Richard Wilhelm
Ktừ khi Wilhelm đến Trung Quốc năm 1899, ông đã giao tiếp với đủ
các thành phần văn nhân học giả tại đây, kể cgiới huyền học, tức những
người tu luyện theo giáo (kim đan đạo) hay tu tiên (trường sinh bất tử). Sau
đó, ông thành lập Wilhelms Bibliothek (LHiền Thư Viện). Ông đến Thanh
Đảo chẳng bao lâu thì Loạn Quyền Phỉ (tức Nghĩa Hoà Đoàn) nổi lên. Những
người Trung Quốc cấp tiến đã thành lập phong trào chống chủ nghĩa thực dân
Âu Châu. Tất cả những người Âu Châu tại Trung Quốc đều nguy trở
thành mục tiêu btấn công, sát hại, nhất là c giáo sĩ, tức những người mà
dân bản địa nghĩ rằng đã gieo rắc tà thuyết chống lại truyền thống cố hữu của
Trung Quốc. Cuối cùng Loạn Quyền Phỉ cũng bị dẹp tan, và người Âu Châu
đã nhận ra nhu cầu tìm hiểu thêm vTrung Quốc để hiểu biết và giao tiếp tốt
hơn với dân bản địa. Trong tình hình đó, ngay khi đến Trung Quốc, Wilhelm
bắt đầu học Hán ngữ. Với năng khiếu bẩm sinh về ngôn ngữ, ông nhanh
chóng tinh thông Hán ng và những ngôn ngữ liên quan như Nhật ngữ và
Hàn ng (Korean). m 1905, tức m người con trai thứ ba (Helmut
Wilhelm) của ông chào đời, ông đã bắt đầu phiên dịch một số tác phẩm từ
Hán ngsang Đức ngữ. Công việc biên khảo và dịch thuật của ông
vẫn liên tục miệt mài từ lúc đó cho đến khi ông lìa đời (1930).
Khi học Hán ngữ, ông tập trung nhiều nhất việc đọc hiểu và
phiên dịch các kinh điển Trung Quốc ông càng say sưa tìm hiểu
văn hoá của đất nước này. Tại Thanh Đảo ng như tại Bắc Kinh, ông luôn
quảng giao với các văn nhân học giả đương thời. Sự hội nhập của ông với
văn hoá Trung Quốc và Hán ng đã chuyển hoá ông thành một con người
mới. Lúc đầu đến Trung Quốc với sứ mạng truyền giáo cho dân bản địa,
nhưng cuối cùng ông đã bvăn hoá và tôn giáo Trung Quốc cải hoán lại. V
sau này, ông đã thú nhận với người bạn chí thân là Carl Gustav Jung (cha đẻ
của m học phân tích) rằng suốt 20 năm sống tại Trung Quốc, ông chưa
hề làm phép bí tích cho một người dân Trung Quốc nào cả. Thay vào smạng
truyền giáo đó, ông nghĩ rằng cái sứ mạng đích thực mà ông phải làm chính là
phải bắc một nhịp cầu m linh giữa hai cõi Đông phương Tây phương,
thông qua việc biên khảo và phiên dịch kinh điển Trung Quốc.
Năm 1911, lúc 38 tuổi, Wilhelm có duyên may
gặp g Lao Nãi Tuyên ฀฀฀(1843-1921), vốn là
một văn nhân, đã đậu tiến sĩ và từng làm quan. Lao
Nãi Tuyên đã giúp Wilhelm rất nhiều trong việc
nghiên tập Hán học. Đó là một hiền giả đã giúp
Wilhelm hoá giải những xung đột nội tâm giữa hai
nền văn hoá tưởng dị biệt giữa Đông và y,
đã giúp ông tìm san tĩnh nội tâm. Sau khi gặp
Lao Nãi Tuyên, Wilhelm thành lập Tôn Khổng Văn
(Confucius Society) ti Thanh Đảo và mi Lao
Nãi Tuyên quản lý. Mối chân tình giữa Wilhelm và
Lao Nãi Tuyên ngày càng gắn bó. Thời gian Trung Quốc, ông nhận thấy
Kinh Dịch chiếm địa vị hết sức trọng yếu trong Thập Tam Kinh của Nho
giáo, nên ông đã nhLao Nãi Tuyên truyền dạy cho. Suốt 10 năm cuối đời
của Lao Nãi Tuyên, nhà hiền triết này đã dy Kinh Dịch cho Wilhelm, và
cùng thời gian này (kể từ 1913) Wilhelm đã dịch Kinh Dịch sang Đức ngữ.
