intTypePromotion=1
ADSENSE

Những tác động của AFTA với nền kinh tế ASEAN và Việt Nam

Chia sẻ: Bùi Huệ | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:9

116
lượt xem
9
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tài liệu cung cấp các thông tin về tác động của AFTA đối với các nước ASEAN, tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam, đầu tư từ các nước ASEAN khác, đầu tư nước ngoài từ các nước khác, ngân sách nhà nước... Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu để nắm rõ hơn nội dung.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Những tác động của AFTA với nền kinh tế ASEAN và Việt Nam

  1. Những tác động của AFTA với nền kinh tế ASEAN và Việt Nam. I) Đối với các nước ASEAN Một nghiên cứu do nhóm chuyên gia được ủy ban thường trực ASEAN bổ nhiệm tiến   hành đã chỉ ra rằng thậm chí nếu không có AFTA thì 50% số lượng thuế ưu đãi trong nội bộ  ASEAN cũng sẽ  làm lợi rất nhiều cho tất cả  các thành viên ASEAN. Nhưng dù sao thì mọi  thành quả và các ảnh hưởng tích cực sẽ tăng nhiều hơn khi tham gia vào chế độ AFTA­CEPT.   Xuất nhập khẩu trong nội bộ  ASEAN tăng rất nhanh và sự  tăng trưởng trong buôn bán sẽ  được phân phối đồng đều. Theo như  nghiên cứu này thì mức tăng trưởng nhập khẩu trong nội bộ  ASEAN tăng  khoảng từ  40% (đối với Malaysia) đến 70% (đối với Thái Lan). Nhập khẩu của Singapore   tăng mạnh bởi vì Singapore đã có mức thuế ban đầu gần như  là 0%. Trong khi đó một tỷ  lệ  đáng kể  trong mức tăng trưởng này sẽ  là từ  việc buôn bán với các nước không thuộc khối  ASEAN và một tỷ lệ lớn hơn sẽ xuất phát từ việc buôn bán do AFTA tạo ra. Tổng số lượng xuất khẩu của ASEAN tăng khoảng từ  1,5% (đối với Singapore) đến  5% (đối với Thái Lan) và tăng ít hơn đối với các nước thành viên khác, do khu vực tự do hóa   mậu dịch tạo ra. Không giống như  trường hợp nhập khẩu, mức tăng xuất khẩu sẽ không có  hại cho việc xuất khẩu sang các nước khác trên thế  giới. Nói cách khác, các thành viên   ASEAN sẽ tiếp tục xuất khẩu thêm nhiều sản phẩm sang EC, Mỹ, Nhật và các nước NICs. Hơn nữa, một khu vực thương mại phát triển sẽ có ảnh hưởng tích cực tới việc phân  bổ  các hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp giữa các nước thành viên ASEAN. Nhưng sẽ  không có một nước nào bá chủ khu vực. Bản báo cáo đã chỉ ra những ảnh hưởng có khả năng   xảy ra đối với mỗi nước thành viên ASEAN như sau: Indonesia : Sự  tăng trưởng sản xuất toàn diện đáng kể  nhất diễn ra trong các ngành  cần nhiều đến sức lao động và tài nguyên như  ngành dệt, các sản phẩm gỗ, giấy và  các sản phẩm chế  tạo khác. Các ngành hàng suy giảm sẽ  bao gồm: thực phẩm, các  sản phẩm phi kim loại và các phương tiện giao thông. Malaysia : Các thành tựu công nghiệp phần lớn tập trung vào các ngành cần nhiều sức  lao động như  may mặc, các sản phẩm gỗ và các ngành sản xuất máy móc cần nhiều  vốn. Các ngành hàng suy giảm sẽ bao gồm : thực phẩm, kính và các sản phẩm kính và   phi kim loại. Philippines : Mức tăng sản lượng tập trung chủ  yếu  ở  các loại sản phẩm cần nhiều   vốn đầu tư như các sản phẩm chế tạo phi kim loại, các loại máy điện và phi điện. Các  sản phẩm gỗ, hóa chất công nghiệp và các mặt hàng chế  tạo sẽ  có thể  giảm đi đôi  chút. Singapore : Sản xuất tăng trong các ngành công nghiệp nặng như  công nghiệp hóa   chất, sắt, thép, các phương tiện vận tải. Một vài ngành công nghiệp sử  dụng nhiều   sức lao động như dệt, may mặc sẽ giảm. Thái Lan : Quy mô sản xuất sẽ được mở  rộng trong các ngành chế  biến thực phẩm,   sản phẩm da, các sản phẩm kim loại và phi kim loại và các loại máy điện. Các sản  phẩm gỗ, máy móc và các sản phẩm công nghiệp cao cấp sẽ giảm. Theo chương trình   AFTA, một vài ngành hàng được dự  đoán sẽ  mang lại lợi nhuận, còn các ngành khác  sẽ bị suy giảm. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào cơ cấu ngành và tính hiệu quả của   từng ngành trong mỗi quốc gia.
