> Objectives: To evaluate levels of folic acid in plasma and relationship with cerebral infarction<br /> patients. Subjects and methods: Case-control study, cerebral infarction group had 78 patients<br /> and the control group had 88 adults over 40 age; Plasma homocysteine concentrations < 15<br /> µmol/L and the main risk factors for ischemic stroke were similar between the two groups.<br /> Results: The average age was 66.1 ± 10.67 year, ratio of male/female was 1.48 in the case<br /> group. Folic acid levels were 9.53 ± 5.49 ng/mL, which is lower than the control group (13.58 ±<br /> 5.94 ng/mL) with p < 0.0001. Folic acid levels in male were 8.53 ± 5.29 ng/mL, lower than<br /> females (10.96 ± 5.53 ng/mL) with p < 0.05; no differences in the levels of folic acid were<br /> observed according to age subgroups. Conclusion: Folic acid plasma concentrations decreased<br /> in patients with ischemic stroke that is not dependent on increased levels of blood homocysteine.<br /> * Key words: Ischemic stroke; Folic acid; Relationship.<br /> <br /> ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Axít folic còn có tên khác vitamin B9 và<br /> folate, là một trong 8 vitamin nhóm B. Axít<br /> folic là cơ sở hình thành của nhiều<br /> coenzym. Axít folic được biết đến từ lâu<br /> với vai trò quan trọng ở hệ thần kinh (tạo<br /> <br /> ống thần kinh), phát triển chức năng não,<br /> phát triển cảm xúc và tâm thần. Trên hệ<br /> tạo máu, axít folic rất cần thiết cho tạo<br /> thành tế bào hồng cầu; đồng thời tham<br /> gia tổng hợp axít nucleic (ADN, ARN) tạo<br /> nên gen [1].<br /> <br /> * Bệnh viện Quân y 103<br /> Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Văn Tuấn (bstuanvqy103@yahoo.com)<br /> Ngày nhận bài: 20/08/2016; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 16/09/2016<br /> Ngày bài báo được đăng: 12/10/2016<br /> <br /> 24<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ®ét quþ-2016<br /> Ngoài ra, axít folic còn có tác dụng<br /> quan trọng khác đang được nghiên cứu<br /> nhiều hơn trong thời gian gần đây trên hệ<br /> tim mạch và ĐQN. Homocystein được<br /> xác định là yếu tố nguy cơ (YTNC) của<br /> bệnh tim mạch và ĐQN não [1]. Trong<br /> chu trình chuyển hóa homocystein, vai trò<br /> của axít folic, vitamin B12 và vitamin B6 là<br /> coenzym để xúc tác các enzym tham gia<br /> vào chuỗi phản ứng hóa dáng homocystein<br /> thành cystein hoặc methionin. Nếu thiếu<br /> axít folic có thể làm tăng nguy cơ ĐQN<br /> nói chung và NMN nói riêng, do làm tăng<br /> nồng độ homocystein máu [2]. Hơn nữa,<br /> trong một số nghiên cứu gần đây trên thế<br /> giới còn thấy vai trò của axít folic là một<br /> chất chống oxy hóa, gây tổn thương nội<br /> mạc động mạch, nên làm tăng nguy cơ<br /> xơ vữa động mạch và ĐQN [3, 4].