
ĐH công nghệ GTVT Khoa kinh tế vận tải
Kiều Khắc Tuyên
Lớp 60CDVB
- 1 -
Bài Làm
Chương I: Tổng quan về vận tải đa phương thức.
I. Khái niệm vận tải đa phương thức.
- Để hiểu rõ về vận tải đa phương thức thì cần phân biệt vận tải đa phương
thức với dịch vụ vận tải biển.
- Vận tải đa phương thức quốc tế: là sự vận chuyển hàng hóa được thực hiện
bởi ít nhất hai hình thức vận tải khác nhau trên cơ sở của một hợp đồng vận
tải đa phương thức từ một quốc gia này sang quốc gia khác.
II. Các hình thức vận tải đa phương thức.
- Mô hình vận tải đường biển – vận tải hàng không (Sea/Air)
- Mô hình vận tải ô tô – vận tải hàng không ( Road/Air)
- Mô hình vận tải đường sắt – vận tải ô tô ( Rail/Road)
- Mô hình vận tải đường sắt – đường bộ - vận tải thủy nội địa – vận tải đường
biển
- Mô hình cầu lục địa (Land Bridge)
III. Đặc điểm của vận tải đa phương thức.
1. Đặc điểm chung.
- Có ít nhất từ 2 phương thức vận tải tham gia.
- Chỉ sử dụng 1 chứng từ trong quá trình vận chuyển.
- Trong quá trình VTĐPT chỉ có 1 người chịu trách nhiệm về hàng hóa trước
người gửi gọi là MTO.

ĐH công nghệ GTVT Khoa kinh tế vận tải
Kiều Khắc Tuyên
Lớp 60CDVB
- 2 -
- MTO chịu trách nhiệm về hàng hóa theo một chế độ nhất định.
- Nơi nhận hàng để chở và nơi giao hàng thường là những quốc gia khác nhau.
2. Các quy đinh định điều chình các quan hệ trong VTĐPT.
- Các nguồn luật điều chỉnh VTĐPT.
- Chứng từ trong VTĐPT.
- Trách nhiệm của MTO đối với hàng hóa.
- Các đầu nối chuyển tiếp trong VTĐPT.
- Nguồn luật của người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO).
Chương II. Tình hình khai thác và sử dụng vận tải đa phương
thức ở Việt Nam hiện nay
- Việt Nam từ sau khi ra nhập WTO xuất nhập khẩu đã tăng vọt, nền kinh tế
không ngừng tăng trưởng mỗi năm. Việc gia tăng xuất nhập khẩu đòi hỏi
phải có ngành vận tải phát triển để đáp ứng nhu cầu. Vận tải đa phương thức
đã trở thành phương thức chuyên chở hữu hiệu và không thể thiếu trong mọi
lĩnh vực kinh tế đặc biệt là xuất nhập khẩu.
- Tuy vậy, loại hình vận tải này mới đang ở giai đoạn đầu trong quá trình hình
thành và phát triển. Hàng hóa được vận chuyển theo hình thức VTĐPT là các
loại hàng xuất, nhập khẩu . Về xuất khẩu chủ yếu là những mặt hàng như
quần áo may sẵn, hàng nông sản, hàng đông lạnh và một số mặt hàng tiêu
dùng khác, còn hàng hóa nhập khẩu là các nguyên liệu gia công như: vải, sợi,
len, dạ các máy móc thiết bị, linh kiện điện tử, …
- Ở Việt Nam hàng hóa được vận chuyển theo hình thức VTĐPT là các loại
hàng dược đóng trong container, chủ yếu là những mặt hàng như quần áo

ĐH công nghệ GTVT Khoa kinh tế vận tải
Kiều Khắc Tuyên
Lớp 60CDVB
- 3 -
may sẵn , hàng nông sản, hàng đông lạnh và một số mặt hàng khác, còn hàng
hóa nhập khẩu là các nguyên liệu gia công như: vải, sợi, dạ,… hay máy móc
thiết bị.
I. Tình hình khai thác
- Hiện nay các doanh nghiệp VTĐPT Việt Nam phát triển nhanh về số lượng
nhưng quy mô doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logictics nhỏ, kinh doanh
manh mú. Phát triển ồ ạt về số lượng nhưng quy mô phần lớn các công ty
giao nhận Việt Nam nhỏ, vốn ít, trang bị lạc hậu và nhân lực thì đa phần chỉ
có khoảng 10-20 người/ công ty. Nghiệp vụ chủ yếu của các công tu trong
nước chỉ là mua bán cước đường biển, hàng không, khai thuế quan, dịch vụ
xe tải, không nhiều công ty có đủ năng lực đảm nhận toàn bộ chuỗi cung ứng
bao gồm vận chuyển đường bộ, kho bãi, đóng gói, thuê tàu…
- Hệ thống kết cấu hạ tầng đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường
hàng hải và hàng không nhìn chung chưa đáp ứng được nhu cầu VTĐPT ,
đặc biệt là VTĐPT quốc tế. Phương tiện vận tải đường bộ hiện đang lưu
hành đã qua sử dụng nhiều năm, nhập khẩu từ nước ngoài đã được tân trang
lại, quá nhiều mác, kiểu loại thuộc nhiều nước sản xuất, các xe có đa phần là
xe có trọng tải thấp.
- Một điều đáng buồn là các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong
nước tuy quy mô nhỏ , manh mún nhưng lại chưa biết liên kết lại, mà kinh
doanh theo kiểu chụp giật cạnh tranh thiếu lành mạnh, thi nhau hạ giá dịch
vụ để dành được hợp đồng và chủ yếu là hạ giá thành thuê container, điều
này chỉ có các doanh nghiệp trong nước bị thiệt, còn các doanh nghiệp nước
ngoài là những người chủ tàu sẽ đóng vai trò ngư ông đắc lợi. Một thực tế
khác là trong khi các doanh nghệp của ta còn mải “đá nhau” thì các tập đoàn
hàng hải lớn trên thế giới như APL, Mitsui OSK, Maecrk logistics, NYK
Logistics,… những tập đoàn hùng mạnh với khả năng cạnh tranh lớn, bề dày
kinh nghiệm và nguồn tài chính khổng lồ với hệ thống mạng lưới đại lý dày
đặc, hệ thống kho hàng chuyên dụng, dịch vụ khép kín trên toàn thế giới,