  2. II) Tác động của AFTA đối với nền kinh tế Việt Nam Đối chiếu nội dung của AFTA cũng như  những tác động có thể  có của nó đối với các  nước thành viên nói chung, đối chiếu với tình hình cụ  thể  và tiến trình thực hiện AFTA của   Việt Nam, AFTA có thể có những tác động trên các mặt chính sau: 1. Thương mại Kể từ khi là thành viên chính thức của ASEAN, thương mại Việt Nam và ASEAN phát  triển nhanh hơn so với thương mại giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới. Tổng kim  ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và ASEAN tăng 20% ngay năm đầu tiên thực hiện CEPT  (1996). Tổng kim ngạch thương mại đã tăng gấp 4,5 lần chỉ trong một thập niên, từ 8,9 tỉ  USD năm 2003 lên 40 tỉ USD năm 2013, trong đó Singapore là đối tác thương mại lớn thứ 7  của Việt Nam và lớn nhất trong ASEAN với giá trị buôn bán hai chiều năm 2013 tăng hơn  20% lên 17 tỉ USD.  1.1. Nhập khẩu: Trong những năm gần đây, hàng hóa từ ASEAN vào Việt Nam chiếm khoảng 25% kim   ngạch nhập khẩu (NK), trong đó nguyên vật liệu dùng cho sản xuất và hàng công nghiệp   chiếm tỷ trọng lớn. Các mặt hàng này đã có thuế suất dưới 5% trước khi thực hiện CEPT. Vì   vậy, AFTA không có tác động trực tiếp tới việc NK những mặt hàng này. Các nhóm hàng nhập khẩu chủ yếu: trong các năm trước đây, hàng hoá mà các doanh  nghiệp của Việt Nam nhập khẩu có xuất xứ  từ  ASEAN chủ  yếu là những mặt hàng thiết   yếu, nguyên phụ  liệu đầu vào, máy móc thiết bị  phục vụ  sản xuất như: xăng dầu các loại;   nguyên phụ liệu dệt may da giày; chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, máy móc, thiết bị, dụng cụ  &   phụ   tùng...   Tuy   nhiên,   trong   vài   năm   trở   lại   đây,   Việt   Nam   nhập   thêm   một   số   mặt   hàng  phục vụ  gia công sản xuất xuất khẩu và hàng tiêu dùng như: máy vi tính, sản phẩm   điện tử & linh kiện; điện thoại các loại & linh kiện; ô tô nguyên chiếc… ASEAN   là  đối  tác  lớn  thứ   hai  (sau  Trung  Quốc)  xuất  khẩu hàng  hoá  có xuất  xứ  ASEAN sang Việt Nam trong nhiều năm qua. Nhiều nhóm hàng được nhập khẩu từ thị trường  này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam bao g ồm: xăng dầu,   dầu thô, giấy các loại, chất dẻo nguyên liệu,  dầu mỡ động thực vật, gỗ & sản phẩm gỗ … Trong nội khối ASEAN, Biểu đồ  dưới cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam nhập  khẩu hàng hóa nhiều nhất có xuất xứ  từ  Thái Lan và Singapore với tỷ  trọng chiếm 37,5%  trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ  ASEAN; tiếp theo là Malaysia (20,9%),  Singapore (18,9%),... .
