intTypePromotion=1

Thu nhận chế phẩm enzyme cellulase từ xạ khuẩn và ứng dụng sản xuất bột rong thực phẩm

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:5

0
52
lượt xem
3
download

Thu nhận chế phẩm enzyme cellulase từ xạ khuẩn và ứng dụng sản xuất bột rong thực phẩm

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chủng Micromonospora VTCC-A-1787 được tuyển chọn để nghiên cứu sản xuất cellulase. Điều kiện nuôi cấy tối ưu để thu được cellulase từ chủng xạ khuẩn này là môi trường cải tiến ISP-4 với pH 6,5 ; nhiệt độ nuôi cấy 33o C ± 1, tốc độ lắc 180v/phút, chất cảm ứng CMC 1,5%, bã mía 2%, bột cá 0,4%. Sau thời gian nuôi cấy 132 giờ cellulase thu được có hoạt độ cao 188,93UI/ml. Kết tủa enzyme bằng ethanol ở nồng độ 75%, thời gian kết tủa là một giờ ở 4o C, thu được chế phẩm cellulase có hoạt độ 216,2UI/g

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Thu nhận chế phẩm enzyme cellulase từ xạ khuẩn và ứng dụng sản xuất bột rong thực phẩm

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 1/2014<br /> <br /> KEÁT QUAÛ NGHIEÂN CÖÙU ÑAØO TAÏO SAU ÑAÏI HOÏC<br /> <br /> THU NHẬN CHẾ PHẨM ENZYME CELLULASE TỪ XẠ KHUẨN<br /> VÀ ỨNG DỤNG SẢN XUẤT BỘT RONG THỰC PHẨM<br /> OBTAINING CELLULASE FROM ACTINOBACTERIA<br /> AND APPLICATION FOR PRODUCING SEAWEED POWDER FOR FOOD<br /> Nguyễn Phước Bảo Hoàng1, Trần Thị Luyến2<br /> Ngày nhận bài: 26/3/2013; Ngày phản biện thông qua: 03/7/2013; Ngày duyệt đăng: 10/3/2014<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Chủng Micromonospora VTCC-A-1787 được tuyển chọn để nghiên cứu sản xuất cellulase. Điều kiện nuôi cấy tối ưu<br /> để thu được cellulase từ chủng xạ khuẩn này là môi trường cải tiến ISP-4 với pH 6,5 ; nhiệt độ nuôi cấy 33oC ± 1, tốc độ<br /> lắc 180v/phút, chất cảm ứng CMC 1,5%, bã mía 2%, bột cá 0,4%. Sau thời gian nuôi cấy 132 giờ cellulase thu được có<br /> hoạt độ cao 188,93UI/ml. Kết tủa enzyme bằng ethanol ở nồng độ 75%, thời gian kết tủa là một giờ ở 4oC, thu được chế<br /> phẩm cellulase có hoạt độ 216,2UI/g. Điều kiện thích hợp cho hoạt động của C-CPE cellulase của chủng Micromonospora<br /> VTCC-A-1787 là 45oC, pH 6,0. Kết quả bước đầu ứng dụng enzyme này thủy phân rong thu được bột rong có chất lượng<br /> đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng và đảm bảo chỉ tiêu vi sinh vật dành cho thực phẩm yêu cầu gia nhiệt trước khi sử dụng.<br /> Từ khóa: xạ khuẩn, Micromonospora, cellulase, thủy phân<br /> <br /> ABSTRACT<br /> Micromonospora VTCC-A-1787 strain was chosen for research into cellulase production. Optimum culture<br /> conditions for produce cellulase from this strain were improved environment ISP-4, pH 6,5; culture temperature<br /> 33 ± 1°C; with inductive substance CMC 1,5%, 2% bagasse powder and 0,4% fish powder. After 132 hours of culture,<br /> cellulase reached the activity 188,93UI/ml. Cellulase was precipitated by ethanol 75%, time of precipitation was 1 hour at<br /> 4°C. The enzyme preparation has activity of 216,2UI/g. Optimum condition for enzyme activity was pH 6.0 and 45°C. The<br /> preparation was used for hydrolyzing seaweed for seaweed powder. The result shows that the quality of seaweed powder<br /> can meet nutrition requirements and microbiological criteria for foods.