intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiềm năng sử dụng vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam: Phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:156

82
lượt xem
14
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nội dung cơ bản của Tài liệu trình bày tổng quát về vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam: Bản chất về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội và môi trường; vấn đề phân loại, phân vùng và tiềm năng, phương hướng sử dụng chúng. Phần 1 gồm nội dung 4 chương đầu. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiềm năng sử dụng vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam: Phần 1

  1. LỜI NÓI ĐẦU Vũng vịnh ven bờ biển phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều trung tâm kinh tế, đô thị và cảng biển lớn cỡ Quốc tế phát triển gắn với vũng vịnh ven bờ biển. Việt Nam có vùng biển chủ quyền rộng khoảng 1.000.000 km2 và bờ biển dài trên 3200km với nhiều cửa sông, đầm phá và vũng vịnh. Vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam được hiểu là một phần của biển lõm vào lục địa hoặc do đảo chắn tạo thành một vùng nước khép kín ở mức độ nhất định mà trong đó động lực biển thống trị. Thống kê bước đầu cho biết ở ven bờ biển Việt Nam có tổng số 48 vũng, vịnh, có tổng diện tích khoảng 4000 km2 phân bố trên bốn vùng địa lý: Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Bộ có tính chất và mức độ tập trung khác nhau. Mặc dù diện tích mặt nước các vũng vịnh ven bờ biển chỉ bằng khoảng 1,1% diện tích đất liền và khoảng 0,4% diện tích vùng biển, nhưng là các vị trí trọng điểm, vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng của đất nước. Các vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam là cửa mở hướng ra biển, khai thác biển và bảo vệ chủ quyền lãnh hải, gắn với sự phát triển của các trung tâm kinh tế, dân cư và đô thị lớn như Hạ Long, Đà Nẵng, Nha Trang, v.v. Nhiều vịnh có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với an ninh, quốc phòng như Cam Ranh, Bái Tử Long, Đà Nẵng, v.v. Điều kiện kín gió, nước sâu, ít bị sa bồi cho phép nhiều cảng biển lớn đã và đang được quy hoạch xây dựng ở các vũng vịnh như Đà Nẵng, Dung Quất, Văn Phong và Cam Ranh, v.v. Sự có mặt của cảng là tiền đề phát triển các khu công nghiệp, dịch vụ và đô thị hoá ven biển, tạo ra quá trình phát triển kinh tế lan tỏa trên các "vùng hấp dẫn" rộng lớn, tạo nên mạch máu giao lưu kinh tế chảy khắp đất nước và sang cả các nước lân cận. Trong số 15 khu kinh tế ven biển vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ra quyết định thành lập, nhiều khu quan trọng như Vân Đồn, Vũng Áng, Chân Mây – Lăng Cô, Dung Quất, Văn Phong v.v. nằm trên các bờ vịnh. Vũng vịnh ven bờ biển còn là nơi neo đậu an toàn cho hầu hết tàu thuyền vận tải và đánh cá, là các bến cá và các cơ sở dịch vụ nghề cá biển, là ngư trường đánh bắt truyền thống ven bờ. Tiềm năng nuôi trồng hải sản vũng vịnh rất lớn và nhiều vịnh trở thành các trung tâm du lịch nổi tiếng như: Hạ Long, Nha Trang, v.v. Vũng vịnh thường có cảnh quan đẹp, tài nguyên sinh vật phong phú, đa dạng, năng suất sinh học cao và nhiều hệ sinh thái đặc thù nên có giá trị và tiềm năng lớn bảo tồn tự nhiên. Vịnh Hạ Long hai lần được công nhận là di sản thế giới về mỹ học và địa chất học. Nhiều vũng vịnh khác có các khu bảo tồn thiên nhiên biển đã hoặc đang được quy hoạch xây dựng. Sức ép phát triển kinh tế - xã hội và dân số đã dẫn đến những vấn đề bất hợp lý và bức xúc về việc sử dụng tài nguyên, quản lý môi trường các vũng vịnh ven bờ. Nhiều loại tài nguyên kể cả tái tạo và không tái tạo có nguy cơ bị khai thác quá mức, cạn kiệt. Một số loại tài nguyên quý chưa được sử dụng có hiệu quả đã bị suy giảm nghiêm trọng do tác động của con người đến môi trường, đặc biệt là ô nhiễm, biến dạng cảnh quan tự