  3. Biểu đồ  1: Tỷ  trọng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam các hàng hóa có xuất xứ  từ  ASEAN trong năm 2017                                                                                                                                                                                                                             Ngu ồn: T ổng c ục H ải   quan         1.2.  Xuất khẩu:  a. Xuất khẩu sang các nước ASEAN khác: Về lý thuyết và dài hạn, AFTA có tác động làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt  Nam trên thị trường ASEAN nhờ giảm thuế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan.  Xét về cơ cấu hàng xuất khẩu (XK): Những năm gần đây, ASEAN thường chiếm khoảng 20­23% kim ngạch xuất khẩu  (XK) của Việt Nam. Đây là một con số  đáng kể. Nhưng những mặt hàng được hưởng thuế  suất CEPT lại chỉ  chiếm gần 20% kim ngạch XK sang ASEAN, tương đương với dưới 4%  tổng kim ngạch XK của Việt Nam năm 2001. Và mức tăng XK của những mặt hàng này sang  các nước ASEAN khác cũng không lớn.
  4. Biểu đồ  2: Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân th ương mại giữa  Việt Nam và ASEAN các năm 2011­2017                                                                                                                   Ngu ồn: T ổng c ục H ải   quan Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp Việt Nam sang thị   trường ASEAN đạt 21,51 tỷ USD, tăng 23,9% (tương ứng tăng 4,15 tỷ USD về số tuyệt đối)  so với năm 2016 và chiếm 10,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Nguyên nhân chính giải thích cho việc kim ngạch xuất khẩu sang thị trường ASEAN   tăng mạnh là do trị giá xuất khẩu của một số nhóm hàng tăng cao như: điện thoại các loại &   linh kiện tăng 948 triệu USD, sắt thép các loại tăng 722 triệu USD, máy vi tính sản phẩm điện   tử  & linh kiện tăng 488 triệu USD, dầu thô tăng 378 triệu USD, hàng dệt may tăng 181 triệu  USD. Chỉ  tính riêng 5 nhóm hàng này đã đóng góp gần 2,72 tỷ  USD, chiếm gần 70% trong   phần kim ngạch tăng thêm của xuất khẩu sang thị trường ASEAN năm nay. Ở  chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá các doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu   có xuất xứ  từ  thị  trường này là 28,02  tỷ  USD, tăng 16,4% và chiếm tới 13,3% tổng kim  ngạch nhập khẩu cả nước từ tất cả các thị trường trên thế giới. Kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam có xuất xứ  từ  ASEAN trong năm 2017 tăng so  với năm trước, chủ yếu do nhập khẩu một số nhóm hàng chủ lực tăng cao như: xăng dầu các   loại tăng 873 triệu USD, hàng rau quả tăng 464 triệu USD, máy móc thiết bị dụng cụ & phụ  tùng tăng 313 triệu USD, ô tô nguyên chiếc các loại tăng 307 triệu USD, hàng rau quả tăng 464   triệu USD, kim loại thường tăng 269 triệu USD, than đá tăng 258 triệu USD…
  5. Về cán cân thương mại hàng hoá giữa Việt Nam với ASEAN : số liệu thống kê của  Tổng cục Hải quan ghi nhận trong năm 2017 mức thâm hụt cán cân thương mại tiếp tục   nghiêng về phía Việt Nam với 6,51 tỷ USD (giảm nhẹ so với mức thâm hụt trị giá 6,7 tỷ USD   trong năm 2016), bằng 30,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Biểu đồ  3: Cán cân thương mại của các nước thành viên ASEAN với Việt Nam  trong năm 2017                                                                                                      Ngu ồn: T ổng c ục H ải   quan Các nhóm hàng xuất khẩu chủ yếu: ASEAN là khu vực thị trường xuất khẩu lớn thứ  4 của Việt Nam, chỉ đứng sau thị trường Liên minh châu Âu (EU) và Hoa Kỳ và Trung Quốc.   Trong những năm qua, Việt Nam chủ  yếu xuất sang ASEAN các nhóm hàng chủ  lực như:   điện thoại các loại & linh kiện; máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện; sắt thép; máy móc   thiết bị dụng cụ & phụ tùng; phương tiện vận tải & phụ tùng; hàng dệt may; dầu thô; xăng   dầu… Biểu đồ dưới cho thấy các nước: Thái Lan, Singapore và Malaixia là 3 đối tác thương  mại lớn nhất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam trong ASEAN, với tỷ  trọng lần lượt là   21,5%; 19,6% và 13,8%.
