
Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Huỳnh Thanh Trúc - 1 -
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường THPT Châu Văn Liêm Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
----------------- -----------------------
An giang, ngày 14 tháng 2 năm 2019
BÁO CÁO KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
I. SƠ LƯỢC LÝ LỊCH TÁC GIẢ:
- Họ và tên : HUỲNH THANH TRÚC. Giới tính: Nữ
- Ngày sinh: 1984
- Nơi thường trú: ấp Mỹ Hòa, thị trấn Mỹ Luông, Chợ Mới, An giang.
- Đơn vị công tác: THPT Châu Văn Liêm
- Chức vụ hiện nay: giáo viên dạy lớp
- Lĩnh vực công tác: giảng dạy
II. TÊN SÁNG KIÊN: “Hệ thống công thức và phương pháp giải bài tập nguyên phân, giảm
phân và thụ tinh khi không có đột biến”
III. LĨNH VỰC: phương pháp giảng dạy sinh học
IV. MỤC ĐÍCH YÊU CẦU CỦA SÁNG KIẾN
1. Thực trạng ban đầu của vấn đề:
Thi chọn học sinh giỏi nhằm động viên, khích lệ những học sinh giỏi và các giáo viên dạy
giỏi, góp phần thúc đẩy việc nâng cao chất lượng Dạy và Học, hiệu quả của công tác quản lý giáo
dục, đồng thời phát hiện học sinh có năng khiếu về môn học để tiếp tục đào tạo nhằm thực hiện
mục tiêu bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Hàng năm Bộ, Sở GD&ĐT đều tổ chức kỳ thi chọn học sinh giỏi văn hóa do đó các trường
THPT cũng phải thực hiện nhiệm vụ phát hiện bồi dưỡng thành lập đội tuyển của trường mình
tham gia kỳ thi này. Đây là một việc làm thường xuyên nhưng gặp không ít khó khăn đối với các
giáo viên tham gia bồi dưỡng đội tuyển dự thi học sinh giỏi.
Bộ môn Sinh học cũng là một trong các môn có học sinh tham gia kỳ thi chọn học sinh
giỏi văn hóa. Tuy nhiên, kiến thức cần thiết để học sinh đạt được kết quả cao trong kỳ thi này rất
rộng, vượt qua nội dung kiến thức mà sách giáo khoa cung cấp rất nhiều. Nhiều chuyên đề mà nội
dung của nó các em phải tự tìm hiểu thêm ở các sách tham khảo khác nhau, đặc biệt là các công
thức để các em vận dụng giải bài tập. Thực tế trong chương trình Sinh học phổ thông, học sinh có
rất ít thời gian trên lớp dành cho các giờ bài tập mà trong các đề thi học sinh giỏi, đề thi THPT
Quốc gia phần bài tập chiếm một tỉ lệ khá cao, trong đó có bài tập liên quan đến giảm phân và thụ
tinh. Kiến thức về chu kỳ tế bào, nguyên phân và giảm phân là kiến thức nền quan trọng để các
em dễ dàng tiến cận kiến thức các quy luật di truyền,các dạng đột biến rất hay và khó sẽ học ở lớp
12. Vì vậy đưa ra hệ thống công thức và phương pháp giải bài tập là nhiệm vụ của giáo viên bồi
dưỡng.
Với nhiều năm trực tiếp bồi dưỡng học sinh giỏi đạt hiệu quả, và qua nghiên cứu các đề thi
học sinh giỏi các năm trước tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “ Hệ thống công thức và phương pháp
giải bài tập nguyên phân, giảm phân và thụ tinh khi không có đột biến” nhằm làm tài liệu
dạy cho học sinh ôn thi học sinh giỏi và cung cấp kiến thức nền cho các quy luật di truyền mà các
em sẽ học ở lớp 12.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Căn cứ vào kế hoạch số 187/KH SGDĐT ngày 07 tháng 11 năm 2018 của SGD & ĐT An
Giang về kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT cấp tỉnh năm học 2018-2019 và kỳ thi chọn đội tuyển
dự thi HSG cấp quốc gia 2020. Trường THPT Châu Văn Liêm đã xây dựng kế hoạch bồi dưỡng,
tuyển chọn học sinh giỏi văn hóa 2018-2019.
