Kinh thành Huế
Kinh thành Huế được xây dựng gần 30 năm (từ 1803 đến 1832).mt dãy thành
lũy dài cao 6,60m, dày 21m, với chu vi gần 9.000m. Trên mặt thành ngày xưa có tới
24 pháo đài.Bên ngoài, dọc theo bờ thành có hào sâu bảo vệ.
Kinh thành Huế liên lc với bên ngoài qua 8 cửa trổ theo 8 hướng: Chính Ðông, Chính
Tây, Chính Nam, Chính Bắc, Tây Bắc, Tây Nam, Ðông Bắc, Ðông Nam. Ngoài ra hai
bên KÐài còn có hai cửa Thể Nhơn và Quảng Ðức. Ngoài ra còn có hai cửa bằng
đường thủy ở hai đầu sông Ngự Hà là Ðông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan.
Phía Hoàng Thành ở góc đông bắc có một thành nhỏ, thời Gia Long gọi là Thái Bình, đến
thời Minh Mạng đổi thành Trấn Bình Ðài có chu vi gần 1km, bên ngoài có hào rộng ăn
thông với hào của Hoàng Thành.
Theo nguyên tắc địa lý phong thủy của Ðông Phương và thuyết âm dương-ngũ hành của
Dịch học. Kinh thành quay mặt về hướng Nam, dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng 2
hòn đảo nhỏ trên sông Hương (Cồn Hến – Cồn Dã Viên) làm rồng chầu hổ phục (Tả
Thanh Long – Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ đế đô. Dòng Sông Hương chảy ngang trước mặt
dùng làm Minh Ðường. Bốn mặt kinh thành Huế đều được bao bọc bởi hệ thống sông
ngòi gọi là sông Hộ Thành.
Cửa Hin Nhơn
Ở trong lòng Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành được gọi chung là Ðại Nội.
Hoàng Thành dùng để bảo vkhu vực các quan lễ nghi, chính trị quan trọng nhất của
triều đình và các điện thờ. Tử Cấm thành bảo vnơi làm việc, ăn ở và sinh họat hàng
ngày của nhà vua gia đình..
Ðược xây dựng từ 1804-1833, Ðại Nội có mặt bằng xây dựng theo hình gần vuông, mặt
trước và mặt sau dài 622m, mặt trái và phải 604m. Thành xung quanh xây bằng gạch (cao
4,16m, dày 1,04m), bên ngoài có hthống hộ thành hào, gọi là Kim Thủy Hồ, để bảo vệ
thành. Mỗi mặt trổ một cửa để ra vào: Ngọ Môn (trước), Hòa Bình (sau), Hiển Nhơn
(trái), Chương Ðức (phải). Cửa chính của Ngọ Môn chỉ dành cho vua đi.
Với hơn 100 công trình kiến trúc đẹp, mặt bằng Ðại Nội chia thành nhiều khu vực khác
nhau:
- Từ Ngọ Môn đến Ðiện Thái Hòa làm nơi cử hành các lễ lớn của triều đình.
- Triệu Miếu, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu và Ðiện Phụng Tiên là nơi thờ các vua
chúa nhà Nguyễn.
- Cung Diên Thọ và Cung Trường Sanh là nơi ở của Hoàng Thái Hậu và Thái Hoàng
Thái Hậu.
- PhNội Vụ là nhà kho tàng trữ đồ quý, xưởng chế tạo đồ dùng hoàng gia.
- Vườn Hạ và Ðiện Khâm Văn là nơi các Hoàng tử học tập và chơi đùa.