<br /> Keywords: Actinomycetes, Micromonospora, cellulase, hydrolysis<br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Rong biển là nguồn thực phẩm giàu chất dinh<br /> dưỡng [2], nhưng còn chứa hàm lượng cellulose khá<br /> cao. Việc phân hủy cellulose bằng các tác nhân lý hóa<br /> không được khuyến khích trong chế biến thực phẩm<br /> ngày nay. Do đó, nghiên cứu thủy phân cellulose<br /> chuyển hóa dưới dạng đường chức năng bằng<br /> phương pháp sinh học là một hướng đi có nhiều<br /> triển vọng, vì điều kiện phản ứng nhẹ, ít gây ô nhiễm<br /> môi trường và cho sản phẩm có chất lượng tốt [5].<br /> Enzyme ngày càng được sử dụng rộng rãi, nhất<br /> là trong công nghiệp thực phẩm. Nguồn enzyme vi<br /> sinh vật rất được quan tâm, do có thể nuôi cấy trên<br /> môi trường rẻ tiền, dễ tìm. Trong các loài vi sinh vật,<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> chúng tôi quan tâm đến xạ khuẩn chi Micromonospora<br /> được phân lập tại Việt Nam, đây là loài có các<br /> nghiên cứu và ứng dụng còn hạn chế.<br /> Vì vậy trong bài báo này, chúng tôi xin trình bày<br /> kết quả nghiên cứu thu nhận chế phẩm cellulase kỹ<br /> thuật từ chủng xạ khuẩn đã lựa chọn; từ chế phẩm<br /> enzyme này sử dụng để thủy phân sản xuất bột<br /> rong thực phẩm.<br /> II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Nguyên vật liệu<br /> - Ba chủng xạ khuẩn Micromonospora ký hiệu<br /> là A-1787, A-1820 và A-1762 được cung cấp từ<br /> <br /> Nguyễn Phước Bảo Hoàng: Cao học Công nghệ Sau thu hoạch 2008 – Trường Đại học Nha Trang<br /> GS.TS. Trần Thị Luyến: Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 109<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Phòng Giống vi sinh vật thuộc Trung tâm Công nghệ<br /> sinh học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Chủng được<br /> cấy truyền và nuôi ở 30oC trong môi trường thạch<br /> nghiêng YS.<br /> - Rong mứt Porphyra Vietnamensis, rong biển<br /> tự nhiên, thu mua tại Nha Trang vào tháng 11/2011.<br /> Rong có màu tím, tươi, sạch, cọng rong dai, mềm.<br /> Có mùi đặc trưng, không lẫn với các loài rong khác,<br /> không có mùi lạ, màu lạ, không có dấu hiệu hư hỏng.<br /> - Môi trường nuôi cấy ISP-4 cải tiến: K2HPO4<br /> 0,1%, MgSO4.7H2O 0,1%, CaCO3 0,2%, NaCl 0,1%.<br /> Đã thay đổi nguồn carbon và nitrogen ban đầu là bột<br /> cá và bã mía, có bổ sung chất cảm ứng CMC [6].<br /> 2. Nội dung nghiên cứu<br /> Nghiên cứu các nội dung chính sau:<br /> - Lựa chọn chủng xạ khuẩn Micromonospora<br /> VTCC thích hợp và nghiên cứu ảnh hưởng của một<br /> số điều kiện nuôi cấy đến khả năng sinh tổng hợp<br /> cellulase có hoạt tính cao.<br /> - Nghiên cứu phương pháp thích hợp để thu<br /> nhận dịch chiết và chế phẩm enzyme kỹ thuật ở quy<br /> mô phòng thí nghiệm.<br /> - Bước đầu ứng dụng chế phẩm enzyme trên<br /> thủy phân rong mứt sản xuất bột rong thực phẩm và<br /> đánh giá chất lượng của bột rong này.