
7
Số
TT
Tên chƣơng, mục
Thời gian (giờ)
Tổng
số
Lý
thuyết
Thực
hành
Kiểm
tra
1
Tổng quan về kiểm toán
Khái niệm kiểm toán
Các chức năng của kiểm toán
Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán
Mục đích và phạm vi của kiểm toán
Các loại kiểm toán
Kiểm toán viên
13
3
10
2
Đối tƣợng và các khái niệm cơ bản sử dụng
trong kiểm toán
Đối tượng kiểm toán
Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ
sơ kiểm toán
Gian lận và sai sót
Trọng yếu và rủi ro
Khái niệm về hoạt động liên tục
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Chuẩn mực kế toán
19
6
12
1
3
Hệ thống các phƣơng pháp kiểm toán
Khái quát hệ thống phương pháp kiểm toán
Phương pháp kiểm toán chứng từ
Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
14
3
10
1
GIÁO TRÌNH MÔN HỌC/ MÔ ĐUN
Tên môn học : KIỂM TOÁN
Mã số môn học: MH 23
Thời gian
môn học: 60 giờ
(Lý thuyết: 15 giờ;
Thực hành: 45 giờ)
I. VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA MÔN HỌC:
-
Vị
trí:
Kiểm
toán
là
một
trong
những
môn
học
chuyên
môn
của
nghề
kế
toán
doanh
nghiệp. Nó có quan hệ mật thiết với các môn học Kế toán, tài chính nên được bố trí
học sau
khi sinh viên đã được học những môn học chuyên môn của nghề.
-
Tính chất:
Kiểm toán là một môn học chuyên môn nghề bắt buộc, nhằm cung cấp những
kiến thức cơ bản về kiểm toán, các khái niệm sử dụng trong kiểm toán, phương pháp
kiểm toán, quy trình
và trình tự kiểm toán, làm nền tảng cho sinh viên nhận thức được
vai trò của kiểm toán trong hoạt động của các đơn vị.
II. MỤC TIÊU MÔN HỌC:
-Kiến thức:
+ Trình bày được những khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán
+ Xác định được các qui trình và trình tự kiểm toán
+ Vận dụng kiến thức của kiểm toán vào kiểm tra công tác kế toán tại doanh nghiệp
-
Kỹ năng:
+
Phân
tích
các
phần
hành
kế
toán,
các
báo
cáo
kế
toán,
thực
hiện
công
tác
kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp
+ Ứng dụng vào công tác kế toán tại
doanh nghiệp
-
Thái độ: Thuân thủ đúng luật kế toán kiểm toán
III. NỘI DUNG MÔN HỌC:
1. Nội dung tổng quát và phân phối thời gian:

8
Kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán
4
Trình tự các bƣớc kiểm toán
Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm
toán
Chuẩn mực kế toán
Thực hành kiểm toán
Kết thúc kiểm toán
14
3
11
Cộng
60
15
43
2

9
CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN
Mã bài: MH23-01
Giới thiệu: Khái quát về Kiểm toán
Mục tiêu:
- Trình bày được những kiến thức tổng quát về kiểm toán gồm: khái niệm,
chức năng, ý nghĩa, mục đích, phân loại trong kiểm toán
- Thực hiện và phân tích được những chức năng và các loại kiểm toán trong qua
trình kiểm toán
- Tuân thủ được những nguyên tắc của kiểm toán: Thật thà, trung thực
Nội dung chính:
I. Khái niệm kiểm toán
1. Các quan điểm về kiểm toán
Quản điểm thứnhất (Quan điểm cổ điển): Đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm tra kế
toán.
- Kiểm tra kế toán: luôn đóng vai trò là chức năng của kế toán và không phải là
một hoạt động độc lập mà nằm ngay trong tất cảcác quá trình hoạt động của kếtoán.
- Kiểm toán là một hoạt động độc lập và là một hoạt động kiểm tra bên ngoài đối
với kế toán.
Từ hai khái niệm trên ta thấy kiểm tra kế toán không thể đồng nhất với kiểm toán, mà
quan điểm này chỉ phát sinh và tồn tại trong các điều kiện:
- Trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển
- Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung: Nhà nước đóng vai trò làm chủ sở hữu, là
người quản lý, là người trực tiếp kiểm tra và kiểm soát.
