intTypePromotion=1

SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 9

Chia sẻ: Ashfjshd Askfaj | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:32

0
93
lượt xem
16
download

SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 9

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đa số các loại dầu đánh sáng bạc có chứa cyanua. Nếu không được rửa sạch để loại bỏ phần còn lại của dầu đánh sáng bạc, sẽ có thể dẫn đến kết quả bị viêm dạ dày ruột với việc ra mồ hôi lạnh, mắc chứng da xanh tím, rối loạn thần kinh và kiệt sức. Axít nicotinic: để giữ màu tự nhiên của thịt có chất lượng thấp, người buôn bán cho axit nicotinic hoặc natri nitrat vào chúng. Việc nấu nướng không thể phá huỷ được axit nicotinic. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: SỨC KHỎE MÔI TRƯỜNG part 9

  1. nghiệm ăn, được phát hiện ra là chất gây ung thư hoặc gây quái thai (có thể gây những bất thường ở phổi). Dầu đánh sáng bạc: Đa số các loại dầu đánh sáng bạc có chứa cyanua. Nếu không được rửa sạch để loại bỏ phần còn lại của dầu đánh sáng bạc, sẽ có thể dẫn đến kết quả bị viêm dạ dày ruột với việc ra mồ hôi lạnh, mắc chứng da xanh tím, rối loạn thần kinh và kiệt sức. Axít nicotinic: để giữ màu tự nhiên của thịt có chất lượng thấp, người buôn bán cho axit nicotinic hoặc natri nitrat vào chúng. Việc nấu nướng không thể phá huỷ được axit nicotinic. Phương pháp phòng chống • Tập thói quen cẩn thận khi cất giữ và sử dụng các chất hoá học • Các chất hoá học nên được cất giữ tách biệt với thức ăn và để ngoài tẩm với của trẻ em. • Việc sử dụng chất nhuộm màu trong chế biến thực phẩm phải hạn chế tối đa sự nhầm lẫn với những sản phẩm dinh dưỡng. • Tránh dùng các đồ dùng nhà bếp, bình, lọ, khay và thùng chứa có dấu hiệu khả nghi. Các bộ dụng cụ bằng inox, mặc dù đắt hơn, nhưng là điều cần thiết và an toàn nhất. • Tất cả hoa quả không thể bỏ vỏ được và những rau có nhiều lá nên được rửa kỹ trước khi ăn. Những thực vật có chứa độc chất Có hơn 600 loài thực vật có thể gây bệnh và thậm chí gây tử vong đã được biết đến. Cây có quả mọng và các hạt: Trẻ em thường hay bị nhiễm độc, tử vong trong một số trường hợp như sau khi ăn phải những 253
  2. cây có quả mọng, có màu sáng đẹp hoặc còn xanh như là Daphne mezerion, cà độc dược và Latana cancra. Hạt của cây tương tư được xâu thành vòng cổ và bán cho du khách như là đồ lưu niệm. Một hạt loại đó nếu bị nhai có thể sẽ giết chết đứa trẻ nhai nó. Các vòng cổ bằng hạt nhỏ như hạt đậu trong có chứa chất nhựa tổng hợp, là độc đối với trẻ nhỏ. Các cây có quả mọng như cây thuỵ hương, cây hoa nhài, cây cứt lợn, và cây thuỷ tùng có thể gây chết đối với trẻ em. Vườn thực vật: trong vườn thực vật có thể tìm được nhiều hạt độc của cây phi yến, cùi của rễ cây phụ tử, lá và hoa của cây hoa loa kèn thung lũng, củ của cây nghệ tây mùa thu, thân ngầm của cây lưỡi đòng, các phần của cây đỗ quyên và lá của cây mao địa hoàng. Người thổ dân Delaware châu Mỹ dùng cây nguyệt quế trên núi để làm thuốc độc tự sát. Hoa của cây đỗ quyên sản sinh ra một loại mật độc. Các hạt và lá của cây cà độc dược có thể gây ngộ độc cà độc dược với biểu hiện khát nước khác thường, rối loạn thị lực, mê sảng, nói không mạch lạc và hôn mê. Các cây ở ngoài đồng: có vài loại cây sinh trưởng ngoài cánh đồng không nên dùng đến. Cây mao lương sản sinh ra một loại nhựa có thể gây viêm ruột và dạ dày. Cây cà độc dược gây ra những triệu chứng ngộ độc về hệ tiêu hoá và thần kinh có thể dẫn tới chết. Con người đã từng nghe nói đến chất độc từ cây độc cần, một chất độc đã giết chết nhà triết học cổ người Hy Lạp Socrates. Cây cảnh trong nhà: cây cảnh sẽ có thể gây buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và thậm chí dẫn đến chết. Lá và cành của cây trúc đào có chứa 1 chất gây kích thích tim rất mạnh đến nỗi nếu ăn phải một đứa trẻ có thể bị tử vong. Có báo cáo thông báo 254