ĐH công nghệ GTVT Khoa kinh tế vận tải
Kiều Khắc Tuyên
Lớp 60CDVB
- 4 -
mạng lưới thông tin rộng khắp, trình độ tổ chức quản lý cao, đã và đang
từng bước xâm nhập, củng cố, chiếm lĩnh thị trường trong nước.
II. Các loại hình vận tải đa phương thức mà Việt Nam hiệ nay đang sử
dụng.
- Mô hình vận tải đường biển- đường hàng không (Sea- Air).
- Mô hình vận tải ô tô- đường hàng không (Road-Air).
- Mô hình vận tải đường sắt- đường ô tô (Rail-Road).
- Mô hình vận tải đường sắt- đường bộ- vận tải thủy- vận tải đường biển
(Rail/Road/Inland waterway/Sea).
- Mô hình cầu lục địa(Land Bridge).
III. Hiện trạng của VTĐPT ở Việt Nam.
1. Thuận lợi, khó khăn của VTĐPT.
a.Thuận lợi.
- Việt Nam tự hào là quốc gia biển với bờ biển dài 3.444 km chải dài từ bắc
vào nam cùng với đó là rất nhiều danh lam thắm cảnh, cùng với đó là rất
nhiều cảng biển rất thuận lợi cho việc phát triển vận tải biển.
- Hệ thống giao thông ngày càng được mở rộng về quy mô và nâng cấp hiện
đại hơn về chất lượng. Hàng năm nhà nước đã đầu tư rất nhiều ngân sách cho
việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, thủy nội địa,
sắt,….vì nhà nước đã định hướng là muốn phát triển kinh tế lâu bền thì phải
phát triển cở sở hạ tầng đặc biệt là hệ thống giao thông
- Hội nhập WTO đã giúp các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam thuận lợi cho việc
phát triển xuất nhập khẩu các mặt hàng sang các nước trên khắp thế giới. Ra
nhập WTO là một bước ngoặt của nền kinh tế và ngành xuất nhập khẩu của

ĐH công nghệ GTVT Khoa kinh tế vận tải
Kiều Khắc Tuyên
Lớp 60CDVB
- 5 -
Việt Nam, giúp giảm chi phí vận tải, giá thành vận tải giảm và rút ngắn được
thời gian vận chuyển.
b. Khó khăn.
* Các yếu tố chủ quan.
- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý chưa qua đào tạo bài bản, còn thiếu, yếu
kém về năng lực. Đặc biệt thiếu các chuyên viên Logistics giỏi có năng lực
ứng dụng và triển khai tại các doanh nghiệp nên vẫn chưa giám chịu trách
nhiệm hàng hóa trong quá trình vận tải căn cứ vào cách xuất nhập khẩu theo
hình thức FOB, CIF mua bán theo hình thức này thì không dành được quyền
chuyên chở đành phải nhường cho các công ty nước ngoài.
- Vì các công ty kinh doanh VTĐPT thực sự của Việt Nam thì đa phần là các
công ty nhỏ nên số vốn còn rất ít ỏi, nên trong quá trình kinh doanh thì chỉ
tham gia bảo hiểm cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển theo lô hàng
hoặc không tham gia bảo hiểm. Mà khi xảy ra thiệt hại cho hàng thì thường
đùn đẩy trách nhiệm nên uy tín trên thị trường không cao.
- Phương tiện phục vụ VTĐPT đều là phương tiện nhập lại của nước ngoài đã
qua sử dụng, khi nhập về Việt Nam đã được tu bổ nên không đảm bảo yêu
cầu kĩ thuật và an toàn trong quá trình vận chuyển.
- Trang thiết bị xếp dỡ hàng hóa còn lạc hậu nên hiệu quả bốc dỡ vẫn chưa đạt
hiệu quả kinh tế và chưa đúng với ý nghĩa của VTĐPT là rút ngắn thời gian
vận chuyển hàng hóa.
- Hệ thống thông tin chưa đồng bộ nên cập nhập thông tin vẫn chưa được thực
sự hiệu quả, các doanh nghiệp kinh doanh Logistics chưa biết cách sử dụng
thông tin trên mạng lưới thông tin EDI một cách hiệu quả.
Sự yếu kém , lạc hậu và quá tải về kết cấu hạ tầng giao thông vận tải về kết
cấu hạ tầng giao thông vận tải, phương tiện vận tải đường bộ cũng như hệ
thống các kho tàng và công nghệ thông tin chưa hỗ trợ hiệu quả nên chi phí