  6. Biểu đồ 4: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang th ị trường ASEAN trong   năm 2017                                                                                                                 Ngu ồn: T ổng c ục H ải   quan Năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và khu vực ASEAN đạt  56,5 tỷ  USD, tăng 12,9% so với năm 2017. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN  đạt 24,8 tỷ  USD, tăng 13,9% so với năm 2017 và kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam từ  ASEAN đạt 31,8 tỷ  USD, tăng 12,2%. Như  vậy, Việt Nam vẫn nhập siêu từ  ASEAN trong   năm 2018 khoảng 7 tỷ  USD, tăng 6,8% so với năm 2017. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam  chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường Thái Lan, Malaysia, Campuchia, Indonesia, Philippines  và Singapore.  Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị  trường các nước ASEAN   trong năm 2018 đều tăng trưởng tốt trừ Malaysia, Myanmar và Brunei, cụ  thể: Thái Lan (đạt   5,5 tỷ  USD, tăng 14,3%), Malaysia (đạt 4 tỷ  USD, giảm 3,9%), Campuchia (đạt 3,7 tỷ  USD,   tăng 35%), Indonesia (đạt 3,5 tỷ USD, tăng 23,5%), Philippines (đạt 3,46 tỷ USD, tăng 22,2%),  Singapore (đạt 3,1 tỷ  USD, tăng 5,1%), Myanmar (đạt 702 triệu USD, giảm 0,1%), Lào (đạt  594,6 triệu USD, tăng 14,3%), Brunei (đạt 18,5 triệu USD, giảm 14,4%).  Xuất khẩu của Việt Nam sang ASEAN chủ yếu gồm: điện thoại các loại và linh kiện   (đạt 2,9 tỷ USD, giảm 7,3%); sắt thép các loại (đạt 2,4 tỷ USD, tăng 39,8%); máy vi tính, sản  phẩm điện tử và linh kiện (đạt 2,2 tỷ USD, giảm 12,8%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ  tùng (đạt 1,8 tỷ  USD, tăng 13,7%); phương tiện vận tải và phụ  tùng (đạt 1,34 tỷ  USD, tăng   24,2%); hàng dệt may (đạt 1,2 tỷ USD, tăng 36,4%); gạo (đạt 1,1 tỷ USD, tăng 118,5%).  Theo Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN, phần lớn thuế  các mặt hàng xuất   khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN đã về  0%­5%. Một số mặt hàng xuất khẩu sang  
  7. ASEAN có xu hướng tăng mạnh trong thời gian gần đây như  gạo (chủ  yếu do xuất sang  Indonesia), cà phê, sắt thép các loại, clanke và xi măng, sản phẩm sắt thép. Một số sản phẩm   có xu hướng chững hoặc giảm kim ngạch xuất khẩu sang ASEAN như máy vi tính, sản phẩm  điện tử  và linh kiện, điện thoại và linh kiện, dầu thô, chất dẻo nguyên liệu, cao su, hạt tiêu,   than đá, sắn và sản phẩm từ sắn.  b. Về phần XK sang các nước ngoài ASEAN: Về  dài hạn, AFTA có tác động gián tiếp làm tăng kim ngạch XK của Việt Nam sang  các thị trường ngoài ASEAN do nhập được đầu vào cho sản xuất XK với giá rẻ  hơn từ  các   nước ASEAN. Mặt khác, với tư  cách một thành viên của AFTA, Việt Nam có điều kiện để  khai thác những lợi thế mới trong quan hệ thương mại với nước lớn. Tuy vậy, cơ  cấu sản phẩm của các nước ASEAN xuất ra thị trường thế giới lại khá  tương đồng với Việt Nam. Và họ cũng được hưởng những lợi ích tương tự. Do đó, tham gia  