  3. rằng những người bị chết chỉ đơn thuần do ăn thịt nướng xiên bằng cành cây trúc đào: Các cây độc: cây tầm gửi và bộ lá của cây anh đào (cây anh đào tiết ra cyanide), nếu bị ăn phải sẽ gây kích động, thở gấp và táo bón. Hạt mơ cũng chứa cyanide và không nên ăn nó. Quả đấu là thức ăn của các loài sóc nhưng nếu trẻ em nhai chúng sẽ bị bệnh với các vấn đề về thận. Các món ăn: cà chua và khoai tây là các loại ăn được nhưng lá của chúng và lá cây nho đều chứa các chất thuộc nhóm alkaloid độc có thể gây rối loạn thần kinh và tiêu hoá. Lá cây đại hoàng có chứa 1% axit oxalic có thể gây kết tinh ở trong thận nếu ăn một lượng lớn dù cho đã nấu hoặc ăn sống và có thể gây co giật thậm chí tử vong. Phương pháp phòng chống Giữ tất cả các thực vật khỏi bị trẻ em gặm Dạy cho lũ trẻ không bao giờ cho những thực vật hoặc quả mọng không dùng làm thức ăn đó vào miệng chúng Không dùng các cây cỏ trong khi pha chế đồ uống hoặc thuốc chữa bệnh trừ phi biết chắc chúng an toàn. Không nhai các thân cây. Ngộ độc thức ăn tự nhiên Một số thức ăn tự nhiên chứa chất hoá học độc hại, nhưng trong đa số trường hợp các độc tố thiên nhiên không đe doạ đến sức khoẻ của con người đi vì chúng xuất hiện với một lượng nhỏ mà cơ chế tự bảo vệ của cơ thể có thể xử lý chúng. Các chất độc sau được tìm thấy ở các thức ăn tự nhiên: - Axit oxalic: Can thiệp vào quá trình hấp thụ canxi của cơ thể. 255
  4. - Tannin: Một chất độc và có thể là chất hoá học gây ung thư. - Nitrat: Có thể gây viêm đường tiêu hoá nặng. - Asen: Một chất độc rất mạnh. - Solanine: Một chất độc thần kinh dạng alkaloid can thiệp vào quá trình truyền xung thần kinh. Các thức ăn có chứa một lượng nhỏ chất độc được sản xuất tự nhiên là: • Khoai tây - vỏ của khoai tây xanh và mầm có chứa solanine • Cây đại hoàng và cây rau bina - chứa axit oxalic như đã thảo luận ở trên • Cải bắp, cải brussel, đậu tương, mù tạt và hành - có thể chứa các chất hoá học có thể gây bướu cổ bằng cách ngăn cản sự hấp thụ một lượng đủ iôt của cơ thể. • Khoai lang, đậu Hà Lan, quả anh đào, quả mơ, và đậu Lima - tất cả đều có các chất hoá học liên quan tới cyanua. • Cà phê - có chứa caffêin làm cho một số người nghiện. • Các chất gia vị - một số lẫn gia vị chứa safrol (một chất chiết xuất từ rễ cây dễ vàng) ở một lượng lớn có thể gây ung thư gan. Con người có thể sống bởi vì may mắn là các chất độc ở một số thức ăn bị bất hoạt bởi nhiệt độ. Không thể tránh hoàn toàn được các chất độc trong thức ăn thiên nhiên. Thậm chí tác hại của chúng ở nồng độ mà chúng tồn tại trong thực phẩm có thể gây nguy hiểm nếu sử dụng hàng ngày một lượng lớn chất đó có trong một loại thực phẩm nào đó. Một người nên ăn theo một chế độ dinh dưỡng cân bằng và tránh tập trung vào bất kỳ một loại thức ăn nào bởi vì một lượng nhỏ chất độc thì có thể chịu đựng được nhưng một lượng lớn chất đó thì có thể gây bệnh. 256
  5. Hiện tượng ngộ độc đậu tằm là một bệnh gây ra bởi ăn một lượng lớn đậu tằm. Đậu tằm (Vicia fava) là một trong các thức ăn chính của các quốc gia Địa Trung Hải, được trồng và tiêu thụ ở khu vực này từ những người Italia đến từ đường biển. Mối nguy hiểm là do một nucleoside (vicine) gây ra bệnh chảy máu, vì thế có triệu chứng là có máu ở trong nước tiểu. Nếu ăn các loại đậu mà chưa nấu kỹ như các loại đậu giữa, đậu hoa, đậu tây, đậu nhiệt đới Mỹ, đậu màu xanh dương và đậu tương bị phát hiện có chứa chất làm ngưng kết hồng cầu có thể gây ngưng kết các tế bào hồng cầu. Trong những tháng trời ấm, sinh vật phù du Convaulax phát triển phong phú dồi đào, nó làm nước chuyển thành màu đỏ. Những con trai ăn các loại tảo silic này trở nên độc. Vào dịp "thuỷ triều đỏ" này, các plankton