  2. iii nhiên và phá vỡ cân bằng sinh thái. Dọc dải bờ biển có ba loại hình thuỷ vực ven bờ tiêu biểu là các vũng vịnh, vùng cửa sông và đầm phá. Chúng có những đặc thù riêng về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, môi trường và tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Các vùng cửa sông và đầm phá đã được quan tâm nghiên cứu đáng kể và đã có nhiều công bố, trong khi các vũng vịnh ven bờ biển tuy được khai thác, sử dụng nhiều nhưng còn ít được nghiên cứu và công bố, đặc biệt là chưa có một cuốn sách chuyên khảo nào. Nhằm đáp ứng yêu cầu tư liệu phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường vũng vịnh ven bờ biển theo định hướng phát triển bền vững, tham khảo cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy, tập thể tác giả đã cố gắng biên soạn cuốn sách này. Tư liệu sử dụng để biên soạn được tập hợp từ kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả trong các công trình khác nhau, đặc biệt là kết quả của đề tài cấp nhà nước KC.09.22: “ Đánh giá hiện trạng, dự báo biến động và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên một số vũng - vịnh chủ yếu ven bờ biển Việt Nam” được thực hiện trong thời gian 2004 – 2005. Nội dung cơ bản của cuốn sách trình bày tổng quát về vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam: bản chất về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội và môi trường; vấn đề phân loại, phân vùng và tiềm năng, phương hướng sử dụng chúng. Do điều kiện tư liệu điều tra và nghiên cứu về vũng vịnh chưa được đồng bộ và hệ thống, nên nội dung trình bày trong cuốn sách này còn có những hạn chế nhất định. Đặc biệt, một số khái niệm, thuật ngữ lần đầu được đề nghị sử dụng trong tài liệu tiếng Việt nên chắc chắn cần có sự trao đổi, bàn luận tiếp tục để đi đến thống nhất và hoàn thiện. Chấp nhận những khiếm khuyết khó tránh, hy vọng rằng cuốn sách này là tập tư liệu hữu ích phục vụ cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ tài nguyên - môi trường và là tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy. Tập thể tác giả xin chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xét duyệt và hỗ trợ kinh phí xuất bản cuốn sách này; cảm ơn Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban chủ nhiệm chương trình KC.09 và Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã tạo điều kiện sử dụng tài liệu để biên soạn cuốn sách. Nhân dịp này, tập thể tác giả gửi lời cảm ơn đến các đồng nghiệp, đặc biệt là các thành viên đề tài KC.09-22, đã tư vấn, giúp đỡ và động viên hoàn thành cuốn sách. CÁC TÁC GIẢ
  3. Chương I TỔNG QUÁT VỀ VŨNG VỊNH VEN BỜ BIỂN VIỆT NAM I. KHÁI NIỆM VỀ VŨNG - VỊNH Việt Nam có đường bờ biển dài trên 3200 km, với cảnh quan đa dạng, có nhiều cửa sông lớn và các dãy núi chạy ra tới biển. Trong khung cảnh thiên nhiên này đã hình thành nên nhiều dạng thuỷ vực ven bờ (coastal water bodies) rất khác nhau về các mặt hình thái cấu trúc, đặc điểm môi trường, điều kiện sinh thái cũng như tiềm năng tài nguyên thiên nhiên. Có thể nhận thấy dọc bờ biển Việt Nam 3 loại thuỷ vực tiêu biểu: cửa sông (estuaries), đầm phá (lagoons) và vũng vịnh (bays, gulfs). Các dạng thuỷ vực này có phân bố xen kẽ lẫn nhau dọc theo bờ biển, trong đó các vũng - vịnh tập trung nhiều ở vùng ven bờ phía bắc và miền trung – nam trung bộ, phía nam ít hơn. Theo khái niệm dân gian, vũng - vịnh được hiểu như những phần biển nằm trong một vùng lõm của đường bờ biển có kích thước to, nhỏ khác nhau, là nơi hàng ngày diễn ra các hoạt động sống của cư dân ven biển. Cách hiểu dân dã này từ trước tới nay nhiều khi dẫn tới sự lẫn lộn không phân biệt được theo địa chất – sinh thái giữa vũng - vịnh với cửa sông, đầm phá là các dạng thuỷ vực khác nhau về nhiều mặt: nguồn gốc hình thành, đặc điểm thuỷ văn động lực và xu thế phát triển. Từ đó đặt ra yêu cầu sử dụng và quản lý khác nhau. Sự lẫn lộn về khái niệm còn thấy ngay cả trong nhóm các thuỷ vực được gọi là vũng-vịnh, thể hiện ở chỗ không phân biệt được rõ ràng 2 khái niệm vũng và vịnh, cả về bản chất và về từ ngữ học. Dường như hiện nay sự phân biệt 2 loại thuỷ vực thuộc nhóm này – vũng và vịnh - chỉ đơn giản dựa vào kích thước khác nhau, mà chưa có một sự phân biệt nào dựa trên những tiêu chuẩn loại hình học khoa học. Điều này dẫn đến kết quả kiểm kê các vũng, vịnh ven bờ biển nước ta theo các tác giả khác nhau thường rất khác nhau ở số lượng vũng-vịnh nói chung cũng như sự sai khác về số lượng vũng và vịnh nói riêng, do sự xác định các tiêu chuẩn loại hình học của các thuỷ vực biển ven bờ, kiểu vũng-vịnh, kiểu đầm phá, cửa sông cũng như kiểu vũng và kiểu vịnh còn chưa thật rõ ràng. Có thể lấy một ví dụ về sự sai khác này. Số liệu thống kê gần đây về số lượng vũng-vịnh ở ven bờ biển Việt Nam của 2 tác giả Trần Đức Thạnh (2005) và Mai Trọng Thông (2005) là rất khác nhau. Trong khi ở tác giả thứ nhất, thống