<br /> Như vậy, axít folic máu giảm sẽ gây<br /> tác hại kép là tăng nồng độ homocystein<br /> và làm giảm vai trò của các chất chống<br /> oxy hóa trong cơ thể. Do đó, thúc đẩy quá<br /> trình xơ vữa động mạch tiến triển nhiều<br /> hơn. Axít folic không những là một YTNC<br /> phụ thuộc của tăng nồng độ homocystein<br /> máu, mà có thể là một YTNC cơ độc lập<br /> của bệnh tim mạch và ĐQN. Để làm sáng<br /> tỏ hơn về vấn đề này, cần có nhiều<br /> nghiên cứu sâu rộng hơn. Chúng tôi<br /> bước đầu nghiên cứu đề tài với mục tiêu:<br /> Đánh giá nồng độ axít folic huyết tương<br /> và mối liên quan với đột quỵ ĐQN.<br /> ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP<br /> NGHIÊN CỨU<br /> 1. Đối tượng nghiên cứu.<br /> - Nhóm bệnh: 78 BN lần đầu bị đột quỵ<br /> NMN, mắc bệnh trong 2 tuần đầu; nồng<br /> độ homocystein huyết tương < 15 µmol/l<br /> để loại trừ nguy cơ NMN do tăng nồng độ<br /> homocystein ( ≥ 15 µmol/l), vì đây là một<br /> <br /> YTNC của đột quỵ NMN [5]. Điều trị nội trú<br /> tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ<br /> 8 - 2014 đến 10 - 2015.<br /> * Tiêu chuẩn chọn BN: lâm sàng theo<br /> tiêu chuẩn lâm sàng của Tổ chức Y tế<br /> Thế giới (TCYTTG, 1989). Cận lâm sàng<br /> dựa vào hình ảnh CLVT có hình ảnh NMN.<br /> * Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh lý gây tăng<br /> nồng độ homocystein máu như ung thư,<br /> bệnh vảy nến nặng, suy giáp, suy gan,<br /> ghép tạng, suy thận mạn. Bệnh tim mạch:<br /> nhồi máu cơ tim, thiểu năng động mạch<br /> vành, tắc động mạch ngoại vi, phình bóc<br /> tách động mạch. Các bệnh lý gây đột quỵ<br /> NMN: hẹp van hai lá, bệnh lý tim bẩm sinh.<br /> Đang sử dụng một số thuốc chống động<br /> kinh; chống ung thư; 3 tháng gần đây có<br /> sử dụng axít folic, vitamin B6 và vitamin B12.<br /> - Nhóm chứng: 88 người > 40 tuổi,<br /> khỏe mạnh, hoặc bị tăng huyết áp, đái<br /> tháo đường, nhưng chưa có biến chứng<br /> nhồi máu cơ tim, suy tim và suy thận. BN<br /> điều trị tại Khoa Tim mạch và Khoa Khám<br /> bệnh, Bệnh viện Quân y 103. Xét nghiệm<br /> nồng độ homocystein huyết tương < 15<br /> µmol/l. Tiến hành trong cùng thời gian với<br /> nhóm bệnh, sau khi đã hiệu chỉnh về tuổi,<br /> giới, tăng huyết áp và đái tháo đường.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu.<br /> Nghiên cứu phân tích và mô tả cắt<br /> ngang. Thống kê và phân tích số liệu trên<br /> phần mềm thống kê SPSS. 18.0; Epi.info<br /> 3.2.4 và Epical 2000.<br /> * Phương pháp định lượng nồng độ<br /> axít folic huyết tương: bằng phương pháp<br /> miễn dịch, chạy máy tự động của<br /> Beckman Coulter (Olympus), model<br /> Access 2 (Nhật Bản) tại Khoa Sinh hóa,<br /> Bệnh viện Quân y 103.<br /> Nồng độ axít folic bình thường từ 5,3 14,4 ng/ml.<br /> 25<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ®ét quþ-2016<br /> KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN<br /> 1. Đặc điểm về tuổi và giới.<br /> Bảng 1: Tuổi trung bình và giới tính của hai nhóm nghiên cứu.