Nhằm trang bị cho học sinh đội tuyển học sinh giỏi một cách có hệ thống về công thức và
phương pháp giải bài tập, tiếp cận với các dạng đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, học sinh giỏi cấp

Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Huỳnh Thanh Trúc - 2 -
quốc gia đến kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia, phát huy khả năng tư duy suy luận, phán đoán và
tính linh hoạt của học sinh.
Bênh cạnh đó, bài tập về nguyên phân, giảm phân, thụ tinh lúc nào cũng chiếm một vị trí
quan trọng các đề thi, không những thế còn chưa kể những bài tập phát triển về nguyên phân,
giảm phân, thụ tinh trong các bài tập quy luật di truyền, đột biến NST là các bài tập chủ yếu, hay
và khó trong các đề thi.Có thể nói bài tập về nguyên phân, giảm phân và thụ tinh là chìa khóa cho
các dạng bài tập di truyền.Vì vậy, tôi nhận thấy ngay từ lớp 10, học sinh phải được trang bị kiến
thức đầy đủ, chính xác, có hệ thống những kiến thức nền tảng – đó là kiến thức về nguyên phân,
giảm phân, thụ tinh.
3. Nội dung sáng kiến
3.1 Tiến trình thực hiện
Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện thông qua các bước sau:
- Bước 1: xác định đề tài, khối lớp, đối tượng học sinh.
- Bước 2: xác định nội dung thực hiện sáng kiến.
- Bước 3: chọn đội tuyển và đặt yêu cầu những kiến thức cần có của học sinh thuộc đội
tuyển. .
- Bước 4: tiến hành thực hiện đối với đội tuyển bồi dưỡng học sinh giỏi
- Bước 5: kiểm chứng kết quả đạt được.
- Bước 6: rút kinh nghiệm và hoàn thiện sáng kiến.
3.2 Thời gian thực hiện
Bắt đầu nghiên cứu áp dụng thực tiễn đạt hiệu quả từ năm học 2014-2015, 2015-2016,
năm học 2017-2018, năm học 2018-2019 (trong đó năm học 2016-2017 không bồi dưỡng do nghỉ
hộ sản)
3.3 Biện pháp tổ chức
3.3.1 Cơ sở lý luận của vấn đề
Sinh học là bộ môn khoa học thực nghiệm có vị trí hết sức trong hệ thống tri thức khoa
học của nhân loại,có ý nghĩa thiết thực với đời sống, kinh tế và xã hội loài người.Trong hệ thống
chương trình Sinh học cấp THPT nói chung và Sinh học lớp 10 nói riêng, bên cạnh những kiến
thức thuộc về lí thuyết được mô tả còn có mảng kiến thức không k m phần quan trọng là câu hỏi
và bài tập sinh học.
Mặt khác sinh học là một bộ môn khó và mang tính chất trừu tượng cao vì nó nghiên cứu
về các cơ thể sống, các quá trình sống và đặc biệt nó gắn liền với hoạt động thực tiễn của con
người. Vì vậy nắm bắt tốt các kiến thức sinh học sẽ góp phần nâng cao đời sống loài người. Đồng
thời việc tìm ra phương pháp nâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề cực kì quan trọng.
Nhiệm vụ của người giáo viên ngày nay không những phải cung cấp cho học sinh một vốn tri
thức cơ bản mà quan trọng là còn phải trang bị cho học sinh khả năng tự làm việc, tự nghiên cứu
để tìm hiểu và tự chiếm lĩnh tri thức. Trong những năm qua sự phát triển trí tuệ học sinh ngày
càng tăng nhanh chóng, nhu cầu học tập các môn học ngày càng nhiều. Bộ môn Sinh học trong
nhà trường cũng không ngừng bổ sung, đi sâu và mở rộng. Nhiều nội dung trong chương trình đại
học lại được đưa thành kiến thức cơ bản trong sinh học 10 như phần sinh học tế bào. Chính vì vậy
bộ môn Sinh học lớp 10 không những được mở rộng về lí thuyết mà còn có nhiều dạng bài tập
nhằm kiểm tra khả năng vận dụng các kiến thức lí thuyết của học sinh.
