
1
I. TÊN SÁNG KIẾN
“PHÂN LOẠI VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP ĐIỆN HỌC
VẬT LÍ 9 NÂNG CAO”
II. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
- Họ tên: Phạm Thị Gấm
- Chức vụ: Giáo viên
- Tổ khoa học tự nhiên
- Đơn vị: Trường THCS Hùng Tiến - Kim Sơn
III. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
Phần I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Trong giai đoạn đổi mới của đất nước, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hơn
nữa công tác giáo dục, và coi đây là một trong những yếu tố đầu tiên, yếu tố
quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu của giáo dục là: “Nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”.
Tinh thần nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ: Coi đầu tư cho giáo
dục là đầu tư cho phát triển. Trong đó chú trọng đến chất lượng mũi nhọn, muốn
vậy phải đầu tư cho việc dạy, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài ở tất cả các bộ
môn.
Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước là một trong những nhiệm vụ của ngành
giáo dục, xem trọng “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” công tác bồi dưỡng
học sinh giỏi ở các trường THCS hiện nay đã được tổ chức thực hiện trong
những năm qua. Bồi dưỡng học sinh giỏi là nhiệm vụ then chốt trong mỗi nhà
trường, là thành quả để tạo lòng tin với phụ huynh và là cơ sở tốt để xã hội hoá
giáo dục.
Bác Hồ kính yêu của chúng ta sinh thời cũng rất quan tâm đến việc đào
tạo, bồi dưỡng nhân tài, Người coi việc diệt giặc đói, giặc dốt quan trọng không
kém việc diệt giặc ngoại xâm.
Riêng bộ môn Vật lí cấp THCS có đặc thù là nội dung kiến thức gồm 4

2
phần chính: Cơ học, Nhiệt học, Điện học và Quang học. Mỗi phần có nét đặc
trưng riêng, áp dụng các phương pháp giải tương đối khác nhau. Với phần Điện
học, muốn học tốt kiến thức nâng cao thì ngoài nắm vững kiến thức cơ bản môn
Vật lí, học sinh còn phải có kiến thức tương đối vững về Toán học.
2. Cơ sở thực tiễn:
Hiện nay trên thị trường, sách tham khảo nâng cao về Vật lí THCS chưa
phong phú, nội dung còn sơ sài, trùng lặp, chưa có hệ thống. Phần lớn các sách
tham khảo chỉ dừng lại ở việc đưa ra kiến thức cơ bản, đề bài và lời giải, chưa
phân tích, mở rộng vấn đề, đề xuất cách giải hay cũng như phương pháp để giải
bài toán.
Phần điện học được xem là một loại toán khá phong phú về chủ đề và nội
dung, về quan điểm và phương pháp giải toán. Vì thế nó được xem là một phần
trọng điểm của chương trình Vật lí nâng cao đối với học sinh thi học sinh giỏi
lớp 9 và thi vào lớp 10 chuyên.
Việc giải một bài toán điện học thường phải sử dụng rất nhiều kiến thức
và kĩ năng của môn Toán như: phương trình bậc hai, hệ phương trình bậc nhất
nhiều ẩn số, bất đẳng thức và đặc biệt là các bài toán cực trị sử dụng đồ thị hàm
số,... Cũng vì lẽ đó mà với học sinh khi ôn tập thi học sinh giỏi và thi vào 10
chuyên thì phần Điện học là một phần trọng điểm.
Vì vậy, việc phân loại và thủ thuật giải một số dạng bài tập Điện học là
một vấn đề có ý nghĩa quan trọng. Nó góp phần giúp các giáo viên có cơ sở để
dạy tốt hơn các bài tập thuộc phần này. Qua đó chất lượng học sinh giỏi tốt hơn,
học sinh có kiến thức vững vàng hơn khi thi học sinh giỏi và thi vào các trường
chuyên, lớp chọn.
Với những lí do trên và mong muốn công tác ôn luyện học sinh giỏi đạt
kết quả tốt, thường xuyên và khoa học hơn, góp phần hoàn thành mục tiêu giáo
dục, nâng cao chất lượng giáo dục của địa phương, tôi chọn đề tài sáng kiến
kinh nghiệm: “Phân loại và phương pháp giải bài tập điện học Vật lý 9 nâng
cao”.

3
Phần II.
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Giải pháp cũ thường làm
Trong những năm mới về trường THCS Hùng Tiến, khi được Ban giám
hiệu nhà trường phân công dạy bồi dưỡng học sinh giỏi Vật lý 9, là một giáo
viên ra trường chưa được bao lâu, kinh nghiệm giảng dạy còn hạn chế, vì thế tôi
còn lúng túng trong phương pháp dạy và cách phân loại, lựa chọn bài tập. Phần
Điện học tôi đã dạy các em theo từng chủ đề theo các tiết học trong sách giáo
khoa, từ kiến thức của bài tôi đưa ra bài tập từ dễ đến khó.
Cụ thể:
Dạng 1: Định luật Ôm.
Dạng 2: Định luật Ôm đối với đoạn mạch nối tiếp.
Dạng 3: Định luật Ôm đối với đoạn mạch song song.
Dạng 4: Định luật Ôm đối với đoạn mạch hỗn hợp.
Dạng 5: Điện trở dây dẫn.
Dạng 6: Biến trở.
Dạng 7: Công- Công suất.
Dạng 8: Định luật Jun-Len xơ.
Với mỗi dạng, tôi cung cấp cho các em kiến thức cơ bản (chủ yếu là công
thức áp dụng) rồi đưa ra bài tập từ dễ đến khó, yêu cầu các em tìm cách giải. Có
những bài học sinh không làm được thì tôi lại hướng dẫn cho các em nhưng
chưa rút ra bài học hay phương pháp cho mỗi dạng bài. Có những bài phải sử
dụng đến các công thức toán học thì tôi lại cung cấp cho các em để áp dụng vào
bài.
Với cách làm này tôi nhận thấy có những ưu điểm và hạn chế sau:
1.1. Ưu điểm:
Với những bài tập cơ bản, học sinh được cung cấp công thức nên vận
dụng tương đối tốt. Các dạng bài tôi đưa ra cũng được phân theo các bài trọng
tâm theo sách giáo khoa, vì thế học sinh nắm được công thức và cách giải từng
dạng bài.