<br /> 3. Phương pháp nghiên cứu<br /> - Cách tiến hành thí nghiệm: Chủng Micromonospora<br /> <br /> Số 1/2014<br /> VTCC-A-1787 → Hoạt hóa → Nuôi cấy → Ly tâm →<br /> Dịch chứa cellulase → Kết tủa → C-CPE cellulase<br /> → Thủy phân rong → Sấy → Bột rong [7].<br /> - Phương pháp xác định đường cong sinh<br /> trưởng: Đo độ hấp thụ quang học ở bước sóng<br /> 620 nm [4].<br /> - Phương pháp xác định hoạt tính cellulase:<br /> Dựa vào định lượng đường khử theo phương pháp<br /> so màu (phương pháp Hagedorn Jensen). Một<br /> đơn vị hoạt tính của enzyme cellulase được định<br /> nghĩa là lượng enzyme có khả năng thủy phân<br /> cơ chất CMC tạo thành đường khử tương đương<br /> 1 µg glucose trong thời gian 24 giờ ở nhiệt độ phòng<br /> (300C) [1].<br /> - Phương pháp xác định đường kính phân giải<br /> của enzyme bằng phương pháp đục lỗ thạch [3].<br /> III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> 1. Kết quả lựa chọn chủng xạ khuẩn Micromonospora<br /> VTCC và môi trường nuôi cấy thích hợp<br /> Khảo sát 3 chủng xạ khuẩn được nuôi cấy<br /> sinh enzyme trong ba môi trường khác nhau là YS,<br /> ISP-4, Gause-I có bổ sung cơ chất cảm ứng CMC<br /> 0,5%, pH 7,0, lắc 180 v/phút ở nhiệt độ 30oC. Sau<br /> 72 giờ, chọn chủng Micromonospora VTCC-A-1787<br /> tiếp tục nghiên cứu do khả năng sinh tổng hợp<br /> cellulase cao trong môi trường ISP-4 với đường kính thủy<br /> phân ban đầu là 15mm, hoạt tính 92,0 ± 0,011 UI/ml.<br /> <br /> Hình 1. Chủng Micromonospora VTCC-A-1787 và khả năng sinh enzyme<br /> trong các môi trường nuôi cấy<br /> <br /> Chủng Micromonospora VTCC-A-1787 có khả<br /> năng lên men và sử dụng 4 nguồn đường là glucose,<br /> fructose, lactose và sucrose, không có khả năng<br /> đồng hóa manitol, saccharose. Chịu được nồng độ<br /> muối 4%, có khả năng sinh tổng hợp protease và<br /> amylase. Dựa vào mật độ tế bào A620nm cho thấy<br /> chủng Micromonospora VTCC-A-1787 sinh trưởng<br /> và phát triển có sinh khối đạt giá trị cao nhất ở môi<br /> trường ISP-4 sau 72 giờ nuôi cấy (OD620 = 1,554),<br /> do đó chọn thời điểm này để tiếp giống nuôi sinh<br /> enzyme với tỷ lệ 10%.<br /> <br /> 110 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> 2. Kết quả xác định nồng độ cơ chất cảm ứng,<br /> nguồn và nồng độ carbon, nitrogen<br /> Chọn chế độ nuôi cấy lắc 180v/phút tạo ra oxy<br /> hòa tan, giúp các chất dinh dưỡng phân bố đều<br /> trong môi trường, làm tăng trao đổi chất dinh dưỡng<br /> là điều kiện cần thiết để chủng Micromonospora<br /> VTCC-A-1787 sinh trưởng và sinh tổng hợp<br /> enzyme tốt.<br /> Theo kết quả nghiên cứu (bảng 1a) cho thấy<br /> nồng độ chất cảm ứng CMC có ảnh hướng rất lớn<br /> đến khả năng sinh tổng hợp cellulase. Với điều kiện<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> bình thường enzyme được tổng hợp với một số<br /> lượng cơ bản tương đối ít, nhiều khi khó phát hiện,<br /> nhưng khi tăng một lượng CMC nhất định vào môi<br /> trường nuôi cấy thì hàm lượng cellulase được tổng<br /> hợp sẽ tăng lên. Tuy nhiên nếu cứ tiếp tục tăng<br /> nồng độ CMC, sẽ làm cho độ nhớt của môi trường<br /> tăng gây ảnh hưởng đến bề mặt trao đổi chất của<br /> vi sinh vật, hạn chế trao đổi chất, làm tăng áp suất<br /> thẩm thấu gây ra hiện tượng co nguyên sinh chất,<br /> <br /> Số 1/2014<br /> làm nước tự do trong tế bào ra ngoài. Kết quả<br /> nghiên cứu chọn nồng độ CMC thích hợp bổ sung<br /> vào môi trường nuôi cấy là 1,5% cho hoạt tính cao<br /> nhất là 141,3UI/ml.