
v
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
Tên môn học: NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ
Mã môn học: MH 14
Thời gian thực hiện môn học: 45 giờ (Lý thuyết: 15 giờ; Thực hành: 28 giờ; Kiểm
tra: 2 giờ)
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC:
- Vị trí: Nguyên lý thống kê kinh tế nằm trong nhóm kiến thức cơ sở được bố trí giảng
dạy sau khi đã học xong các môn học kinh tế chính trị và kinh tế vi mô.
- Tính chất: Nguyên lý thống kê là môn học bắt buộc, cung cấp những kiến thức cơ
bản về thống kê các hiện tượng kinh tế- xã hội, làm cơ sở cho học sinh nhận thức môn
học và các môn chuyên môn của nghề.
II. MỤC TIÊU MÔN HỌC:
- Kiến thức
+ Trình bày được các vấn đề cơ bản của Thống kê
+ Trình bày được trình tự nghiên cứu thống kê, các phương pháp tính sử dụng trong
thống kê học
+ Trình bày và phân tích được đối tượng nghiên cứu của thống kê
- Kỹ năng:
+ Thu thập được tài liệu về hiện tượng cần nghiên cứu
+ Tổng hợp và dự báo được các hiện tượng kinh tế có thể xảy ra
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm
+ Xác định được đúng mục tiêu của môn học
+ Có thái độ nghiêm túc, cẩn thận và chính xác trong luyện tập
III. NỘI DUNG MÔN HỌC:
Số
TT
Tên chương, mục
Thời gian (giờ)
Tổng
số
Lý
thuyết
Thực
hành
Kiểm
tra
1
Chương 1: Một số vấn đề chung về thống kê
học
1.Sự ra đời và phát triển của thống kê học
2.Đối tượng nghiên cứu của thống kê học
3.Cơ sở lý luận và phương pháp của thống kê
học
4.Nhiệm vụ của thống kê học
5.Một số khái niệm thường dùng trong thống kê học
6. Bảng thống kê và đồ thị thống kê
8
4
4
2
Chương 2: Phân tổ thống kê
1.Khái niệm, ý nghĩa, nhiệm vụ của phân tổ thống
13
4
8
1

vi
kê
2.Tiêu thức phân tổ
3.Xác định số tổ cần thiết
4.Chỉ tiêu giải thích
5.Phân tổ liên hệ
3
Chương 3: Các mức độ của hiện tượng kinh
tế - xã hội
1.Số tuyệt đối trong thống kê
2.Số tương đối trong thống kê
3.Số bình quân trong thống kê
11
3
8
4
Chương 4: Sự biến động của các hiện tượng
kinh tế - xã hội
1.Dãy số thời gian
2.Chỉ số
13
4
8
1
Cộng
45
15
28
2

1
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC
Mã chương: MH 14 -01
Giới thiệu: Trình bày được sự ra đời, phát triển và nhiệm vụ của thống kê học. Xác
định được đối tượng nghiên cứu của thống kê học. Giải thích được cơ sở lý luận và cơ
sở phương pháp luận của thống kê học
Mục tiêu:
- Định nghĩa được một số khái niệm thường dùng trong thống kê học.
- Hệ thống hoá được một số vấn đề chung về thống kê học
- Có ý thức học tập nghiêm túc, tính cẩn thận, chính xác
- Có phương pháp tự học tập, nghiên cứu.