Tử Cấm Thành: Có mặt bằng cũng gần vuông, cao 3,7m, mặt trước và sau dài 324m; mặt
trái và phải dài 290m. Quanh thành tr10 cửa. Ðại Cung Môn là cửa chính ở mặt tiền chỉ
dành cho vua ra vào, hiện nay đã hư hại hòan toàn. Bức bình phong to rộng dăng ngang
sau lưng đIện Cần Chánh (nơi vua làm việc hàng ngày) là dấu hiệu cho biết thế giới sau
đó chỉ dành riêng cho vua và gia đình. Trong đó có hàng trăm cung nữ và hàng chục thái
giám thường trú để phục vụ hoàng gia. Trong khu vực này có gần 50 công trình kiến trúc
vàng son lộng lẫy bao gồm: điện Càn Thành (nơi vua ở), điện Khôn Thái (nơi vợ chính
vua ở), Duyệt Thị Ðường (nhà hát), Thượng Thiện (nơi nấu ăn cho vua), Thái Bình Lâu
(nơi vua đọc sách),.điện Quang Minh (nơi ở các hòang tử), điện Trinh Minh (nơi các
hòang hậu ở), điện Kiến trung, vườn Cẩm Uyển…
Hệ thống kiến trúc Ðại Nội đã được hoạch định theo những nguyên tắc chặt chẽ, đăng
đối: chia ra các vị trí tiền, hậu, tả, hữu, thượng, hạ, chiêu mục tất cả đều nhất quán. Nó
thể hiện những khái niệm về triết lý chính trị Nho giáo phương đông. Phần lớn các công
trình kiến trúc ở đây đều làm bằng gỗ quý , nhưng cũng không chịu đựng nổi với thiên
tai, khí hậu khắc nghiệt hàng thế kỷ qua và các cuộc chiến tranh tàn phá nặng nề. Cho
nên một số công trình đã bhư hỏng, các di tích quý này hiện nay đang được Nhà nước
quan tâm đầu tư kinh phí để phục hồi, tôn tạo lại từng bước.
NG MÔN
Vừa là cổng chính, vừa là bmặt Ðại Nội, được xây dựng vào năm 1833 khi Minh Mạng
cho quy hoạch lại mặt bằng và hoàn chỉnh hóa tổng thể kiến trúc trong Ðại Nội. Ngọ
Môn là một tổng thế kiến trúc đa dạng, phía trên là lầu Ngũ Phụng với chức năng như
một lễ đài, dùng để tổ chức một số lễ nghi trọng thể như duyệt binh, lễ xướng tên những
người thi đỗ tiến sĩ, lễ ban sóc hàng năm và đây cũng là nơi diễn ra lễ thoái vị của vua
Bảo Ðại – vị vua cuối cùng của Việt Nam vào ngày 30/8/1945.
Theo kinh dịch thì các vvua bao giờ cũng quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ,
cho nên ngay từ thời Gia Long (1802-1819), khi xây dựng kinh đô Huế, các nhà kiến trúc
đã cho hệ thống thành quách và cung điện ở vào vị thế tọa càn hướng tốn (Tây Bắc
Ðông Nam) cũng có nghĩa là hướng Bắc Nam, thuộc Ngọ trên trục Tý – Ngọ, do đó
Minh Mạng đã đặt tên cho chiếc cổng mới xây chính giữa mặt trước hoàng thành là
Ngọ Môn, thay cho tên cũ là Nam Khuyết đài.
Hệ thống nền đài cao gần 5m, xây trên mặt bằng chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m
cánh 27,06m. Ở phần giữa của nền đài trổ ba lối đi. Ngọ Môn dành cho vua đi, Tả và
Hữu Giáp Môn dành cho các quan văn võ theo hầu trong đoàn ngự đạo. Tả và Hữu Dịch
môn nằm ở hai cánh của nền đài, dành cho lính tráng và voi ngựa đi.
Hệ thống lầu ngũ phụnghai tầng, lầu gồm chín bộ mái lợp ngói hoàng lưu ly và thanh
lưu ly, lầu dựng trên nền cao 1,14m xây trên nền đài. Ở tầng trên, mái lầu chia ra thành 9
bộ khác nhau
Tổng thể Ngọ Môn nhìn từ xa như một tòa lâu đài đồ sộ nguy nga, nhưng khi tiếp cận,
trở thành một công trình kiến trúc xinh xắn, đáng yêu, gần gũi với phong cảnh thiên
nhiên và tâm hồn, tình cảm của con người xứ Huế.
ÐiỆn Thái Hòa
Trong phạm vị hoàng cung triều Nguyễn, Ðiện Thái Hòa là công trình kiến trúc quan
trọng nhất xét về nhiều mặt: chức năng, vị trí, ý nghĩa lịch sử, giá trị văn hóa nghệ thuật.