<br /> Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn<br /> carbon và nitrogen (bảng 1b và 1c) cho thấy chủng<br /> Micromonospora VTCC-A-1787 thích hợp với<br /> carbon phức tạp ở dạng thô như phế phẩm bã mía,<br /> với nguồn nitrogen hữu cơ là bột cá.<br /> <br /> Bảng 1. Ảnh hưởng của thành phần môi trường đến hoạt tính enzyme<br /> Nồng độ CMC, (b) Nguồn carbon, (c) Nguồn nitrogen<br /> Nồng độ CMC<br /> (%)<br /> <br /> Hoạt tính<br /> (UI/ml)<br /> <br /> Nguồn carbon<br /> (Nồng độ 1%)<br /> <br /> Hoạt tính cellulase<br /> (UI/ml)<br /> <br /> 0<br /> 0.5<br /> 1<br /> 1.5<br /> 2<br /> 2.5<br /> 3<br /> <br /> 20,8 ± 0,025<br /> 110,3 ± 0,02<br /> 117,7 ± 0,03<br /> 141,3 ± 0,025<br /> 118,5 ± 0,04<br /> 73,7 ± 0,01<br /> 45,2 ± 0,034<br /> <br /> Bã mía<br /> Bã rơm<br /> Cao nấm men<br /> Mật rỉ đường<br /> Mùn gỗ<br /> Tinh bột bắp<br /> Tinh bột gạo<br /> Tinh bột sắn<br /> Tinh bột tan<br /> <br /> 148,6 ± 0,035<br /> 76,1 ± 0,02<br /> 95,7 ± 002<br /> 10,2 ± 0,01<br /> 11,9 ± 0,015<br /> 77,8 ± 0,011<br /> 100,1 ± 0,01<br /> 126,6 ± 0,02<br /> 119,3 ± 0,02<br /> <br /> Glucose<br /> <br /> 49,3 ± 0,02<br /> <br /> Fructose<br /> Sucrose<br /> Lactose<br /> <br /> 58,2 ± 0,025<br /> 51,7 ± 0,01<br /> 102,2 ± 0,025<br /> <br /> (a)<br /> Nguồn nitrogen<br /> (Nồng độ 0,2%)<br /> Bột cá<br /> Bột đậu tương<br /> Pepton<br /> <br /> Hoạt tính cellulase (UI/ml)<br /> 164, 1 ± 0,045<br /> 112,0 ± 0,056<br /> 151,8 ± 0,026<br /> <br /> NaNO3<br /> <br /> 84,3 ± 0,040<br /> <br /> (NH4)2SO4<br /> Urea<br /> <br /> 125,8 ± 0,035<br /> 26,5 ± 0,030<br /> <br /> (c)<br /> <br /> (b)<br /> Kết quả cho thấy khi bổ sung bã mía với nồng độ 2% và bột cá 0,4% thì khả năng sinh tổng hợp cellulase<br /> cao nhất với hoạt tính lần lượt là 148,6UI/ml và 164,1UI/ml.<br /> 3. Tối ưu hóa điều kiện nuôi cấy quy hoạch Box – Behnken<br /> Sau khi xác định các khoảng điều kiện nuôi cấy thích hợp: nhiệt độ (30÷40oC), pH (6,0÷7,0), thời gian<br /> (120÷14h). Chúng tôi tiến hành tối ưu hóa các điều kiện này, nhằm xác định mối quan hệ tương tác của 3 yếu tố<br /> này, hàm mục tiêu của quá trình nuôi cấy là đạt hoạt tính enzyme cao nhất. Kết quả được trình bày trong hình 2.<br /> <br /> Hình 2. Bề mặt đáp ứng hoạt tính enzyme ở các khoảng yếu tố khác nhau<br /> X3, pH 6,5; (b) X2, Thời gian 132 giờ; (c) X1, Nhiệt độ 32,5oC<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 111<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Phương trình hồi quy được chấp nhận với<br /> R2 = 0,9815, p < 0,05:<br /> Y= 188.2 + 6.0125X1 + 3.6625X2 + 0.725X3<br /> +3.875X1X2 – 10.6X1X3 + 1.45X2X3 – 16.7625X12<br /> - 28.7625X22 – 15.1375X32<br /> Kết quả cho thấy nhiệt độ là yếu tố có ảnh<br /> hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất đến sự sinh trưởng<br /> và phát triển, khả năng tổng hợp