Tế bào là đơn vị cấu trúc và chức năng của cơ thể sống. Các tế bào chỉ được sinh từ tế bà
có trước thông qua quá trình phân bào. Quá trình phân bào bao gồm hai hình thức: nguyên phân
và giảm phân. Khi nguyên phân, giảm phân kết hợp với thụ tinh chính là cơ chế góp phần duy trì
bộ nhiễm sắc thể đặc trưng và ổn định cho loài. Những nội dung này có y nghĩa quan trọng làm
nền cho các kiến thức sinh học cơ thể, di truyền học. Trong các đề thi tốt nghiệp THPTQG, đề thi
học sinh giỏi cấp tỉnh, đề thi Olympic Sinh học quốc gia và quốc tế đều có nội dung liên quan đến
nó. Vì vậy, việc xây dựng các công thức có liên quan đến bài tập nguyên phân, giảm phân, thụ
tinh có ý nghĩa thiết thực trong việc rèn luyện tư duy logic và kỹ năng phân tích đánh giá vấn đề
của học sinh. Sách giáo khoa, sách bài tập sinh học 10 chỉ mô tả diễn biến quá trình nguyên phân,
giảm phân và đề cập một vài công thức cơ bản. Tuy nhiên, các dạng bài tập này khá khó và học

Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Huỳnh Thanh Trúc - 3 -
sinh dễ bị nhầm lẫn nên trong quá trình dạy đội tuyển học sinh giỏi tôi đã hệ thống hóa kiến thức
phần phân bào vào sáng kiến kinh nghiệm ” Hệ thống công thức và phương pháp giải bài tập
nguyên phân, giảm phân và thụ tinh khi không có đột biến”
3.3.2 Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.3.2.a Kiến thức cơ bản
a1. Chu kì tế bào: là khoảng thời gian giữa 2 lần phân bào liên tiếp ( tức là khoảng thời
gian tính từ lúc tế bào được tạo ra do tế bào mẹ phân chia cho đến khi nó phân chia xong).
Chu kì tế bào được điều khiển chặt chẽ. Thời gian và tốc độ phân chia tế bào ở các bộ phận
khác nhau của cùng một cơ thể động vật, thực vật là rất khác nhau và được điều khiển nhằm đảm
bảo sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể.
Chu kì tế bào gồm 2 giai đoạn chính: kì trung gian và phân chia tế bào
+ Kì trung gian gồm 3 pha: pha G1, S, G2
Các pha
Đặc điểm
Pha G1
Là pha sinh trưởng của tế bào. Cuối pha tồn tại điểm kiểm
Soát R mà nếu tế bào vượt qua được điểm này mới đến
được pha S để phân chia tế bào, còn không thì đi vào giai
đoạn biệt hóa
Pha S
Pha nhân đôi ADN và NST ( NST đơn nhân đôi thành NST k p. Mỗi
NST k p gồm 2 sợi cromatit chị em dính với nhau tại tâm động).
Ở TB động vật: trung thể nhân đôi
Pha G2
Tổng hợp những gì còn lại cần cho sự phân bào
Hình 1. Chu kì tế bào
a2. Phân bào
- Ở cơ thể đơn bào, tế bào nhân sơ phân bào theo hình thức trực phân (phân đôi)
- Ở cơ thể đa bào, tế bào nhân thực có hai hình thức phân bào: nguyên phân (phân bào nguyên
nhiễm) và giảm phân ( phân bào giảm nhiễm).
a2.1.Nguyên phân
- Xảy ra ở tế bào sinh dưỡng (tế bào xô ma); tế bào sinh dục sơ khai và hợp tử
- Là hình thức phân chia một tế bào mẹ thành hai tế bào con có bộ nhiễm sắc thể giống mẹ
- Gồm 2 giai đoạn: phân chia nhân và phân chia tế bào chất

Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Huỳnh Thanh Trúc - 4 -
* Phân chia nhân
Các kì
Đặc điểm
Kì đầu
Màng nhân và nhân con tiêu biến, thoi phân bào hình thành
NST k p dần co xoắn
Kì giữa
NST kép co xoắn cực đại và dàn thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của
thoi phân bào.