chứa một alkaloid rất mạnh và độc đến nỗi chỉ vài miligram có thể gây chết trong vòng 5 - 30 phút. Một số loài cá độc do chúng chứa một lượng chất độc thần kinh một cách tự nhiên : không đề cập đến thuỷ ngân và các chất khác v.v... từ nước bị ô nhiễm. Một số loại cá có thể gây ngộ độc nếu ăn cá. Các nguyên tắc cơ bản cho việc ngăn chặn các bệnh đi kèm với thực phẩm Những hiểu biết chung coi thực phẩm như là một loại hàng dễ hư hỏng. Thịt bắt đầu giảm giá trị rất nhanh sau khi giết mổ; cá bắt đầu hỏng ngay khi chúng bị bắt khỏi nơi sống tự nhiên của mình; hoa quả và rau trở nên hư hại sau khi thu hoạch. Một điều cực kỳ quan trọng là các thức ăn được đụng chạm vào, được chế biến và cất giữ với một cách mà không làm gia tăng sự hư hỏng thêm nữa, ngăn cản sự nhân lên của bất kỳ sinh vật nào 257
  6. chứa trong thức ăn đó và loại trừ được sự đưa vào thêm các nhân tố mang mẩm bệnh. Các phương pháp kiểm soát Các phương pháp khử trùng khi tiếp xúc Ứng dụng nhiệt đẻ tiêu diệt bất kỳ sinh vật còn sống nào có thể hiện diện ở thức ăn. Làm lạnh lại ở nhiệt độ đủ thấp để ngăn cản sự sinh trưởng của vi sinh vật. Việc làm vệ sinh cá nhân trước khi ăn uống Đa số các vụ bùng nổ bệnh đi kèm với thực phẩm là do công tác vệ sinh trong tiếp xúc với thức ăn. Không còn nghi ngờ rằng một số lượng đáng kể các ca bệnh đường tiêu hoá đã có thể tránh được nếu những người chuẩn bị và phục vụ thức ăn gây ra bệnh dành thì giờ để rửa tay của họ sau khi đi vệ sinh trước khi chạm vào thức ăn. Những cá nhân bị nhiễm trùng ngoài da, nhiễm trùng đường hô hấp trên hoặc bị bệnh đường tiêu hoá nên tránh khỏi việc chuẩn bị thức ăn. Sử dụng nhiệt Mặc dù không thể dựa vào việc nấu nướng để phá huỷ các độc tố và các chất hoá học gây ra ngộ độc thức ăn, nhưng nó sẽ tiêu diệt các sinh vật mang mầm bệnh hiện diện trong thực phẩm. Ở vùng trung tâm của thức ăn nên đạt đến nhiệt độ 73,9oCđến 76,6oC (1650 đến 170oF). Phân thức ăn còn lại nên đun lại để đạt đến tối thiểu là 73,9oC (1650F) trước khi được phục vụ. Khi phục vụ hoặc khi cắt thành lát các miếng thịt hoặc con gà đã nấu chín, không nên để cùng bàn với những miếng thịt chưa được nấu. 258
  7. Làm lạnh Mọi cơ sở chế biến thực phẩm phải có các thiết bị làm lạnh đầy đủ để các thức ăn dễ hỏng được giữ gìn ở khoảng 00C đến 4,40C (32o đến 40oF) để ngăn cản sự sinh ra các độc tố. Thức ăn không nên để ở nhiệt độ giữa 7,20C và 600C (45o - 140oF) vì sự ủ bệnh và nhân lên của các mầm bệnh rất thích hợp với nhiệt độ này. Thức ăn nên được làm lạnh càng sớm càng tốt sau khi chúng được chế biến. Nếu thực phẩm được làm đóng băng, phần trung tâm của nó phải được xuống tới nhiệt độ -32oc (00F) hoặc thấp hơn. Làm vệ sinh sữa Sữa được mô tả như là một thực phẩm tự nhiên gần như hoàn hảo với người và vi sinh vật. Vì vậy cần cực kỳ cẩn thận để ngăn ngừa sữa khỏi sự lan truyền các nhân tố gây bệnh về mặt sinh học, hoá học và vật lý. Vì sữa có thể trở thành một nơi lan truyền cho những tác nhân gây bệnh này nên cần phải kiểm soát chất lượng sữa. Thí dụ, nông trại, ở kho sữa, từ các phương tiện khử trùng cho tới những nơi sữa được cất giữ và tiêu thụ, cần có các điều sau: một nguồn cung cấp nước uống được; sự bố trí cho việc xử lý vệ sinh chất thải làm vệ sinh các chất thải một cách phù hợp, không có chuột cống và chuột nhắt; kiểm soát ruồi nhặng, muỗi, gián và các loại chân khớp khác; áp dụng các nguyên tắc cơ sở của việc bảo quản thực phẩm (nhiệt và làm lạnh áp dụng cho sữa); và một môi trường an toàn và vệ sinh, bao gồm vệ sinh cá nhân tốt. Có các biên bản và thủ tục giám sát giống như cho các thực 259