4
1.2. Hạn chế:
Tuy nhiên vì kiến thức bổ trợ vật lý ngoài sách giáo khoa các em không
được cung cấp đầy đủ dẫn đến các em chưa làm được các bài toán sáng tạo,
nâng cao hơn, phức tạp hơn. Học sinh không tự phân loại được bài tập, việc
phân loại và phương pháp giải cho từng dạng cũng chưa linh hoạt và sáng tạo.
Từ mỗi chủ đề tôi chưa rút ra kinh nghiệm hay phương pháp cho các em tư duy
nhanh hơn, giải quyết bài toán nhanh hơn hay thông minh hơn. Phần kiến thức
toán học bổ sung cho các em chưa kịp thời, đến bài nào cần sử dụng kiến thức
toán thì tôi mới bổ sung cho các em dẫn đến các em chỉ nhớ máy mọc cách làm
bài mà chưa vận dụng được trong các bài khác.
Cách phân loại bài tập của tôi chưa hợp lí, còn thiếu các dạng bài tập sáng
tạo, nâng cao hơn. Do đó khi đi thi các em lúng túng trong những bài sáng tạo và
nâng cao. Với những kiến thức sách giáo khoa đưa ra thì khi gặp mạch điện có
dạng đặc biệt hoặc không tường minh, học sinh không thể tìm ra hướng giải.
Ví dụ: Cho mạch điện như hình vẽ, mỗi cạnh có điện trở r (ví dụ như AB,
AC, BC…). Tính điện trở tương đương khi:
a) Dòng điện đi vào nút A và đi ra ở nút B.
b) Dòng điện đi vào nút C và đi ra ở nút D.
c) Dòng điện đi vào nút A và đi ra ở nút O.
Chính vì thế mà kết quả của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi của tôi
trong những năm trước đây chưa cao. Bản thân tôi rất trăn trở, suy nghĩ tìm biện
pháp khắc phục, mong muốn các em học sinh giỏi đi thi đạt nhiều kết quả cao.
Để khắc phục những hạn chế nêu trên, qua quá trình bồi dưỡng học sinh
giỏi ở trường THCS Hùng Tiến và bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi cấp tỉnh tại
THCS Phát Diệm, tôi mạnh dạn nêu ra một số kinh nghiệm của bản thân về cách
phân loại và phương pháp giải bài tập điện học Vật lý 9 nâng cao.
A B
C D
G
E
O

5
2. Giải pháp mới cải tiến
Từ những nhược điểm, tồn tại của giải pháp cũ, qua quá trình bồi dưỡng
học sinh giỏi bộ môn tôi đã rút ra một số kinh nghiệm cho bản thân và một số
giải pháp cụ thể sau đây:
Trước tiên giáo viên cần giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản của
phần Điện học. Các công thức vật lý, đơn vị các đại lượng và cách biến đổi, vận
dụng công thức sao cho phù hợp với từng bài. Cung cấp thêm cho các em các
kiến thức bổ trợ nâng cao trong các tài liệu tham khảo, tài liệu bồi dưỡng học
sinh giỏi.
Bên cạch đó, một nội dung không kém phần quan trọng là giáo viên phải
giúp học sinh nhớ lại và nắm vững được các kiến thức về môn Toán bổ trợ trước
khi đưa ra bài tập.
2.1. Các kiến thức Toán học cần bổ trợ cho học sinh
Vì sao khi giải bài tập vật lý cần hổ trợ kiến thức toán học cho học sinh?
Tôi đặt câu hỏi vì sao ở đây là tôi muốn đề cập đến vai trò quan trọng của
toán học trong việc giải những bài tập vật lý khó, những thủ thuật vượt ra khỏi
kiến thức đại trà mà hàng ngày giáo viên cung cấp trên bục giảng, giành để ôn
luyện học sinh giỏi trong những kì thi học sinh giỏi.
Toán học là một trong những phương tiện hổ trợ đắc lực trong việc giải
bài tập vật lý. Bởi vì trong khi giải bài tập học sinh thường mắc phải những khó
khăn nhất định về toán học khi xử lý bài khó. Vì vậy những thuật toán học khó
cũng là một trong những yếu tố dẫn đến sự bế tắc của học sinh. Nhiều khi học
sinh phân tích được hiện tượng vật lý, tìm ra được hiện tượng và sử dụng được
công thức vào bài toán, những tính toán thông thường dựa vào phương trình bậc
nhất hoặc vài phép biến đổi nào đó thì học sinh giải quyết khá dễ dàng, nhưng
khi gặp phải những thuật toán khó thì học sinh
đành bế tắc, và lại tư duy toán học
của học sinh trung học cơ sở còn nhiều hạn chế.
Xuất phát trong quá trình bồi dưỡng và giảng dạy học sinh giỏi bộ môn
Vật lý trong các kì thi cấp huyện, tỉnh, tôi nhận thấy kĩ năng toán học là cực kì
quan trọng và cần thiết. Học sinh phải biết áp dụng một số kĩ năng toán học cơ