AFTA, Việt Nam tiếp tục phải chấp nhận cạnh tranh rất quyết liệt v ới các thành viên khác   trong hiệp hội không chỉ trên thị trường khu vực. 2. Đầu tư nước ngoài 2.1. Đầu tư từ các nước ASEAN khác ́ ̣ ̉ ̣ ̀ ư nước ngoai, Bô Kê hoach va Đâu t Theo sô liêu cua Cuc Đâu t ̀ ̣ ́ ̣ ̀ ̀ ư, tính đến tháng  12/2014, khu vực ASEAN co 8 n ́ ươc đâu t ́ ̀ ư FDI tai Viêt Nam bao gôm Singapore, Malaysia,  ̣ ̣ ̀ Thái Lan, Brunei, Indonesia, Phillipines, Lào và Campuchia với 2.507 dự án va t ̀ ổng vốn đầu  tư đạt 53 tỷ USD (chiếm 14% tổng số dự án và 20% tổng vốn đầu tư của cả nước). Trong đo, Singapore đ ́ ứng đầu khu vực ASEAN về đầu tư vào Việt Nam với 1.353 dự án  và 32,7 tỷ USD tổng vốn đầu tư (chiếm 53% tổng số dự án và 60% tổng vốnđầu tư của  Asean tại Việt Nam). ́ ̉ ̣ Theo đanh gia cua Cuc Đâu t ́ ̀ ư nước ngoai, v ̀ ốn FDI của Singapore tai Viêt Nam không ng ̣ ̣ ừng  tăng lên trong những năm gần đây. Các dự án đầu tư của Singapore hoạt động có hiệu quả  cao, đóng góp đáng kể cho giải quyết việc làm, xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của Việt  Nam.  Malaysia đứng thứ hai với 484 dự án và 10 tỷ USD tổng vốn đầu tư (chiếm 19% tổng số dự  án và 22% tổng vốn đầu tư của Asean tại Việt Nam). Thái Lan đứng thứ ba với 371 dự án 
  8. và 6,7 tỷ USD tổng vốn đầu tư (chiếm 14% tổng số dự án và 12% tổng vốn đầu tư của Asean  tại Việt Nam). Các nước còn lại như Brunei, Indonesia, Philipines, Lào, Campuchia có tỷ lệ vốn đầu tư vào  Việt nam tương đối “khiêm tôn” trong kh ́ ối Asean. 2.2. Đầu tư nước ngoài từ các nước khác Về lý thuyết, một khu vực thương mại tự do sẽ làm tăng đầu tư từ ngoài khu vực. Đó   là bởi các nhà đầu tư có thể sản xuất hàng hóa tại một hay một số nước và đưa ra tiêu thụ ở  tất cả các nước thành viên với mức thuế thấp và hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ. Khi các  nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước, họ sẽ có một thị trường tiềm năng rộng lớn hơn   nhiều lần nước đó. Áp dụng lý thuyết đó vào AFTA và Việt Nam, thì các nhà đầu tư  nước ngoài khi đầu   tư vào Việt Nam, họ sẽ không chỉ nghĩ đến một thị trường với 80 triệu dân, mà còn tính đến   cả thị trường ASEAN với trên 500 triệu người. Nhưng trên thực tế, thuế chỉ là một trong rất nhiều yếu tố được xem xét để đi đến quyết định   đầu tư. Thuế thấp sẽ mất đi ý nghĩa thu hút đầu tư nước ngoài nếu không đi kèm với sự  ổn  định chính trị, xã hội, luật đầu tư  nước ngoài thông thoáng, nguồn lao động giá rẻ  và có tay  nghề  cao... Có thể  lấy ví dụ  đơn cử  là Indonesia hiện nay. Mặc dù Indonesia đã hoàn thành   AFTA, nhưng rất nhiều nhà đầu tư  nước ngoài nhưSony , Matsushita... đã và đang rời bỏ  nước này sang Trung Quốc, Malaysia hay Việt Nam vì lo ngại và thất vọng trước nạn khủng  bố, mâu thuẫn sắc tộc, bất ổn quyền lực và tham nhũng... Đó cũng thách thức chung cho tất cả các thành viên của AFTA. Vì nếu như trước đây,   Indonesia hay Việt Nam không phải là thành viên của AFTA, để vượt qua hàng rào thuế quan  và các hạn chế NK vào thị  trường Indonesia hay Việt Nam, các nhà đầu tư  nước ngoài buộc  phải đầu tư  tại nước sở  tại. Nhưng nay Việt Nam đã là thành viên AFTA, nếu môi trường 