1. Sự ra đời và phát triển của thống kê học
Thống kê học là một môn khoa học xã hội, ra đời và phát triển do nhu cầu hoạt động
thực tiễn xã hội. Trước khi trở thành một môn khoa học độc lập, thổng kê học đã có
một nguồn gốic lịch sử phát triển khá lâu. Đó là cả một quá trình tích luỹ kinh nghiệm
từ giản đơn đến phức tạp, được đúc rút dần thành lý luận khoa học ngày càng hoàn
chỉnh. Thống kê và hạch toán đã xuất hiện trong thời tiến cổ đại, cách kỷ nguyên
chúng ta hàng nghìn năm về trước. Từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ, các chủ nô đã tìm cách
ghi chép, tính toán đế nắm được tài sản của mình (số nô lệ, số súc vật và các tài sản
khác), ở Trung quốc, Cổ Hy Lạp, La Mã, Ai Cập... người ta đã tìm thấy một số di tích
cổ đại chứng tỏ ngay từ thời kỳ này người ta đã biêt ghi chép sô" liệu. Nhưng công
việc ghi chép còn giản đơn, tiến hành trong phạm vi nhỏ hẹp, chưa mang tính thông kê
rõ rệt.
Dưới chế độ phong kiến, công tác thông kê đã phát triển ở hầu hết các quốic gia châu
Á, châu Âu đều đã có tổ chức nhiều việc đăng ký và kê khai với phạm vi rộng, nội
dung phong phú có tính chất thống kê rõ rệt, như; đăng ký nhân khẩu, kê khai ruộng
đất và các tài sản khác... Việc đăng ký kê khai này phục vụ cho việc thu thuế và bắt
lính của giai cấp thống trị. Thống kê tuy đã có tiến bộ nhưng chưa được đúc kết thành
lý luận và chưa trở thành một môn khoa học độc lập.
Cuối thế kỷ XVII, lực lượng sản xuất phát triển mạnh làm cho phương thức sản xuất tư
bản chủ nghĩa ra đòi. Kinh tê hàng hoá phát triển dẫn đến các ngành sản xuất riêng biệt
tăng thêm, phần công lao động xã hội ngày càng phát triển. Tính chất xã hội của xản
xuất ngày càng cao, thị trường được mở rộng không chỉ phạm vi một nước mà mở
rộng ra trên phạm vi toàn thế giới.
Hoạt động kinh tế, xã hội ngày càng phức tạp, các giai cấp xã hội phân hoá nhanh và
đấu tranh giai cấp trở nên gay gắt. Để phục vụ cho các mục đích kinh tế, chính trị và
quân sự, nhà nước tư bản và các chủ tư bản cần rất nhiều thông tin thường xuyên về thị
trường, giá cả, sản xuất, nguyên nhiên vật liệu, lao động, dân sô"... Do đó công tác
thông kê phát triển nhanh chóng. Sự cố gắng tìm hiểu các hiện tượng và quá trình kinh
tê xã hội thông qua các biểu hiện về lượng đòi hỏi những người làm công tác khoa
học, những người làm công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh doanh đi vào nghiên
cứu lý luận và phương pháp thu thập tính toán số liệu thống kê. Các tài liệu sách báo
về thống kê bắt đầu được xuất bản. ở một sô' trường học đã bắt đầu giảng dạy thong
kê. Năm 1660, nhà kinh tê học người Đức Công – rinh (H.conhring, 1606 - 1681) đã
giảng phương pháp nghiên cứu hiện tượng xã hội dựa vào số liệu điều tra cụ thể tại

2
trường dại học Helmstet. Sau đó ít lâu, một số tác phẩm có tính chất phân tích thống
kê đầu tiên ra đòi, như cuốn “sô" học chính trị” xuất bản năm 1682 của Uy-liam Pet-
ty (Uy-li-am Pet-ty 1623 - 1687) một nhà kinh tê học người Anh. Trong cuốn sách này
tác giả đã dung phương pháp độc đáo để nghiên cứu các hiện tượng xã hội qua các con
sô" tổng hợp và so sánh. Các Mác đã mệnh danh cho Uy- li- am Pet-ty là người sáng
lập ra môn thống kê học. Giữa thê kỷ XVIII (năm 1759) một giáo sư đại học người
Đức, A-Khen-Van (G.achenwall 1719 - 1772) lần đầu tiên dùng danh từ “Statistik”
(một thuật ngữ gốc La-tinh “Status”, có nghĩa là nhà nước hoặc trạng thái của hiện
tượng) - sau này người ta dịch là “thống kê” - để chỉ phương pháp nghiên cứu nói trên.