cellulase của chủng<br /> Micromonospora VTCC-A-1787. Tùy theo điều kiện<br /> sản xuất, có thể cố định một yếu tố và thay đổi thông<br /> số khác trong khoảng tương ứng thích hợp. Xác định<br /> điều kiện nuôi cấy tối ưu để thu được cellulase có<br /> hoạt độ cao: Môi trường cải tiến ISP-4 với pH 6,5;<br /> ở nhiệt độ 33oC ± 1, tốc độ lắc 180v/phút, thời gian<br /> nuôi cấy 132 giờ, cellulase thu được có hoạt độ cao<br /> 188,93UI/ml. Việc tăng nồng độ CMC 1,5%, thay thế<br /> nguồn carbon là bã mía 2%, nguồn nitrogen là bột<br /> cá 0,4% vào môi trường giúp tăng hoạt tính enzyme.<br /> 4. Kết quả xác định tác nhân kết tủa<br /> Mỗi enzyme sẽ có loại tác nhân kết tủa thích<br /> hợp, khi đó C-CPE thu được sẽ có hoạt độ cao<br /> nhất. Trong quá trình thu nhận và làm sạch enzyme<br /> thì phương pháp tủa bằng ethanol 96o cho hiệu<br /> quả và hoạt tính cao hơn so với aceton 99,5% ở<br /> nồng độ thích hợp là 75% (216,2UI/g) và dung dịch<br /> (NH4)2SO4 bão hòa không có hiện tượng kết tủa.<br /> Bảng 2. Ảnh hưởng tác nhân kết tủa<br /> đến hoạt độ enzyme<br /> Dung môi hữu cơ<br /> <br /> Hiệu suất<br /> Khối lượng kết<br /> Hoạt độ<br /> thu nhận<br /> tủa trung bình (g)<br /> CPE (UI/g)<br /> (%)<br /> <br /> Aceton 99,5%<br /> <br /> 1,61 ± 0,035<br /> <br /> 4,03<br /> <br /> 152,7 ±<br /> 0,023<br /> <br /> Ethanol 960<br /> <br /> 2,57 ± 0,047<br /> <br /> 6,43<br /> <br /> 216,2 ±<br /> 0,01<br /> <br /> Ammonium sulfate<br /> <br /> Không có hiện tượng kết tủa<br /> <br /> Khi tăng nồng độ ethanol từ 60% lên 75% thì<br /> hoạt độ cellulase tăng lên và đạt giá trị cực đại ở<br /> nồng độ 75%. Tuy nhiên nếu tiếp tục tăng nồng độ<br /> kết tủa đến 80% thì hoạt độ enzyme sẽ giảm vì gây<br /> biến tính enzyme. Điều này có thể giải thích khi ở<br /> nồng độ thấp thì chưa đủ gây kết tủa hoàn toàn hết<br /> enzyme có trong dịch thể, nếu tăng nồng độ vượt<br /> ngưỡng cho phép thì sẽ gây biến tính enzyme.<br /> <br /> 112 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Số 1/2014<br /> 5. Kết quả thủy phân rong mứt Porphyra<br /> vietnamensis sử dụng chế phẩm enzyme kỹ<br /> thuật từ Micromonospora VTCC-A-1787<br /> Bước đầu ứng dụng enzyme C-CPE cellulase<br /> từ Micromonospora VTCC-A-1787 thủy phân rong<br /> mứt với tỷ lệ C-CPE với nguyên liệu là 2%, nhiệt độ<br /> 45oC, pH 6,0, lượng nước là 1:1 (v/w) so với nguyên<br /> liệu, lắc 180 v/phút. Sau 48 giờ cho thấy enzyme<br /> này đã có tác động, làm giảm lượng cellulose của<br /> rong và làm tăng hàm lượng đường khử ban đầu.<br /> Bảng 3. Thành phần dinh dưỡng bột rong<br /> trước và sau khi thủy phân<br /> STT<br /> <br /> Tên chỉ tiêu<br /> <br /> Hàm lượng (%)<br /> Trước<br /> <br /> Sau<br /> <br /> 1<br /> <br /> Protein<br /> <br /> 38<br /> <br /> 42,4<br /> <br /> 2<br /> <br /> Lipid<br /> <br /> 1,5<br /> <br /> 0,8<br /> <br /> 3<br /> <br /> Cellulose<br /> <br /> 39,2<br /> <br /> 13,5<br /> <br /> 4<br /> <br /> Đường khử<br /> <br /> 3,7<br /> <br /> 14,12<br /> <br /> 5<br /> <br /> Tro<br /> <br /> 2,6<br /> <br /> 2,1<br /> <br /> 6<br /> <br /> Độ ẩm<br /> <br /> 13,1<br /> <br /> 12,3<br /> <br /> Về thành phần dinh dưỡng: bột rong đã đáp<br /> ứng được nhu cầu dinh dưỡng và đảm bảo chỉ tiêu<br /> vi sinh vật dành cho thực phẩm yêu cầu gia nhiệt<br /> trước khi sử dụng. Tuy nhiên, đánh giá chất lượng<br /> cảm quan của bột rong thì chưa đạt yêu cầu, do<br /> khả năng hòa tan trong nước còn thấp, độ tan chỉ<br /> đạt 68%.