Kết luận: Không thể đồng nhất giữa kiểm toán với kiểm tra kế toán vì tồn tại hay
không tồn tại của kiểm toán tách biệt với kiểm tra kế toán
Quan điểm thứ hai: Kiểm toán được hiểu theo đúng thời điểm phát sinh trong cơ chế
thị trường.
- Khái niệm theo chuẩn mực của Vương Quốc Anh: Kiểm toán là hoạt động xác minh
và bày tỏ ý kiến về các bảng khai tài chính của các xí nghiệp do các kiểm toán viên
độc lập thực hiện dựa theo luật định.
- Khái niệm của các chuyên giá Mỹ
- Khái niệm Kiểm toán ở Cộng hoà Pháp
Từ những khái niệm trên ta có những luận điểm chung:
- Chức năng của kiểm toán: Gồm hai chức năng cơ bản là chức năng xác minh và
chức năng bày tỏ ý kiến
- Đối tượng của kiểm toán: là các bảng khai tài chính
+ Báo cáo tài chính: là báo cáo về sự vận động TS, NV và kết quả các hoạt
động tài chính, bao gồm: Bảng cân đối kếtoán, báo cáo kết quảkinh doanh, Báo cáo
lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính
+ Bảng khai tài chính khác: Như báo cáo quyết toán ngân sách, báo cáo quyết toán dự
án đầu tư….
- Khách thể kiểm toán: Là các đơn vị, tổchức và các cá nhân tiến hành sản xuất
kinh doanh.
- Chủ thể kiểm toán: Là các kiểm toán viên độc lập
- Cơ sở tiến hành kiểm toán: là các luật kếtoán, luật kiểm toán, chuẩn mực
kếtoán, chuẩn mực kiểm toán.
Quan điểm thứ 3: Quan điểm hiện đại về kiểm toán
Theo quan điểm này kiểm toán bao gồm 4 lĩnh vực

10
- Kiểm toán thông tin: Là hướng tới việc đánh giá tính trung thực, hợp pháp của các
tài liệu, các con số, làm cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ về kinh tế
và tạo niềm tin cho những người quan tâm.
- Kiểm toán quy tắc: Hướng vào việc đánh giá tình hình thực hiện luật pháp của
đơn vị được kiểm tra trong quá trình hoạt động.
- Kiểm toán hiệu quả: là xác minh mối liên hệ giữa chi phí và kết quả giúp hoàn thiện
các chính sách, các giải pháp về hoạt động kinh doanh của đơn vị được kiểm toán.
- Kiểm toán hiệu năng: hướng tới mục tiêu của chương trình, dựán nhằm nâng
cao năng lực quản lý của các đơn vị được kiểm toán.
Kết luận:
- Kiểm toán là hoạt động độc lập với chức năng cơ bản là xác minh và thuyết phục để
tạo niềm tin cho những người quan tâm vào kết luận của kiểm toán.
- Kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm tra, kiểm soát về những vấn đề
liên quan đến thực trạng tài chính và sự phản ánh chúng trên sổ kếtoán cùng hiệu quả
đạt được.
- Nội dung trực tiếp và chủyếu của kiểm toán là: thực trạng hoạt động tài chính đã
được phản ánh trên các bảng khai tài chính một phần và một phần chưa được phản ánh
trong tài liệu kế toán.
- Kiểm toán hình thành một hệthống phương pháp kỹ thuật riêng bao gồm phương
pháp kiểm toán chứng từ và phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ thích hợp với từng
đối tượng kiểm toán.
- Kiểm toán được thực hiện bởi những người có trình độchuyên môn sâu về kế toán và
kiểm toán.
Kết luận chung về kiểm toán:
Kiểm toán là hoạt động xác minh và bày tỏ ý kiến về các hoạt động cần kiểm toán mà
trước hết và chủ yếu là hoạt động tài chính bằng hệ thống các phương pháp kỹ thuật
của kiểm toán chứng từvà kiểm toán ngoài chứng từdo các kiểm toán viên có trình độ
nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệt hống pháp lý có hiệu lực.
2. Khái niệm về kiểm toán
Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp
vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của
một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin
này với các chuẩn mực đã được xây dựng.