  8. phẩm khác, để giám sát các nông trại sản xuất sữa, các thiết bị máy móc khử trùng, và các kho chứa nơi dự trữ sữa. Vì vậy, sữa cũng như các thực phẩm khác, yêu cầu áp dụng những nguyên tắc về sức khoẻ và môi trường để tạo ra điều kiện môi trường bất thuận lợi cho các vi sinh vật. Sữa lấy từ những con bò khoẻ mạnh thường là vô trùng, nhưng nếu con bò bị nhiễm khuẩn brucell, bị lao hoặc bị viêm vú, thì sữa có thể mang những sinh vật nói trên đến người tiêu dùng. Để ngăn chặn sự lan truyền của các sinh vật này, đàn bò sữa phải được giám sát và kiểm tra. Chúng không nhiễm bệnh brucell và lao. Nếu một con bò bị viêm vú, sữa không thể được đem bán trong khi nó đang mắc bệnh hoặc sau một thời gian nào đó sau khi nó được điều trị kháng sinh. Vì vậy, theo lý thuyết, nếu chỉ có sữa của các con bò khoẻ mạnh được tiêu thụ, con người chỉ cần quan mm đến sự ô nhiễm sau khi đã vắt sữa. Tất nhiên, người ta không thể chắc chắn rằng sữa đó từ một con bò khoẻ mạnh, vì thế tất cả sữa nên được khử trùng như là một sự đề phòng thứ hai. Tóm lại, con người cố gắng lấy sữa từ các con bò khoẻ mạnh hoặc các động vật cho sữa khoẻ mạnh khác và chắc chăn rằng nó không bị ô nhiễm sau khi.nó rời tuyến sữa: Để đạt tới mục tiêu này, con người cần thiết phải đơn ngay sữa từ con bò đến người tiêu thụ. Các nguyên tắc cơ bản của việc khử trùng sữa Khi chiếc xe tải chở sữa tới các thiết bị khử trùng, sữa được dẫn từ xe tải vào một thùng sữa lớn. Khi đến giờ khử trùng sữa, sữa được dẫn qua từng bộ phận khử trùng, qua máy làm lạnh và cuối cùng dẫn tới các chỗ chứa. Chiếc thùng chứa đã được niêm phong được đặt ở buồng làm lạnh để chở tới các cửa hàng thực 260
  9. phẩm, các gia đình, các nhà hàng...nơi sữa được tiêu dùng. Vì vậy không thể dẫn sữa đã được làm vệ sinh tới mọi cửa hàng thực phẩm, mọi nhà hàng và gia đình, quá trình như đã nói ở trên được áp dụng cho sữa để ngăn cản sự xâm nhập của các vi sinh vật, chất hoá học, v.v... thông qua ruồi nhặng, gián và con người. Sữa nên được làm lạnh nhanh chóng sau khi vắt và được giữ lạnh cho đến khi nó được khử trùng và tiếp theo là được tiêu thụ. Lý do để làm lạnh là để kiểm soát sự sinh sôi của các sinh vật - các mầm bệnh và các sinh vật ưa nhiệt độ thấp (các sinh vật thích lạnh). Cần phải nhấn mạnh rằng đối với sữa cũng như đối với các chương trình môi trường, chìa khoá là hoạt động ngăn chặn kiềm chế. Thí dụ, nếu sữa không được làm lạnh nhanh và các vi khuẩn Staphyloccocal xuất hiện, chúng sẽ nhân lên và tiết ra các độc tố bền với nhiệt độ và không bị phá huỷ bằng các quá trình diệt khuẩn. Bằng cách nào mà các vi khuẩn Staphylococcal đi vào sữa được? Từ những người ho và hắt hơi vào sữa hoặc từ những ngón tay bị nhiễm khuẩn. Chứng viêm vú cũng do các vi khuẩn Staphylococcal và Streptococcus xâm nhập vào vú và gây nhiễm khuẩn và do đó làm ô nhiễm sữa. Rất cần thiết phải duy trì chất lượng sữa ở nông trại, trong quá trình khử trùng và cất giữ. Vì thế, có nhiều cách kiểm tra trên sữa còn tươi sống và sữa đã khử trùng để xác định chất lượng của chúng. Sự khử trùng sẽ làm cho hầu hết sữa trở nên an toàn. Tuy nhiên, mục tiêu của sự giám sát quá trình cung cấp sữa là để đảm bảo có một nguồn cung cấp sữa tươi tốt, với sự khử trùng như là một nhân tố đảm bảo an toàn. Sữa tốt nghĩa là các con bò khoẻ mạnh, chuồng sạch sẽ, phương pháp vắt sữa tốt 261
  10. và các thiết bị tốt và đội ngũ nhân viên khoẻ mạnh để làm việc. Vì sữa là môi trường gần như hoàn hảo cho sự sinh trưởng của các vi sinh vật và đó là thức ăn chính cho trẻ sơ sinh, sữa luôn được theo dõi rất cẩn thận bởi các cơ quan chính quyền và ngành công nghiệp sản xuất sữa, những người sản xuất sữa sẽ được phân cấp hoặc họ sẽ bị ngăn cản hoàn toàn việc bán sữa nếu sữa đó không thoả mãn các tiêu chuẩn khắt khe. Cần phải nhấn mạnh rằng phần lớn công việc kiểm tra sữa ở nông trại được thực hiện bởi các máy móc. Nói tóm lại, nếu họ mua phải một sản phẩm kém phẩm chất, thì điều