<br /> IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ<br /> 1. Kết luận<br /> Theo các kết quả nghiên cứu, chủng<br /> Micromonospora VTCC-A-1787 được chọn để nuôi<br /> cấy sinh tổng hợp cellulase trong môi trường ISP-4,<br /> pH 6,5, lắc 180 v/phút ở 33oC sau 132 giờ. Nồng độ<br /> chất cảm ứng CMC tối ưu là 1,5%, nguồn carbon<br /> và nitrogen thích hợp là bã mía với tỷ lệ 2% và bột<br /> cá 0,4%. Đã thu được C-CPE cellulase có hoạt độ<br /> cao nhất là 216,2UI/g, sử dụng tác nhân kết tủa là<br /> ethanol 96o ở nồng độ 75%, thời gian kết tủa là một<br /> giờ ở 4oC. Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của<br /> C-CPE cellulase của chủng Micromonospora<br /> VTCC-A-1787 là 45oC, pH 6,0.<br /> Ứng dụng chế phẩm enzyme này thủy phân<br /> rong thu được bột rong cho chất lượng đạt yêu cầu.<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> Kết quả nghiên cứu cho thấy đánh giá cảm quan<br /> sản phẩm rong biển khá tốt về chất lượng màu, mùi<br /> và vị, hàm lượng protein và đường tăng lên, hàm<br /> lượng lipid và cellulose giảm, điều này có nghĩa<br /> cellulase đã có tác động đến hệ cellulose trong rong,<br /> <br /> Số 1/2014<br /> giúp thủy phân cellulose và tạo thành một lượng<br /> đường khử tương ứng.<br /> 2. Kiến nghị<br /> Tiếp tục nghiên cứu phương pháp và chế độ<br /> sấy để sản phẩm bột rong được tốt hơn.<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> Tiếng Việt<br /> 1.<br /> <br /> Nguyễn Trọng Cẩn, Nguyễn Thị Hiền, Đỗ Thị Giang, Trần Thị Luyến, 1998. Công nghệ enzyme. NXB Nông nghiệp.<br /> TP. HCM.<br /> <br /> 2.<br /> <br /> Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đăng Đức, Đặng Hồng Miên, Nguyễn Vĩnh Phước, Nguyễn Đình Quyến, Nguyễn Phùng Tiến,<br /> Phạm Văn Ty, 1976. Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật - Tập 2 và 3, NXB Khoa học và Kỹ thuật. Hà Nội.<br /> <br /> 3.<br /> <br /> Phạm Thị Ánh Hồng, 2003. Kỹ thuật Sinh hóa. Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. NXB Đại học Quốc gia TP. HCM.<br /> <br /> 4.<br /> <br /> Trần Thị Luyến, Đỗ Minh Phụng, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Đăng Nghĩa, 2004. Chế biến rong biển. NXB Nông nghiệp.<br /> TP. HCM.<br /> <br /> 5.<br /> <br /> Nguyễn Đức Lượng, 2003. Thí nghiệm vi sinh vật học – Tập II. NXB Đại học Quốc gia TP. HCM.<br /> <br /> 6.<br /> <br /> Trần Linh Thước, 2007. Phương pháp phân tích vi sinh vật trong nước, thực phẩm và mỹ phẩm. NXB Giáo dục.<br /> <br /> 7.<br /> <br /> Teruo Nakakuki (Ed.), 1993. Oligosaccharides: Production, Properties and Applications, Japanese, Technology Reviews,<br /> Vol. 3, No. 2, Gordon and Breach. Switzerland.<br /> <br /> Tiếng Anh<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 113<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2