<br /> Nhóm bệnh<br /> (n = 78)<br /> <br /> Nhóm nghiên cứu<br /> <br /> Cộng<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> <br /> Nam<br /> <br /> 46<br /> <br /> 59,0<br /> <br /> 52<br /> <br /> 59,1<br /> <br /> 98<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> 31<br /> <br /> 41,0<br /> <br /> 36<br /> <br /> 40,9<br /> <br /> 67<br /> <br /> Giới tính, tuổi<br /> <br /> Giới tính<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> (n = 88)<br /> <br /> Tỷ lệ<br /> Tuổi trung bình<br /> <br /> Nam/nữ = 1,48<br /> <br /> Nam/nữ = 1,44<br /> <br /> 66,10 ± 10,67<br /> <br /> 64,67 ± 8,92<br /> <br /> p<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> 1,46<br /> > 0,05<br /> <br /> 66,9 ± 11,44 ; tỷ lệ nam/nữ = 2,2/1. Nguyễn<br /> Minh Hiện và CS (2010) nghiên cứu trên<br /> 1.026 BN đột quỵ NMN, tuổi trung bình<br /> 67,2 ± 12,6 và nhóm tuổi > 50 là chủ yếu<br /> (90,9%); tỷ lệ nam/nữ là 1,31. Như vậy,<br /> tuổi ĐQN thường cao > 60 tuổi, tỷ lệ đột<br /> quỵ NMN ở nam gặp nhiều hơn nữ.<br /> <br /> Tuổi trung bình nhóm bệnh cao hơn<br /> nhóm chứng, nhưng không khác biệt<br /> (p > 0,05). Tỷ lệ ĐQN ở nam cao hơn nữ<br /> (nam/nữ = 1,48); tỷ lệ giới ở nhóm bệnh<br /> và chứng tương đương nhau.<br /> Nguyễn Văn Thông (2010), nghiên cứu<br /> trên 374 BN NMN thấy tuổi trung bình<br /> <br /> 2. Phân bố một số YTNC của nhóm bệnh và nhóm chứng.<br /> Bảng 2: Đặc điểm phân bố một số YTNC của 2 nhóm nghiên cứu.<br /> Một số YTNC chính có thể<br /> thay đổi được<br /> <br /> Nhóm bệnh<br /> (n =78)<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> (n = 88)<br /> <br /> p<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ %<br /> <br /> Tăng huyết áp<br /> <br /> 44<br /> <br /> 56,4<br /> <br /> 50<br /> <br /> 56,8<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Đái tháo đường<br /> <br /> 19<br /> <br /> 24,4<br /> <br /> 22<br /> <br /> 27,3<br /> <br /> > 0,05<br /> <br /> Cholesterol > 5,2 mmol/l<br /> <br /> 31<br /> <br /> 39,2<br /> <br /> 28<br /> <br /> 31,8<br /> <br /> HDL-C ≤ 0,9 mmol/l<br /> <br /> 24<br /> <br /> 30,6<br /> <br /> 31<br /> <br /> 35,4<br /> <br /> Triglycerid > 2,3 mmol/l<br /> <br /> 34<br /> <br /> 43,2<br /> <br /> 37<br /> <br /> 42,9<br /> <br /> LDL-C > 3,9 mmol/l<br /> <br /> 25<br /> <br /> 25,0<br /> <br /> 15<br /> <br /> 16,5<br /> <br /> Nghiện thuốc lá<br /> <br /> 16<br /> <br /> 20,5<br /> <br /> 22<br /> <br /> 25,0<br /> <br /> Nghiện rượu<br /> <br /> 12<br /> <br /> 15,3<br /> <br /> 11<br /> <br /> 12,5<br /> <br /> Thừa cân hoặc béo phì<br /> <br /> 26<br /> <br /> 33,3<br /> <br /> 31<br /> <br /> 35,2<br /> <br /> Nhóm NMN: YTNC hay gặp là tăng<br /> huyết áp, tăng cholesterol, tăng triglycerid,<br /> giảm HDL-C, đái tháo đường, nhưng không<br /> 26<br /> <br /> > 0,05<br /> < 0,05<br /> > 0,05<br /> <br /> khác biệt với nhóm chứng, p > 0,05. Tăng<br /> LDL-C (25,0%) cao hơn nhóm chứng<br /> (16,5%) có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ®ét quþ-2016<br /> Nguyễn Văn Chương (2007) nghiên<br /> cứu trên 1.105 BN ĐQN chung thấy tỷ lệ<br /> tăng huyết áp 51,28%; rối loạn lipid máu<br /> 32,07%; đái tháo đường 16%; tiền sử<br /> ĐQN 10,67%; béo phì 3,33%; uống nhiều<br /> rượu 12,3%; nghiện thuốc lá 11,7%; bệnh<br /> gout 3,7% và Migraine 29,06%. Nguyễn<br /> Văn Thông và CS (2007) nghiên cứu trên<br /> 1.378 BN ĐQN tại Bệnh viện TWQĐ 108,<br /> kết quả cho thấy tăng huyết áp ở nhóm<br /> <br /> NMN 65,3% và nhóm CMN là 60,5%. Ở<br /> nhóm NMN, tỷ lệ đái tháo đường 10,9%;<br /> tăng glucose phản ứng 34,2%; tăng<br /> cholesterol 45,6%; tăng triglycerid 25,8%<br /> và tiền sử đột quỵ 22,5%.