đó lại mang lại một gánh nặng cho cả ngành này để có một sản phẩm sẽ phải thoả mãn được các tiêu chí của các cơ quan quản lý, như là Bộ Nông nghiệp và Bộ Y tế. 5.6 Sức khoẻ và sự phóng xạ 5.6.1 Định nghĩa phóng xạ Sức khoẻ phóng xạ, còn gọi là vật lý học sức khoẻ, nhằm chỉ sự đề kháng của con người đối với những tác hại với sức khoẻ do phóng xạ, để cân bằng với những lợi ích mà nó mang lại. Sức khoẻ phóng xạ cũng giới hạn ở các phóng xạ ion hoá, nó tương tác với vật chất để tạo thành các hạt tích điện. Người ta đã xác định rằng có cả phóng xạ điện tử (tia X và tia gamma) và phóng xạ hạt (alpha, beta, neutron và các phóng xạ khác). Các phóng xạ khác tôn hoá dưới những điều kiện cụ thể hạn chế, chẳng hạn như tia cực tím, ánh sáng nhìn thấy được, và các phóng xạ khác thì sẽ không được tính đến trong sức khoẻ phóng xạ. Người ta phân biệt giữa phóng xạ ion hoá trực tiếp, là chỉ có phóng xạ bao gồm các hạt tích điện, với phóng xạ gián tiếp, là 262
  11. gồm các phóng xạ hạt trung tính và điện tử. Phóng xạ ion hoá trực tiếp sinh ra một lượng khá lớn các con, chủ yếu qua tương tác với các electron quỹ đạo của nguyên tử. Ngược lại, phóng xạ ion hoá gián tiếp sản sinh ra một lượng nhỏ các hạt tích điện, và từ đó sinh ra thêm các con . 5.6.2 Nguồn phóng xạ Có lẽ tranh luận về các nguồn tiếp xúc chính với phóng xạ ion hoá bắt đầu với việc sử dụng tia X trong chẩn đoán. Ở một số nước, đây là một nguồn tiếp xúc đặc biệt quan trọng không qua nghề nghiệp. Vì vậy, các cơ quan quản lý cố gắng giảm thiểu quá trình tiếp xúc bằng cách đảm bảo sử dụng các thiết bị X- quang an toàn và các thiết bị này được lắp đặt, duy trì và vận hành chính xác. Trong những năm gần đây, người ta cũng nhận thấy rằng ra don (hay cụ thể hơn là một số sản phẩm phân rã của chúng) là một nguồn tiếp xúc phóng xạ không qua nghề nghiệp lớn. Radon được phát hiện tự nhiên ở trong đất với mức độ đa dạng khác nhau. Nhiều thành phần trong xây dựng nhà cửa (chẳng hạn những khe hở mà khí lọt qua được) có thể làm tăng lượng radon xâm nhập. Nên kiểm tra lượng radon trong không khí ở trong nhà và việc lấy mẫu cũng tương đối đơn giản, thường là bắt đầu bằng lắp đặt thiết bị hấp thu carbon hoạt tính. Nếu thấy lượng radon cao, thì cần phải áp dụng các giải pháp xây dựng cần thiết để giải quyết. 263
  12. Cũng có nhiều nguồn tiếp xúc đáng kể khác. Rất nhiều nguồn tiếp xúc là do sử dụng nuclit phóng xạ trong y tế (đặc biệt là technetium-99m) cũng như trong công nghiệp và nghiên cứu. Nhìn chung vòng nhiên liệu hạt nhân cũng thể hiện một số tiếp xúc không qua nghề nghiệp với phóng xạ ion hoá, nhưng lại nảy sinh mối quan ngại về hiểm hoạ phát tán và về số lượng các nguồn tiếp xúc tăng lên trong tương lai. Một số hàng tiêu dùng, chẳng hạn như máy phát hiện khói, cũng tiềm ẩn khả năng chứa phóng xạ ion hoá. Các vũ khí hạt nhân cũng vậy, cả về khía cạnh thử hạt nhân trên không (hiện nay được tiến hành khá nhiều) và cả về khả năng được mang ra sử dụng trong chiến tranh. Cũng có nhiều nguồn tiếp xúc phóng xạ ion hoá khác nữa. 264
  13. 5.6.3 Năng lực phóng xạ Cấu trúc nguyên tử có liên quan chặt chẽ với sự phát thải phóng xạ. Hình 10 chỉ ra cấu trúc chung của một số đồng vị đặc biệt của hydrogen và uranium. Rất nhiều nuclide (mỗi nuclide có một số nguyên tử và số khối riêng), gồm cả tự nhiên và nhân tạo, phải trải qua quá trình phân rã tự phát để trở thành dạng đơn giản hơn. Quá trình này, đa phần là có liên quan đến sự phát thải phóng xạ, được gọi là năng lực phóng xạ. Sự phân rã các nuclide xảy ra theo nguyên tắc nuclide đó tiến dần tới trạng thái ổn định. Một tiêu chuẩn quan trọng của trạng thái ổn định của nuclide là tỷ lệ neutron trên proton của nuclide đó. Với các nguyên tử có khối lượng nguyên tử thấp, thì cần có tỷ lệ neutronf