  9. đầu tư vào Việt Nam không hấp dẫn, thì thay vì đầu tư Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài  có thể sẽ đầu tư vào các nước ASEAN khác, hoặc đơn giản hơn, chỉ cần mở rộng hoặc tăng  thêm công suất của các nhà máy sẵn có tại các nước AFTA, đặc biệt là đối với các dây  chuyền sản xuất đã gần hết khấu hao nhưng vẫn vận hành tốt, rồi từ đó bán hàng sang Việt   Nam. Như vậy, để tận dụng được những cơ hội thu hút đầu tư từ  các nước khác mà AFTA   đem lại, Việt Nam cần phải tiếp tục cải thiện một cách đồng bộ  và toàn diện môi trường   đầu tư. 3. Công nghiệp Về lâu dài, khi các ngành công nghiệp của những nước thành viên không còn được bảo   hộ, AFTA sẽ làm thay đổi cơ  cấu công nghiệp khu vực theo hướng chuyên môn hóa và phân  bổ các nguồn lực một cách hợp lý hơn. Nhưng đây là sự thay đổi và phân bổ mang tính động   và phụ thuộc chủ yếu vào sự lựa chọn và nỗ lực chủ quan của từng nước. Singapore sẽ  đẩy mạnh phát triển các ngành hóa chất, trang thiết bị  vận tải và linh   kiện điện tử, trong khi đó sẽ  bỏ  ngỏ các ngành cần nhiều lao động và khoáng sản. Malaysia  thì có sự sắp xếp ngược lại. Các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu  như công nghiệp giấy, chế biến gỗ, may mặc và dệt sẽ tăng nhanh. Trong khi đó, các ngành   thiết bị vận tải, hóa chất, đồ gỗ, thực phẩm đã qua chế biến sẽ giảm mạnh. 4. Ngân sách nhà nước Tham gia AFTA và thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT chắc chắn  sẽ tác động tới nguồn thu cho ngân sách, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi Việt Nam thực sự  cắt giảm thuế quan, tức là từ 1/7 năm nay. Theo số liệu những năm gần đây, NK từ các nước   ASEAN chiếm khoảng 20­23% kim ngạch NK của Việt Nam, trong khi đó, thuế NK (trừ dầu   thô) đóng góp khoảng 25% tổng số thu ngân sách. Như vậy, về mặt số học đơn thuần, khi cắt   giảm thuế quan, rõ ràng nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm. Về dài hạn, AFTA sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước. Như vậy, cơ sở để tính   toán rằng, về dài hạn, phần giảm của thuế NK do thực hiện CEPT sẽ được bù lại bằng tăng   thu do kim ngạch buôn bán tăng và tăng thu từ  các loại thuế  khác như  thuế  giá trị  gia tăng,   thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập công ty... Tóm lại, tham gia ASEAN và AFTA là bước đi tất yếu đầu tiên của Việt Nam trên con   đường hội nhập với khu vực và thế giới. Sự kiện này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới   cũng như nhiều thách thức to lớn. Cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau, đòi hỏi sự nỗ lực cả  tầm vĩ mô và vi mô để  khai thác triệt để  các cơ  hội và hạn chế  đến mức thấp nhất  ảnh   hưởng tiêu cực do các thách thức đưa đến.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=116

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2