II. Các chức năng của kiểm toán
1.Chức năng xác minh
Chức năng này nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính pháp lý của việc
thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập báo cáo tài chính. Đối với báo cáo tài chính, việc
thực hiện chức năng xác minh trước hết được thực hiện ở sự xác nhận của người kiểm
tra độc lập ở bên ngoài. Việc xác minh báo cáo tài chính cần có hai mặt:
- Tính trung thực của các số liệu
- Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.
Trong chức năng này, một vấn đề đặt ra là phát hiện gian lận và vi phạm trong tài
chính.
Trong kiểm toán ở các nước, vấn đề này được đặt ra như những khác biệt về
kỳvọng giữa kiểm toán và quản lý. Do đó các nhà kiểm toán quốc tế thường hướng tới
việc hoàn thiện các chuẩn mực kiểm toán.

11
2.Chức năng bày tỏ ý kiến
Chức năng này có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin
và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh.
Nếu kết luận về chất lượng thông tin có quá trình phát triển lâu dài từ chỗ chỉ có từ xác
nhận đến hình thành báo cáo kiểm toán theo chuẩn mực chung thì kết luận về pháp
lý hoặc tư vấn cũng có quá trình phát triển lâu dài.
Ở khu vực công cộng bao gồm xí nghiệp công, các đơn vị sự nghiệp và cá nhân hưởng
thụ ngân sách nhà nước đều đặt dưới sự kiểm soát của kiểm toán nhà nước.
Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách nhà nước, chức năng bày tỏ ý
kiến được thực hiện qua phương thức tư vấn.
III. Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán
1.Kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho những ngƣời quan tâm
Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm đến đối tượng kiểm toán như các cơ
quan nhà nước, ngân hàng, các nhà đầu tư, các nhà quản lý, người lao động, khách
hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác...
2.Kiểm toán góp phần hƣớng nghiệp vụ
Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế
toán nói riêng và hoạt động của kiểm toán nói chung.
Hoạt động tài chính bao gồm nhiều mối quan hệ về đầu tư, về kinh doanh, về phân
phối, về thanh toán. Tính phức tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt
chẽ giữa các quan hệ tài chính với lơị ích con người. Trong khi đó thông tin kế toán là
sự phản ánh của hoạt động tài chính, là sản phẩm của quá trình xử lý thông tin bằng
phương pháp kỹ thuật rất đặc thù.
3. Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lý
Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Kiểm toán không
chỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn tư vấn vềquản lý.
Trong điều kiện mới chuyển đổi cơ chế kinh tế, hệ thống pháp lý chưa hoàn
chỉnh...việc duy trì kỷ cương và đảm bảo phát triển đúng hướng chỉ có được trên cơ sở
xây dựng đồng bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực.
Ý nghĩa lớn nhất của kiểm toán là quan toà công minh của quá khứ, người dẫn dắt hiện
tại và người cố vấn sáng suốt cho tương lai.
IV. Mục đích và phạm vi của kiểm toán
1.Mục đích của kiểm toán
- Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán cho
mỗi cuộc kiểm toán cụ thể. Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt với mục tiêu,
yêu cầu của quản lý. Vì vậy, trước hết mục tiêu của kiểm toán phải tuỳ thuộc vào quan
hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán, tuỳ thuộc vào loại hình kiểm toán.
- Quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán biểu hiện trước hết ở bộ máy kiểm
toán (chủ thể kiểm toán): Kiểm toán Nhà nước, kiểm toán độc lập hay kiểm toán nội
bộ. Mỗi bộ máy có lĩnh vực và phạm vi hoạt động khác nhau, yêu cầu pháp lý khác
nhau nên mục tiêu kiểm toán không thể trùng hợp cho dù cùng thực hiện.
2. Phạm vi kiểm toán
Kiểm tra xác nhận tính trung thực, hợp lý của các số liệu được trình bày trên Báo cáo
tài chính của Công ty, Báo cáo kế toán quản trị. Nêu lên những điểm hạn chế trong hệ
thống quản lý và kiểm soát của Công ty trong các năm qua và đưa ra những khuyến
nghị nhằm khắc phục những điểm hạn chế đó.

