
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
DẠY VĂN BẢN XUẤT DƯƠNG LƯU BIỆT (PHAN BỘI CHÂU) KẾT HỢP
GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH KHỐI 1
Lĩnh vực: Ngữ Văn
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường
Tổ bộ môn: Văn - Anh
Số điện thoại: 0941085222
Năm thực hiện: 2020 – 2021

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................
1
1.1 Lí do chọn đề tài .....................................................................................
1
1.2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................
2
1.3.Đối tượng nghiên cứu .........................................................................
3
1.4. Phương phápnghiêncứu....................................................................
3
1. 5. Những đóng góp của đề tài…………………………………………
3
1.6. Cấu trúc đề tài………………… …………….………………………..
3
1.7. Kế hoạch nghiên cứu……...………………………………………….
3
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.......................................................
5
I. CƠ SỞ KHOA HỌC ...............................................................................
5
1.1. Cơ sở lí luận ...........................................................................................
5
1.2. Cở sở thực tiễn…………………………………………………………
6
II. CÁC BIỆN PHÁP DẠY HỌC VĂN BẢN “ XUẤT DƯƠNG LƯU
BIỆT” NHẰM GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH…………..
8
1. Hướng dẫn học sinh tìm hiểu vai trò, tầm quan trọng của môn Ngữ văn
trong việc giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh………………………
8
2. Tìm hiểu mối quan hệ giữa dạy học Ngữ văn và giáo dục tư tưởng đạo
đức cho học sinh……………………………………………………………
9
3. Tăng cường giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh thông qua dạy –
học văn bản “ Xuất dương lưu biệt”………………………………………
11
3.1. Xác định nội dung trong bài học để giáo dục tư tưởng đạo đức………
11
3.2. Bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẫm mĩ khi dạy “Xuất dương lưu biệt”-
một cách làm hay trong giáo dục tư tưởng HS…………………………….
12
3.3. Thực hiện tích hợp giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh trong giờ
học…………………………………………………………………………
13
3.4. Tổ chức hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ, sinh hoạt dưới cờ, sinh
hoạt chủ nhiệm với chủ đề giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh THPT
nói chung và HS khối 11 nói riêng…………………………………………
14

III. GIÁO ÁN VÀ HỒ SƠ MINH CHỨNG……………………….…….
18
1. Giáo án phát triển năng lực bài “Xuất dương lưu biệt” ………………...
18
2. Các hồ sơ minh chứng…………...……………………………………
31
IV. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM………………….……………….…..
44
1. Mục đích thực nghiệm sư phạm ………………………………..……...
44
2. Nội dung thực nghiệm sư phạm……………………………......………
44
3. Đối tượng thực nghiệm …………………………………...………….....
44
4. Tiến hành thực nghiệm …………………………….………....…………
44
4.1. Chuẩn bị cho TNSP …………………………………....……………
44
4.2. Phương pháp thực nghiệm ………………………………........……....
44
5. Kết quả thực nghiệm ………………………...…………….........…….....
45
PHẦN 3. PHẦN KẾT LUẬN ……………………………..…………......
46
I. Đóng góp của đề tài……………………..……………………...……...
46
II. Khả năng mở rộng, phát triển của đề tài……………………………
47
III. Một số kiến nghị đề xuất …………………………………………….
47
TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………
49
PHỤ LỤC ………………………………………………………..………..
50

DANH MỤC VIẾT TẮT
THPT: TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
GV: GIÁO VIÊN
HS: HỌC SINH
SKKN: SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GD&ĐT: GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
NQ/TW: NGHỊ QUYẾT/ TRUNG ƯƠNG
TNSP: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
TN: THỰC NGHIỆM
NL: NĂNG LỰC
PPCT: PHÂN PHỐI CHƯƠNG TRÌNH

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lí do chọn đề tài
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân,
tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục
học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết
quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu
biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá
nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học
nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta đối với giáo dục trong giai đoạn hiện
nay là phải đổi mới phương pháp để phát huy được khả năng sáng tạo của người
học. Đây là yêu cầu đổi mới mạnh mẽ về mặt phương pháp nhằm khắc phục lối
truyền thụ kiến thức một chiều đồng thời hình thành và rèn luyện lối tư duy sáng
tạo ở học sinh. Đặc biệt đối với môn Ngữ Văn, ngoài việc giúp học sinh có năng
lực ngôn ngữ để học tập, có năng lực giao tiếp, nhận thức cuộc sống, môn học
cũng góp phần bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu cảm xúc thẫm mĩ và định
hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách. Vì vậy tạo hứng thú cho học
sinh trong mỗi giờ học ngữ văn bằng các phương pháp dạy học tích cực, kết hợp
giáo dục tư tưởng đạo đức để nâng cao hiệu quả giờ học và hình thành những phẩm
chất, năng lực cho học sinh là điều rất cần thiết.
Giáo dục đạo đức là một bộ phận của Giáo dục, là người GV phải luôn hướng
đến hình thành những nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Mỗi người giáo viên,
với vai trò trách nhiệm nghề giáo không chỉ hướng dẫn, khơi gợi học sinh khám
phá tri thức khoa học mà cần giáo dục tư tưởng đạo đức để mỗi ngày hoàn thiện
nhân cách, để sau này trở thành những công dân tốt, những người sống có ích cho
xã hội. Trong một xã hội có giáo dục, mối quan hệ giữa con người và con người
dựa trên những chuẩn mực xã hội sẽ tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển bền
vững kinh tế xã hội, sẽ tạo nên một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và đem
đến cuộc sống vui tươi hạnh phúc cho tất cả mọi người.
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Trong giáo dục không những phải có
tri thức phổ thông mà phải có đạo đức cách mạng. Có tài phải có đức. Có tài không
có đức tham ô hủ hóa có hại cho nước. Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong
chùa, không giúp ích gì được cho ai”. Cũng vì vậy, giáo dục đạo đức chính là một
mục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông từ xưa đến nay. Bởi, nó tác động đến
đối tượng giáo dục để từ đó hình thành những nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt
đẹp theo chuẩn mực xã hội; hiểu được những khái niệm về công bằng, về cái thiện,
cái đẹp, cái ác, cái xấu xa, về lương tâm, danh dự và những phạm trù khác thuộc
lĩnh vực đạo đức tinh thần của xã hội. Chỉ khi được giáo dục tốt, con người mới