Ông viết về công trình phiên dịch công phu suốt 10 m y như sau:
«Sau cách mạng Tân Hợi (1911), Thanh Đảo trở thành i tạm cho các
học giả danh tiếng nhất thuộc phái cổ học của Trung Quốc. Trong các vị học
giấy, tôi quen được Lao Nãi Tuyên. Ông người đầu tiên khai mcho tôi
smật của Kinh Dịch. Rồi chúng tôi cộng tác với nhau. Ông giảng Kinh
Lao Nãi Tuyên (1843-
1921)
Dịch cho tôi nghe bằng Bạch thoại, tôi ghi chú. Sau đó tôi dịch kinh văn
sang Đức ngữ cho riêng tôi. Rồi tôi bỏ văn bản Hán ngữ gốc sang một bên
dịch ngược từ Đức ngữ sang Hán ngữ, để Lao Nãi Tuyên xem tôi hiểu
đúng vấn đề không. Sau đó tôi nhuận sắc lại bản dịch Đức ngữ và viết lời
bình một cách chi tiết. Tôi còn phải hiệu đính ba bốn lần nữa và ghi thêm
những giải thích quan trọng nhất. Bản dịch đã hoàn thành như thế.» (xem: I
Ging, Diederichs, 2001, trang 21)
Wilhelm đã xem Lao Nãi Tuyên như một nhà nho kiệt xuất đương thời
và kính trọng ông như một bậc Đạo sư (Guru). Lao Nãi Tuyên mt nhà nho
thức thời, ông đã sm nhận ra rằng sự cách biệt của Trung Quốc với thế giới
bên ngoài đã đến lúc chấm dứt. Không chỉ thuộc giòng nho gia, Lao còn
người m mộ Đạo giáo và tập luyện tĩnh tọa dưỡng sinh. Tất cả những điều
đó đã ảnh hưởng đặc biệt đến Wilhelm.
Năm 1920, Wilhelm trở v nước Đức, nhưng rồi ông lại sang Trung
Quốc lần nữa vào m 1922. Năm 1921, khi những trang cuối cùng của bản
dịch Đức ngữ của Kinh Dịch hoàn thành, Lao Nãi Tuyên tthế, và smạng
của bậc hiền giả y đã hoàn thành. Wilhelm tiếp tục biên tập và ghi thêm li
bình chú bch này cho đến 1923. Cùng m này, ông được cử làm Tham
tán Văn hoá cho S quán Đức tại Trung Quốc được Đại học Bắc Kinh
thỉnh giảng vmôn văn học và triết học Đức. Năm 1924, Wilhelm trở về Đức
nhận dạy n ngữ tại Đại học Frankfurt. Năm 1925 ông sáng lập Trung
Quốc Học Viện (China Institut) tại Frankfurt am Main và làm việc tại đây cho
đến lúc tạ thế (1930).
T1924 đến 1930, ông chuyên vbiên khảo, dịch thuật, và giảng dạy.
Ông đã cgắng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau về văn hoá tư tưởng giữa Đông
phương và Tây phương. Mọi nỗ lực của ông thoạt đầu đã không hanh thông.
Ông gặp phải sự chống đối từ nhiều phía. Giới hàn lâm đại học thì không tin
ông ông vốn là một mục sư, còn Giáo Hội và cộng đồng tín hữu cũng
không thích ông ông đã bđạo. Nhưng ông cũng nhiều người ủng hộ,
chẳng hạn Bá Tước Keyserling, vốn một người cũng bị giới hàn lâm đại
học, những nhà theo ch nghĩa quốc gia, và gii Thiên Chúa giáo chính thống
tẩy chay. Wilhelm đã chấp bút viết một chương cho quyển sách của Tước
Keyserling nói v hôn nhân. đây Wilhelm viết về hôn nhân của người
Trung Quốc và nhấn mạnh ý nghĩa tâm linh của hôn lễ. Wilhelm đã gia nhập
một phái giáo tức Trường Minh Triết (the School of Wisdom) tại
Darmstadt. Do ảnh hưởng của Wilhelm đối với Tước Keyserling và con
trai của bá tước là Arnold Keyserling, môn triết học Trung Quốc, nhất là Kinh
Dịch được giảng dạy tại đây như là một môn học trọng tâm.
Tại Trường Minh Triết (the School of Wisdom), Richard Wilhelm đã hội
ng Carl Gustav Jung, nhà sáng lập môn m học pn tích (analytical
psychology), và hđã trthành bạn thân thiết của nhau. Jung cũng nhận ra ý
nghĩa trọng đại những công trình của Wilhelm, nhất là Kinh Dịch. Jung đã