<br /> Như vậy, YTNC hay gặp của ĐQN là<br /> tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn<br /> lipid máu, tiền sử ĐQN. Nghiên cứu của<br /> chúng tôi cũng phù hợp với các tác giả<br /> trong và ngoài nước.<br /> <br /> 3. Nồng độ axít folic huyết tương theo nhóm tuổi và giới tính.<br /> Bảng 3: Nồng độ axít folic huyết tương (ng/ml) nhóm nghiên cứu theo tuổi.<br /> Phân nhóm tuổi<br /> <br /> Nhóm bệnh<br /> ( X + 1SD)<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> (n = 78)<br /> 9,53 ± 5,49<br /> <br /> (n = 88)<br /> 13,58 ± 5,94<br /> <br /> p = 0,000<br /> <br /> < 50 tuổi<br /> <br /> (n = 3)<br /> 9,4 ± 10,27<br /> <br /> (n = 3)<br /> 7,41 ± 1,55<br /> <br /> p = 0,756<br /> <br /> 50 - 70 tuổi<br /> <br /> (n = 48)<br /> 8,75 ± 5,11<br /> <br /> (n = 63)<br /> 13,87 ± 5,75<br /> <br /> p = 0,000<br /> <br /> >70 tuổi<br /> <br /> (n = 27)<br /> 10,9 ± 5,55<br /> <br /> (n = 22)<br /> 13,59 ± 6,53<br /> <br /> p = 0,125<br /> <br /> p<br /> <br /> p = 0,229<br /> <br /> p = 0,094<br /> <br /> ( X + 1SD)<br /> <br /> p<br /> <br /> Nồng độ axít folic ở nhóm bệnh (9,53 ± 5,49 ng/ml) thấp hơn nhiều so với nhóm<br /> chứng (13,58 ± 5,94 ng/ml) có ý nghĩa thống kê với p < 0,0001. Theo phân nhóm tuổi,<br /> không có sự khác biệt về nồng độ axít folic ở mỗi nhóm bệnh và nhóm chứng.<br /> Bảng 4: Nồng độ axít folic của các nhóm nghiên cứu theo giới tính.<br /> Giới tính<br /> <br /> Nhóm bệnh<br /> ( X + 1SD)<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> ( X + 1SD)<br /> <br /> p<br /> <br /> Nam<br /> <br /> (n = 46)<br /> 8,53 ± 5,29<br /> <br /> (n = 52)<br /> 13,0 ± 5,73<br /> <br /> p = 0,0001<br /> <br /> Nữ<br /> <br /> (n = 32)<br /> 10,96 ± 5,53<br /> <br /> (n = 36)<br /> 14,41 ± 6,23<br /> <br /> p = 0,019<br /> <br /> p<br /> <br /> p = 0,0264<br /> <br /> p = 0,228<br /> <br /> Ở nhóm bệnh, nồng độ axít folic ở nam (8,53 ± 5,29 ng/ml) thấp hơn nữ (10,96 ±<br /> 5,53 ng/ml) có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Xét theo hai giới, nồng độ axít folic nhóm<br /> bệnh đều thấp hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê, ở nam: p < 0,001 và nữ p < 0,05.<br /> 27<br /> <br /> T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè chuyªn ®Ò ®ét quþ-2016<br /> Bảng 5: Mức nồng độ axít folic huyết tương của hai nhóm.