Ðiện Thái Hòa là địa điểm sinh hoạt quan trọng nhất của triều đình nhà Nguyễn. Ðây
nơi diễn ra các lễ đại triều hàng tháng (vào ngày 1 và 15 âm lịch) hoặc các đại lễ khác
như lễ Ðăng Quang (vua lên ngôi), lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), lễ Hưng Quốc Khánh
Niệm… với sự tham gia của vua, hoàng thân, quốc thích và các vị đại thần.
Về lịch sử xây dựng ngôi điện này, có thchia làm ba thi kỳ chính, trong mỗi thời kỳ
đều có một số thay đổi, cải tiến về kiến trúc trang trí,
Thời Gia Long Ðiện Thái Hòa được khởi công xây dựng vào 21/2/1805 và hoàn thành
vào tháng 10/1805. Thời Minh Mạng, vào tháng Giêng năm Quý Tỵ, tức tháng 3/1833,
khi tái quy hoạch và hoàn chỉnh hóa hệ thống kiến trúc cung đình Ðại Nội, vua Minh
Mạng đã cho dời điện Thái Hòa hơi dé về phía Nam, đồ sộ và rộng lớn. Thời Khải Ðịnh,
năm 1923, vua Khải Ðịnh cho đại tu điện Thái Hòa để chuẩn bị cho lễ Tứ tuần đại khánh
tiết. Trong đợt tu sửa lớn này, có một số bộ phận kiến trúc ngôi điện này được thay đổi và
làm mới.
Trên mái điện, người ta đắp nổi 9 con rồng với một nghệ thuật cực kỳ tinh xảo. Cuối gian
giữa của chính điện là ngai vàng được chạm khắc công phu, phía trên là bửu tán được
trang trí cực kỳ lộng lẫy. Tám mươi cây cột g lim khá lớn đều vhình rồng vờn mây,
màu vàng son rực rỡ.
Qua kiến trúc và trang trí của Ðiện Thái Hòa, chúng ta thấy người xưa đã gửi gm vào đó
khá nhiều ý tứ sâu xa đượm màu sắc đạo lý truyền thống phương Ðông. Bên cạnh ngôn
ngữ kiến trúc mang tính triết học, tòa cung điện này còn ghi lại nhiều ngôn ngữ văn học
với 297 ô hộc khắc chạm và đúc nổi thơ chữ Hán, nói lên một trong những nét đặc sắc
của văn hóa Phú Xuân đầu thế kXIX.
Ngai vàng
Phía trước Ðiện Thái Hoà là sân Ðại Triều, hồ Thái Dịch và cầu Trung Ðạo. Sân Ðại
triều chia làm 3 tầng, là nơi dành cho các quan từ nhất phẩm đến cửu phẩm sắp hàng làm
lễ. thứ tự các quan được đánh dấu bởi hai hàng phmn (bia đá nhỏ) dựng ở hai bên
sân.
Ðiện Thái Hòa là một trong những tòa cung điện tiêu biểu được xây dựng khá sớm ở Huế
(1805), mang phong cách độc đáo của địa phương, cũng là cung điện rộng lớn, uy nghi,
tráng lệ nhất trong hệ thống kiến trúc cung đình còn lại ở Huế.
Th MiẾu
Năm 1804, Gia Long cho xây dựng miếu Hoàng Khảo ở vị trí của Thế Miếu ngày nay để
thờ cha mình là Nguyễn Phúc Luân. Ðến năm 1821 Minh Mạng đã cho dời miếu Hoàng
Khảo về phía sau vài chục mét, đổi thành Hưng Miếu, còn xây Thế Miếu lên vị trí ấy (từ
1821-1822) để thờ vua Gia Long và các vua kế vị.
Thế Miếu được xây dựng trên mặt bằng 1.500m2, cho đến giữa thế knày (1954) chỉ có
7 án thờ của các vua: Gia Long (1802-1819); Minh Mạng (1820-1840); Thiệu Trị (1841-
1847); TÐức (1848-1883); Kiến Phúc (1883-1884); Ðồng Khánh (1886-1888); Khải
Ðịnh (1916-1925). Ba ông vua Hàm Nghi (1884-1885); Thành Thái (1889-1907) và Duy
Tân (1907-1916) có tinh thần chống Pháp bị triều đình Huế liệt vào hạng xuất đế nên
không được đưa vào thờ ở đây. Ðến 10/1958, ba vị vua này mới được đưa vào thờ phụng
ở Thế Miếu.
HIỂN LÂM CÁC