proton xấp xỷ bằng 1 để đạt trạng thái cân bằng. Các nguyên tử có khối lượng nguyên tử cao hơn thì lại cần có tỷ lệ này cao hơn. Các dạng nuclide phóng xạ là: 1. Phát thải Alpha - Hạt Alpha có điện tích +2 và số khối là 4 và có cấu trúc tương tự hạt nhân helium. Chúng được phát thải nhờ có nuclide khối lượng nguyên tử tương đối cao, và sự hao hụt khối lượng làm sinh ra sản phẩm gần đạt tới trạng thái cân bằng. Các hạt alpha tương đối phát sinh từ một nuclide nhất định đều có cùng năng lượng, mặc dù một nuclide có thể sinh ra nhiều hạt alpha có năng lượng khác nhau. Do đó, mọi hạt alpha tương đối phát sinh từ một nuclide nhất định đều chuyển động với cùng một khoảng cách trong một vật chất đồng nhất. Các hạt alpha sinh ra sự ion hoá rất cao, mặc dù chúng thuyền động ở khoảng cách khá ngắn do có khối lượng và điện tích cao. Chất phát thải alpha được đặc biệt chú ý tới khi chúng xâm nhập cơ thể và trở thành nguồn bên trong cơ thể. Vì vậy, cần có các biện 265
  14. pháp ngăn chặn các chất phát thải alpha xâm nhập cơ thể. 2. Phát thải Beta - Hạt Beta có điện tích - 1 và số khối là 0 (dù chúng cũng có khối lượng khá nhỏ). Mặc dù cũng tương tự các electron tốc độ cao, các hạt beta được phát thải nhờ các hạt nhân. Các chất phát thải beta nhìn chung là có tỷ lệ neutron . trên proton quá cao để có thể đạt trạng thái ổn định, và sự phát thải hạt beta khiến một neutron sẽ chuyển thành proton, do đó làm giảm tỷ lệ neutron trên proton. Các hạt beta sinh từ một nuclide nhất định thì nằm trong một khoảng năng lượng, nhưng có mức năng lượng maximum và trong bình nhất định. Nói chung các hạt beta chuyển động theo khoảng cách lớn hơn hạt alpha, điều này tương ứng với mức độ sản sinh ion hoá thấp hơn trong vật chất. Người ta lo ngại rằng phóng xạ beta là một nguồn tiếp xúc nội tại, nên cần có các biện pháp bảo vệ chẳng hạn như để tránh nhiễm độc vào không khí hay qua da, và phóng xạ beta cũng rất có thể là một nguồn tiếp xúc từ ngoài, tuy nhiên ngăn chặn tương đối đơn giản (có khi chỉ cần ngăn bằng plastic). 3. Phát thải positron - Các hạt positron có cùng khối lượng như các hạt beta, nhưng điện tích ngược lại là +1. Chúng được phát thải nhờ hạt nhân của các nguyên tử có tỷ lệ neutron trên proton quá thấp để có thể đạt được trạng thái cân bằng, và kết quả tạo ra sẽ có tỷ lệ này cao hơn. Phát thải positron là một dạng phân rã nuclide phóng xạ, nhưng positron không mang độ độc hại đáng kể do chúng bị tiêu huỷ khi chúng liên kết với các electron quỹ đạo, đó là kết quả của sự sản sinh năng lượng. 4. Phát thải tia X và tia gamma - Đây là các dạng phóng xạ điện từ, bao gồm các photon chuyển động trong các bước sóng với tốc độ ánh sáng. Tuy nhiên, các tia gamma được phát thải 266
  15. bởi các hạt nhân, điển hình là theo sự phát thải hạt, trong khi tia X hình thành từ cấu trúc electron quỹ đạo. Người ta đã nhận thấy một ví dụ về phát thải photon tia X trong sự giữ lại electron quỹ đạo, còn gọi là bắt giữ-k, trong đó hạt nhân bắt giữ một electron quỹ đạo, thường là từ lớp vỏ k. Một electron với mức năng lượng cao hơn sẽ lấp vào vị trí trống đó, với năng lượng vượt trội của nó phát tán ra thành photon tia X. Bắt giữ electron quỹ đạo thường xảy ra ở các nuchde có tỷ lệ neutron/ proton quá thấp để có thể đạt được trạng thái cân bằng, và dạng phân rã này dẫn tới sự tăng tỷ lệ neutron/ proton lên. Tia X và tia gamma có năng lượng đặc trưng của các nuclide riêng biệt, mặc dù một số nuclide mà thường được sử dụng như là nguồn gamma trong y học lại phát thải ra phóng xạ có năng lượng cao hơn phần lớn các thiết bị chẩn đoán X quang. Tia X và tia gamma trở nên rất đáng kể nếu là từ nguồn bên ngoài, và các nuclide mà phát thải ra tia X và tia gamma cũng rất độc hại vì đó là các nguồn nội tại. 5. Phát