
PHÂN BÓN CHO CÂY ĐẬU TƯƠNG
Đậu tương có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu rét.
1- Đặc điểm nông học và yêu cầu ngoại cảnh:
Đậu tương có nguồn gốc ôn đới nhưng không phải là cây chịu rét. Nhiệt độ thích
hợp cho cây đậu tương từ 27-300C. Ở Việt nam đậu tương có thể trồng hầu hết ở
các tỉnh thành trong cả nước. Đậu tương không yêu cầu nghiêm ngặt về đất đai từ
đất sét, sét pha thịt, đất thịt pha cát và đến đất cát nhẹ. Tuy nhiên trên đất cát đậu
tương thường không cho năng suất ổn định. Đậu tương có thể trồng 3 vụ trên năm
hoặc xen với các loại cây trồng khác trong chu kỳ luân canh. Vùng Đông Nam bộ
và Tây Nguyên đậu tương có thể trồng 2 vụ/năm kề nhau trong mùa mưa hoặc gối
vụ với các loại cây trồng khác.
2. Kỹ thuật trồng:
Thời vụ trồng đậu tương ở vùng Tây nguyên và Đông Nam bộ: vụ 1 gieo tháng 4,
5 và thu hoạch tháng 7,8. Vụ 2 gieo tháng 7, 8 và thu hoạch tháng 10 , 11. trong
khi đó vùng đồng bằng sông Cửu Long thời vụ thường muộn hơn: Vụ 1 gieo tháng
12 thu hoạch tháng 2,3, vụ 2 gieo tháng 2 thu hoạch tháng 5, 6.
Mật độ khoảng cách: tùy theo thời vụ và đặc điểm giống mà mật độ khoảng cách
có thể khác nhau. Với các giống chín sớm mật độ tối thích 55 cây/m2, các giống
chín trung bình mật độ tối thích 40-45 cây/m2.

3- Nhu cầu và vai trò các chất dinh dưỡng với cây đậu tương
Đậu tương yêu cầu lượng dinh dưỡng khá lớn đặc biệt là đậu tương sản xuất theo
hướng thâm canh. So với ngô như cầu về đạm và kali cao gấp 2 lần. Tuy nhiên do
khả năng cố định đạm của đậu tương mà nhu cầu về đạm bón ít hơn so với các loại
cây trồng khác. Nguồn đạm cộng sinh có thể cung cấp khoảng 60 % tổng số nhu
cầu.
Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cây đậu tương. Đạm thường
được tích lũy trong giai đoạn đầu của thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và nhu cầu
cao nhất vào giai đoạn ra hoa, kết quả.
Lân là nguyên tố quan trọng tới dinh dưỡng của đậu tương, lân các tác dụng xúc
tiến sự phát triển của bộ rễ, nốt sần, hoa và quả. Lân tham gia vào thành phần
nuclêotit, axit nucleic, photpholipit v.v.. góp phần trong quá trình trao đổi gluxit và
thúc đẩy quá trình quang hợp và hô hấp.
Kali có vai trò đặc biệt quan trong trong quá trình trao đổi đạm, trong chuyển hóa
gluxit cũng như hàng loạt các phản ứng trao đổi khác trong cây, điều hòa quá trình
cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu lạnh và
chống đổ. Thiếu kali thường dẫn đến hiện tượng mép lá bị cháy, lá bị cong lên phía
trên và ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt thương phẩm.

3.1. Phân bón cho cây đậu tương
Bảng 4: Phân bón cho cây đậu tương trên các loại đất và theo mùa vụ khác nhau
Loại đất Thời vụ Phân hữu cơ
(tấn/ha)
Vội
kg/ha N
Đất phù sa Vụ hè 5-8 300-400 20-30
Vụ hè thu 6-10 300-400 30-40
Đất xám Vụ hè 5-8 300-500 20-30
Vụ hè thu 6-10 300-500 20
Đất bazan Vụ hè 5-8 300-500 40
Vụ hè thu 5-8 300-500 40
3.2. Thời kỳ bón phân, cách bón
Bón lót toàn bộ phân hữu cơ (hoặc vi sinh), toàn bộ vôi, toàn bộ phân lân, và 1/3
lượng kali rải phân theo hàng.
Bón thúc 1: Khi cây có 1 lá thật: bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng phân kali, bón
phân cách gốc khoảng 5 cm, lấp đất kết hợp làm cỏ và xới vun nhẹ
Bón thúc 2: Khi cây có 2-3 lá thật: 1/3 lượng đạm, và 1/3 lượng kali còn lại.

Bón thúc 3: Khi cây chuẩn bị ra hoa với lượng đạm còn lại
4. Hiệu lực của Kali đối với đậu tương
Theo kết quả nghiên cứu của Tô Văn Thống (1994), Bón kali cho đậu tương trên
đất bạc màu có hiệu lực cao rõ rệt. Bón đơn thuần kali làm tăng năng suất 45% so
với không bón và 31% so với bón NP. Hiệu suất kali từ 5,8 đến 15 kg đậu/kg K2O