Mác, Ăng-ghen, Lênin đã tiếp tục nghiên cứu, phát triển và có sự đóng góp vô giá vào
sự phát triển lý luận thống kê, phương pháp luận nghiên cứu thống kê và sự vận dụng
thông kê vào việc phân tích kinh tế - xã hội.
Những người sáng lập ra chủ nghĩa Mác-Lênin nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa khoa học
và thực tiễn to lớn của thông kê. Trong các tác phẩm của Mác, Angghen, Lênin thống
kê được diễn tả như một môn khoa học xã hội độc lập, là công cụ của nhận thức xã hội
và cải tạo xã hội.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, thống kê đã phát triển rất nhanh. Từ những năm 60 của thế
kỷ thứ XIX, Đại hội thông kê quốc tế đã mở ra để thảo luận các vấn đề lý luận và thực
tế của thông kê. Cuối thế kỷ XIX, viện thống kê đã được thành lập và tồn tại như một
chỉnh thể. Ngày nay, chức năng thống kê quốc tế được tổ chức Liên hợp quốc tiến
hành. Từ đó đến nay, thông kê càng ngày càng phát triển mạnh mẽ và hoàn thiện hơn
về phương pháp luận, nó thực sự trở thành công cụ để nhân thức xã hội và cải tạo xã
hội.
2. Đối tượng nghiên cứu của thống kê học
Khái niệm thống kê học
Trong công tác thực tê cũng như trong đời sống hàng ngày chúng ta thường gặp thuật
ngữ “Thống kê”. Thuật ngữ này có thế hiểu theo nhiều cách khác nhau:
Thứ nhất: Thống kê là các sô liệu được thu thập để phản ánh các hiện tượng kinh tê -
xã hội và ảnh hưởng tự nhiên, kỹ thuật. Chẳng hạn như: sản lượng các loại sản phẩm
chủ yếu được sản xuất ra trong nền kinh tê trong một năm nào đó, mực nước cao nhất
và thấp nhất của một dòng sông tại một địa điểm nào đó trong năm, hoặc dân số của
một quốc gia vào thời điểm nào đó...
Thứ hai: Thống kê là hệ thông các phướng pháp được sử dụng đế nghiên cứu các hiện
tượng kinh tế - xã hội, và ảnh hưởng của yếu tô' tự nhiên, kỹ thuật tới hiện tượng kinh
tê xã hội. Hoặc, thông kê là việc: Thu thập xử lý sô" liệu, nghiên cứu mối liên hệ giữa
các hiện tượng, phân tích và dự báo các mức độ của hiện tượng trong tương lai và ra
quyết định trong điều hành sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Theo khoản 1, điều 3, chương 1- Luật thống kê chỉ ra: Hoạt động thống kê là điều tra,
báo cáo, tổng hợp, phân tích và cồng bố các thông tin phản ánh bản chất và tính quy
luật của các hiện tượng kinh tế xã hội trong điều kiện thời gian không gian cụ thể do tổ
chức thống kê nhà nước tiến hành. Từ các quan điểm trên, ta cỏ thể đưa ra khái niệm
về thông kê một cách tổng quát như sau: “Thông kê là hệ thông các phương pháp dùng
để thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng sô" lớn để
tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong điều kiện thời
gian và không gian cụ thể”.
Mọi sự vật, hiện tượng đều có hai mặt chất và lượng không tách rời nhau, khi chúng ta
nghiên cứu hiện tượng, điều chúng ta muôn biết đó là bản chất của hiện tượng, nhưng

3
mặt chất còn ẩn bên trong, còn mặt lượng biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các đại
lượng ngẫu nhiên. Do đó phải thông qua các phương pháp xử lý thích hợp trên mặt
lượng của số lớn đơn vị cấu thành hiện tượng, tác động của các yếu tô" ngẫu nhiên
mới được bù trừ và triệt tiêu, bản chất của hiện tượng mới bộc lộ ra và qua đó ta có thể
nhận thức đúng đắn bản chất, quy luật vận động của nó.