<br /> Mức axít folic<br /> <br /> Nhóm bệnh<br /> <br /> Nhóm chứng<br /> <br /> p<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ%<br /> <br /> n<br /> <br /> Tỷ lệ%<br /> <br /> Giảm (< 5,3 ng/ml)<br /> <br /> 15<br /> <br /> 19,2<br /> <br /> 4<br /> <br /> 4,5<br /> <br /> 0,47<br /> <br /> Bình thường (5,3 - 14,4 ng/ml)<br /> <br /> 53<br /> <br /> 67,9<br /> <br /> 49<br /> <br /> 55,6<br /> <br /> 0,14<br /> <br /> Tăng (> 14,4 ng/ml)<br /> <br /> 10<br /> <br /> 12,9<br /> <br /> 35<br /> <br /> 39,7<br /> <br /> 0,11<br /> <br /> 78<br /> <br /> 100<br /> <br /> 88<br /> <br /> 100<br /> <br /> Tổng<br /> <br /> Ở nhóm bệnh, nồng độ axít folic giảm<br /> (< 5,3 ng/ml) (19,2%) cao hơn nhóm<br /> chứng (4,5%) nhưng chưa có ý nghĩa<br /> thống kê (p > 0,05); nồng độ axít folic<br /> tăng (> 14,4 ng/ml) ở nhóm bệnh (12,9%)<br /> thấp hơn so với nhóm chứng (39,7%)<br /> nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).<br /> Có sự khác nhau là do số lượng tuyệt<br /> đối của giảm và tăng nồng độ axít folic<br /> huyết tương ở nghiên cứu này còn nhỏ.<br /> Theo Moghaddasi và CS (2010), nồng<br /> độ axít folic nhóm ĐQN là 6,8 ± 4,5 ngl/ml,<br /> thấp hơn nhiều so với nhóm chứng<br /> (12,2 ± 3,0 ng/ml) [6]. Nghiên cứu của Bo<br /> Jiang và CS (2014) đánh giá ảnh hưởng<br /> khác nhau của nồng độ hemocystein, axít<br /> folic và vitamin B12 trong suy giảm nhận<br /> thức ở BN ĐQN. Nhóm ĐQN có nồng độ<br /> axít folic 12,61 ± 3,56 ng/ml, thấp hơn<br /> nhóm chứng (16,4 ± 4,91 ng/ml) có ý<br /> nghĩa thống kê với p < 0,001 [7]. Lim<br /> HS và CS (2002) nghiên cứu nồng độ<br /> homocystein, axít folic và vitamin B12<br /> huyết tương trên người trưởng thành Hàn<br /> Quốc. Nồng độ axít folic nam là 6,47 ±<br /> 3,06 ng/ml thấp hơn nữ (7,96 ± 3,55<br /> ng/ml) có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.<br /> Giảm axít folic (< 3,0 ng/ml) gặp ở 6,1%<br /> nam và 2,1% nữ [8]. Yang KL và CS<br /> (2007) nghiên cứu trên BN NMN cho thấy<br /> giảm nồng độ axít folic (< 6 ng/ml) là 68%.<br /> 28<br /> <br /> Như vậy, nồng độ axít folic ở nhóm<br /> bệnh giảm rất rõ rệt so với nhóm chứng,<br /> tuy nhiên tỷ lệ giảm axít folic ở BN NMN<br /> thấp hơn chưa có ý nghĩa so với nhóm<br /> chứng. Cần có nghiên cứu với cỡ mẫu<br /> lớn hơn để xác định liệu giảm axít folic<br /> huyết tương có phải là một YTNC độc lập<br /> của đột quỵ NMN hay không?<br /> KẾT LUẬN<br /> Nghiên cứu 78 BN NMN (nhóm bệnh)<br /> và nhóm chứng 88 người lớn, loại trừ<br /> những trường hợp có tăng nồng độ<br /> homocystein huyết tương (≥ 5 µmol/l), kết<br /> quả cho thấy:<br /> - Nhóm đột quỵ NMN tuổi trung bình<br /> 66,1 ± 10,67; tỷ lệ ở nam/nữ là 1,48.<br /> - Nhóm NMN: YTNC hay gặp là tăng<br /> huyết áp (56,4%), tăng cholesterol (39,2%),<br /> tăng triglycerid (43,2%), giảm HDL-C 30,6%<br /> và đái tháo đường 24,4%.<br /> - Nồng độ axít folic ở nhóm bệnh (9,53<br /> ± 5,49 ng/ml) thấp hơn nhóm chứng<br /> (13,58 ± 5,94 ng/ml) có ý nghĩa thống kê<br /> với p < 0,0001. Nồng độ axít folic ở nam<br /> (8,53 ± 5,29 ng/ml) thấp hơn nữ (10,96 ±<br /> 5,53 ng/ml) có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.<br /> - Tỷ lệ giảm axít folic ở nhóm bệnh<br /> (19,2%) cao hơn nhóm chứng (4,5%),<br /> nhưng chưa có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).<br /> <br />
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2