Kì sau
Các sợi cromatit trên từng NST k p tách nhau ra trở thành NST đơn và di
chuyển về hai cực tế bào theo sự co rút của sợi tơ vô sắc.
Kì cuối
NST đơn dần dãn xoắn. Màng nhân và nhân con hình thành, thoi phân bào
tiêu biến
* Phân chia tế bào chất
Sau khi kì sau hoàn tất việc phân chia vật chất di truyền, tế bào chất bắt đầu phân chia
thành 2 tế bào con.
- Ở tế bào động vật: hình thành eo thắt ở xích đạo của tế bào để chia tế bào mẹ thành 2 tế bào
con.
- Ở tế bào thực vật: hình thành vách ngăn ở giữa tế bào để chia tế bào mẹ thành 2 tế bào con.
Hình 2. Nguyên phân ở tế bào động vật
* Ý nghĩa của nguyên phân
- Nguyên phân là cơ chế sinh sản ở cơ thể đơn bào nhân thực
- Ở cơ thể đa bào nhân thực:
+Nguyên phân giúp tái sinh các mô và cơ quan bị tổn thương
+Nguyên phân giúp cơ thể sinh trưởng và phát triển
+Nguyên phân là cơ sở cho quá trình sinh sản sinh dưỡng ở các sinh vật có sinh sản sinh
dưỡng. Ứng dụng điều này trong nuôi cấy mô, tế bào, thực hiện giâm, chiết, gh p … đạt hiệu quả.
a2.2 Giảm phân
- Xảy ra ở tế bào sinh dục thời kì chín

Sáng kiến kinh nghiệm
Giáo viên: Huỳnh Thanh Trúc - 5 -
- Gồm 2 lần phân bào nhưng chỉ có một lần AND, NST nhân đôi
- Qua giảm phân: một tế bào mẹ ban đầu bị phân chia thành 4 tế bào con, mỗi tế bào con
có bộ NST giảm đi một nửa so với tế bào mẹ.
* Giảm phân I
Các kì
Đặc điểm
Kì đầu I
NST k p bắt cặp với nhau thành từng cặp NST k p tương đồng và có thể xảy
ra trao đổi ch o các đoạn NST tương đồng giữa 2 sợi cromatit không chị em
với nhau (Sự trao đổi ch o này dẫn tới hoán vị gen.). Sau khi tiếp hợp, các
NST k p dần co xoắn.
Màng nhân và nhân con tiêu biến, thoi phân bào hình thành. NST đính với sợi
tơ vô sắc của thoi phân bào tại tâm động.
Kì giữa I
NST k p co xoắn cực đại và dàn thành hai hàng trên mặt phẳng xích đạo của
thoi phân bào.
Kì sau I
Các NST k p trong từng cặp NST k p tương đồng tách nhau ra và di chuyển
về hai cực tế bào theo sự co rút của sợi tơ vô sắc.
Kì cuối I
NST k p dần dãn xoắn. Màng nhân và nhân con hình thành, thoi phân bào
tiêu biến
* Giảm phân II ( giống cơ chế nguyên phân)
Các kì
Đặc điểm
Kì đầu II
Màng nhân và nhân con tiêu biến, thoi phân bào hình thành
NST k p dần co xoắn
Kì giữa II
NST k p co xoắn cực đại và dàn thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo
của thoi phân bào.
Kì sau II
Các sợi cromatit trên từng NST k p tách nhau ra trở thành NST đơn và di
chuyển về hai cực tế bào theo sự co rút của sợi tơ vô sắc.
Kì cuối II
NST đơn dần dãn xoắn. Màng nhân và nhân con hình thành, thoi phân bào
tiêu biến
GPI GP II
Tế bào mẹ 2 tế bào 4 tế bào mới
(2n đơn) (n kép) (n đơn)
Hình 3. Các kì giảm phân
* Sự hình thành giao tử sau giảm phân
- Ở cơ thể đa bào nhân thực, sau giảm phân hình thành giao tử:
+ Ở động vật:
Đối với giới đực: 1 tế bào sinh tinh sau giảm phân tạo ra 4 tinh trùng