Thông kê được chia thành hai lĩnh vực:
+ ThôVig kê mô tả: Bao gồm các phương pháp thu thập sô" liệu, mô tả và trình bày
sô" liệu, tính toán các đặc trưng đo lưòng. Phần thống kê mô tả được trình bày
trong các chương 2, 3, 4, 5.
+ Thống kê suy diễn: Bao gồm các phương pháp như: phân tích mốì liên hệ, dự báo...
trên cơ sở tác thông tin thu thập từ mẫu. Phần thông kê suy diễn được trình bày trong
các chương còn lại.
Đôi tương nghiên cứu của thống kê học
Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của thống kê học, có thể thấy: Thống kê
học là một môn khoa học xã hội, ra đòi và phát triển do nhu cầu của các hoạt động
thực tiễn xã hội. Các hiện tượng mà thống kê học nghiên cứu là các hiện tượng và quá
trình kinh tế - xã hội chủ yếu, bao gồm:
- Các hiện tượng về quá trình sản xuất và tái sản xuất mỏ rộng của cải vật chất xã hội
và sự phân phối theo hình thức sở hữu tài nguyên và sản phẩm xã hội.
- Các hiện tượng về dân số như: số nhân khẩu, cấu thành của nhân khẩu (giai cấp, giới
tính, tuổi tác, nghề nghiệp, dân tộc...), tình hình biến động của nhân khẩu, tình hình
phân bổ" dân cư theo lãnh thổ.
- Các hiện tượng về đòi sông vật chất và văn hoá của nhân dân như: mức sông vật
chất, trình độ văn hoá, sức khoẻ...
- Các hiện tượng về sinh hoạt chính trị - xã hội như: cơ cấu các cơ quan Nhà nước,
đoàn thể, sô" người tham gia tuyển cử, mít tinh...
Thông kê học nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội, không nghiên cứu các hiện
tượng tự nhiên và kỹ thuật. Song, do các hiện tượng kinh tế - xã hội và hiện tượng tự
nhiên kỹ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cho nên trong khi nghiên cứu hiện
tượng kinh tế - xã hội, thông kê không thể không xét tới ảnh hưởng của các yếu tô" tự
nhiên (thời tiết, khí hậu, địa lý) và các yếu tố kỹ thuật (phát minh sáng kiến, cải tiến
công cụ, áp dụng kỹ thuật mới) đối vối sự phát triển của sản xuất và điều kiện sinh
hoạt xã hội. Các hiện tượng kinh tê – xã hội là một bộ phận cấu thành của thê giới vật
chất, chịu sự tác động của nhiều nhân tô", trong đó có yếu tô" tự nhiên và kỹ thuật.
Thu thập và phân tích các số liệu phản ánh ảnh hưởng của tự nhiên và kỹ thuật đôi với
sản xuất, thống kê xuâ't phát từ nhận thức coi kỹ thuật, công cụ lao động là yếu tố
quan trọng của lực lượng sản xuất và sự phát triển của sản xuất luôn bắt đầu từ những
biến đổi của lực lượng sản xuất, mà trước hết là những biến đổi về công cụ lao động.
Mặt khác, sản xuất xã hội cũng có ảnh hưởng nhất định tới điều kiện tự nhiên mà xã
hội tồn tại. Khi nghiên cứu mặt lượng của sản xuất xã hội, thông kê cũng nghiên cứu
sự thay đổi điều kiện tự nhiên mà sản xuất mang lại.
Như vậy, đôi tượng nghiên cứu của thông kê rất rộng, bao gồm cả những hiện tượng
xã hội thuộc lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất, cả những hiộn tượng xã hội
thuộc hạ tầng cơ sở lẫn kiến trúc thượng tầng. Nhưng, khác với các môn khoa học xã
hội khác, thống kê học không trực tiếp nghiên cứu bản chất và quy luật của hiện tượng
xã hội.