thải neutron - Các neutron có số khối là 1 (mặc dù khối lượng của nó có phần lớn hơn khối lượng của một proton) và không có điện tích thực. Chúng chuyển động nhiều mặc dù chúng không có nhiều chiều hướng sẽ sản sinh ra ion hoá. Phóng xạ neutron có thể là đáng kể từ các nguồn bên trong và bên ngoài, và nó cũng liên quan đặc biệt với sự phân đôi hạt nhân. 6. Các dạng phân rã khác - Người ta đã phát hiện được rất nhiều dạng phân rã khác, bao gồm cả biến đổi trong (một photon gamma từ một hạt nhân sẽ chuyển một lượng năng lượng cần thiết cho một electron quỹ đạo đủ để đây nó ra khỏi nguyên tử) và biến đổi đồng dạng (một nuclide có năng lượng cao hơn sinh ra một photon gamma và đạt được trạng thái năng lượng thấp 267
  16. hơn). Một thảo luận đầy đủ về năng lượng phóng xạ sẽ bao gồm nhiều khía cạnh bổ sung. Mọi nguyên tử của một nuclide phóng xạ cá biệt đều phân rã theo một cách nhất định. Mặc dù có nhiều phương thức phân rã đối với nhiều loại nuchde, mỗi cách lại xảy ra theo một tỷ lệ riêng biệt khác nhau. Nhìn chung kết quả phân rã phóng xạ là biến đổi thành một nuclide phóng xạ mới. Đã phát hiện được ba nhóm phóng xạ trong tự nhiên, một nuclide phân rã để tạo thành một dạng khác, cho tới khi đạt được trạng thái cân bằng nuclide. Ba nhóm đó là uranium, thorium, và neptunium. Nhóm thứ tư là actinium hiện nay có thể tạo ra được bằng phương pháp nhân tạo. Phóng xạ từ các nuclide khác nhau thì mang năng lượng cũng khác nhau, và những năng lượng được biểu thị bằng đơn vị mega electron volt (MeV). Hơn nữa, sự phân rã xảy ra đều đặn đối với một dạng phóng xạ nhất định. Tức là, một phân số xác định của tổng số các nguyên tử biểu thị sự phân rã tính trên đơn vị thời gian. Khái niệm chu kỳ bán phân rã cũng có liên quan ở đây. Chu kỳ bán phân rã là một độ dài thời gian xác định đối với một nuclide phóng xạ bất kỳ, nó chỉ khoảng thời gian cần thiết để một nửa số nguyên tử của một nuclide nhất định nào đó có thể phân rã. 5.6.4 Đơn vị đo sức khoẻ phóng xạ Độ phóng xạ chỉ lượng một nuchde phóng xạ với tỷ lệ phân rã phóng xạ đang diễn ra của nó. Đơn vị đo độ phóng xạ truyền thống của Mỹ là Curie (Ci), về cơ bản được định nghĩa là lượng của một nuclide phóng xạ bất kỳ mà tạo ra 3,7 x 1010 phân rã trên 1 giây. Đây là một lượng hoạt động phóng xạ lớn, và các đơn vị đo khác gồm có millicuries (l mCi 10-3 Ci), microcuries (l - uCi = 10-6 Ci), và picocuries (1pCi = 10-12 Ci). Tuy nhiên, 268
  17. đơn vị đo độ phóng xạ được khuyến khích sử dụng là một đơn vị SI, được chọn là chuẩn quốc tế, là đơn vị Becquerel (Bq) được định nghĩa là lượng của một nuclide bất kỳ mà tạo ra 1 phân rã trong 1 giây (1 Ci = 3,7x1010Bq). Các thiết bị quan trắc phóng xạ, ít nhất là với các thiết bị được sử dụng phổ biến nhất, đều do sự tiếp xúc dựa trên một đơn vị gọi là roentgen. Một roentgen được đình nghĩa là lượng phóng xạ tia X hoặc tia gamma mà, cùng với các phóng xạ hạt liên kết khác, sản sinh ra trong không khí một đơn vị ion dương tĩnh điện cùng với một đơn vị ion âm tĩnh điện, tính trên một centimet khối không khí chuẩn, trong điều kiện tiêu chuẩn . Các đơn vị phóng xạ khác cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc ước tính liều lượng phóng xạ so với tiêu chuẩn. Bao gồm: 1. Đơn vị liều lượng hấp thụ - RAD là đơn vị được sử dụng truyền thống tại Mỹ. Một RAD được định nghĩa là liều lượng của một dạng phóng xạ ion hoá bất kỳ mà sản sinh ra năng lượng hấp thụ là 1 x 10-5 jun/ gram trong một vật chất cụ thể bất kỳ. Đối với hệ thống SI, đơn vị liều lượng hấp thụ là Gray (Gy) được định nghĩa là một Gray biểu thị sự hấp thụ 1 x 103jun/gram (l Gy - 100 RAD). 2. Đơn vị liều lượng tương đương - Cơ sở cho cách tiếp cận này là cùng một liều lượng hấp thụ có thể mang lại những mức độ tổn hại khác nhau, tuỳ thuộc vào dạng phóng xạ ion hoá có liên quan. REM là đơn vị liều lượng tương đương phổ biến Mỹ, được tính như sau: Liều lượng tương đương = Liều lượng hấp thụ x Yếu tố chất lượng (tính bằng REM) (tính bằng RAD) Yếu tố chất lượng (QF) biểu thị chiều hướng tương đối gần 269
  18. đúng của mỗi loại phóng xạ sinh ra tác động sinh học. REM có thể biểu hiện chuẩn cơ bản của tiếp xúc phóng xạ, như là mức tiếp xúc tối đa hàng năm là 5 REM (tiếp xúc qua công việc). Với hệ SI của đơn vị, liều lượng tương đương được biểu thị qua Sievers, được định nghĩa bởi một phương trình tương tự. Tuy nhiên, Sievers lớn hơn REM tới 110 lần. Hình 11 Sơ đồ phân rã phóng xạ 5.6.5 Thiết bị đo phóng xạ Các thiết bị thông dụng nhất để đo phóng xạ vận hành trên nguyên tắc ion hoá khí. Máy đếm Gei ger -Muller (đôi khi được gọi là máy đếm Geiger hoặc máy đếm GM) là một máy quan trắc xách tay nổi tiếng hơn cả. Trong ứng dụng này, nó đã cung cấp một phương tiện nhạy cảm xác định nguồn ô nhiễm môi trường thông qua phát hiện sự phát thải nuclide, nhưng không được chính xác lắm. Máy đếm tỷ lệ, cũng là thiết bị ion hoá khí, được sử dụng để khu biệt phóng xạ trong điều tra hiện trường. Thiết bị khoang ion hoá, cũng tuân theo nguyên tắc ion hoá khí, 270
  19. thì ít nhạy cảm hơn, để đo các mức phóng xạ có vẻ cao. Các thiết bị dò tinh vi được coi là thiết bị phòng thí nghiệm, thường là trong các hệ thống có máy vi tính chuyên ngành. Các máy đếm tinh thể lỏng được đặc biệt dùng để đo đạc và xác định các nuclide sinh phóng xạ beta. Chúng được ứng dụng trong các môn khoa học đời sống, đáng kể nhất là dò và phát hiện carbon- 14 và hydrogen-3. Các máy dò tinh thể rắn được dùng để dò phát thải gamma. Tuy nhiên, các thiết bị dò bán dẫn đang được sử dụng trong một số thiết bị mới, và mang lại giải pháp tiên tiến và độ nhạy cao hơn. Dụng cụ đo liều lượng cho thấy sự tiếp xúc phóng xạ tích luỹ qua một khoảng thời gian. Thông dụng nhất là dụng cụ quan trắc hạt nhân thể sữa, thường được biết tới là tấm mỏng. Mặc dù nó đưa ra một bản ghi thường xuyên, nhưng giống như dụng cụ đo liều lượng, nó được điều khiển bởi người quan trắc. Các thiết bị khác cũng có cùng chức năng là dụng cụ đo liều lượng phát quang nhiệt (các máy dò TLD) và các thiết bị đo liều lượng khoang bỏ túi. 5.6.6 Kiểm soát tiếp xúc phóng xạ Trong khi phóng xạ có thể gây thiệt mạng trong trường hợp nhiễm cấp tính (xem hình 9.3), thì hiện nay người ta cũng quan tâm nhiều đến các tác động mãn tính của phóng xạ. Trong trường hợp này, tác động đáng kể nhất là ung thư và khuyết tật di truyền. Đó là những tác động stochastic mà liều lượng của phóng xạ đã quyết định tới khả năng xảy ra của tác động đó. Thêm nữa, khái niệm stochastic cũng có cơ sở không ngưỡng, có nghĩa là không có liều lượng nào của phóng xạ đủ thấp để tránh được các 271
  20. tác động đó. Bảo vệ khỏi phóng xạ gồm có kiểm soát tiếp xúc thông qua công việc, liên quan tới giảm thiểu tiếp xúc với tia X, hạn chế tiếp xúc qua đường thực phẩm, không khí, nước, và các biện pháp khác. Có một điểm khác biệt quan trọng là kiểm soát tiếp xúc từ các nguồn bên ngoài khác với kiểm soát nguy cơ từ các nguồn bên trong. Các nguồn bên ngoài chỉ các nguồn bên ngoài cơ thể, chẳng hạn như thiết bị X quang, lò phản ứng phân hạt nhân, hoặc các nguồn khác. Có ba biện pháp chính để kiểm soát phóng xạ từ nguồn bên ngoài là thời gian, khoảng cách và che chắn. Căn cư để hạn chế thời gian là liều lượng phóng xạ là kết quả của tỷ lệ liều lượng nhân với thời gian. Hình 12 Các tác động dự kiến lên con người tại các liều lượng phóng xạ khác nhau Ví dụ, xét một tính huống tiếp xúc phóng xạ qua nghề nghiệp là 5 mREM/giờ, và người ta mong muốn rằng có thể hạn chế 272
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2