  4. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 2 kê được là 48 thì ở tác giả thứ hai thống kê được chỉ có 33. Có tới 10 vũng-vịnh trong danh sách thống kê vũng-vịnh của Mai Trọng Thông không có trong danh sách vũng - vịnh thống kê được của Trần Đức Thạnh, ngược lại, có tới 25 vũng-vịnh trong danh sách kiểm kê của tác giả này không thấy có trong danh sách của Mai Trọng Thông. Bùi Hồng Long trong nghiên cứu tổng quan vũng - vịnh biển Việt Nam lại chỉ thống kê được 26 vũng-vịnh trên dọc dải ven biển Việt Nam, trong đó cũng không có sự phân biệt giữa vũng và vịnh (Bùi Hồng Long, 2002). Tình hình trên đây cho thấy việc nghiên cứu vấn đề loại hình học (typology) thuỷ vực đang cần được đặt ra như một yêu cầu đầu tiên đối với các vũng-vịnh cũng như với cả hệ thống thuỷ vực ven bờ của nước ta để có một khái niệm rõ ràng về từng loại hình thuỷ vực, với những tên gọi chuẩn xác về từ ngữ học (terminology), tránh những sự lẫn lộn hiện nay. Trên cơ sở này, mới có thể từng bước mở rộng để hoàn thiện những nghiên cứu có hệ thống các đặc trưng về điều kiện tự nhiên, sinh thái môi trường sống, tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, đánh giá hiện trạng và dự báo xu thế phát triển của từng loại thuỷ vực, xây dựng cơ sở khoa học cho việc quản lý, sử dụng hợp lý bền vững bảo đảm phát triển. Về mặt quốc tế, khái niệm vũng-vịnh còn có phạm vi rộng hơn nhiều. Trên thế giới cũng đã có những công trình nghiên cứu lý luận về vũng-vịnh, ở nhiều khu vực, đề xuất những quan điểm, phương pháp nghiên cứu khác nhau về địa lý, địa chất trầm tích (Ixachenco, A. G, 1979; David, A. et al, 2003); động lực học (Permetta et al, 1995); phát triển tiến hóa (Roy, P. S., 1984) và các phương pháp khác. Theo các tư liệu thế giới khái niệm vũng-vịnh được mở rộng hơn nhiều, bao gồm nhiều dạng, theo từ ngữ tiếng Anh là: gulf, bay, embayment bight, shelter, với những đặc điểm khác nhau về hình thái, địa mạo, động lực, thuỷ học. Những khái niệm liên quan tới vũng-vịnh này của thế giới cũng cần được xem xét đầy đủ để vận dụng vào thực tế Việt Nam, đảm bảo tính hội nhập và hiện đại trong nghiên cứu vũng-vịnh ở nước ta. II. VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA VŨNG - VỊNH TRONG THIÊN NHIÊN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC Tuy vũng-vịnh chỉ chiếm một diện tích nhỏ của đất liền (khoảng 1,1%) và của vùng biển (0,4%), nhưng lại có một vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thiên nhiên và trong sự phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Chính vì vậy, trên thế giới, vũng-vịnh thường trở thành những căn cứ quan trọng về quốc phòng, giao thông vận tảỉ, những trung tâm phát triển kinh tế biển hàng đầu ở mỗi quốc gia. Các vũng-vịnh trước hết là các hợp phần có vai trò chủ yếu trong điều kiện tự nhiên của dải ven biển (coastal zone). Cùng với các đầm phá, cửa sông, vũng-vịnh tạo nên đặc trưng của cảnh quan thiên nhiên ven biển của mỗi nước. Trong vùng biển ven bờ , với các nguồn động lực bờ, vũng - vịnh tham gia quan trọng vào biến động của môi trường biển ven bờ, đặc biệt là hiện tượng xói lở, tình trạng ô nhiễm, suy thoái tài nguyên, điều kiện sinh thái môi trường do các hoạt động phát triển kinh tế, khai thác tài nguyên ở các
  5. Chương I. Tổng quát về vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam 3 vũng-vịnh. Các quá trình biến cỡ nhỏ diễn ra trong phạm vi các vũng-vịnh cũng có tác động tham gia vào các quá trình biển cỡ lớn ở vùng ven bờ, đặc biệt là các hiện tượng biến động đường bờ, xói lở bờ biển, các vùng nước trồi, hệ thống dòng chảy ven bờ. Đa dạng sinh học các vũng-vịnh, đặc biệt là các hệ sinh thái ven bờ vũng-vịnh cũng là các yếu tố thiên nhiên có vai trò lớn trong sinh thái vùng biển. Vì vậy, nghiên cứu điều kiện tự nhiên các vũng-vịnh có đóng góp tích cực vào nghiên cứu tìm hiểu, đánh giá các vấn đề của vùng biển ven bờ. Về mặt an ninh quốc phòng, vũng-vịnh được coi như cửa mở hướng ra biển, có vai trò to lớn trong công cuộc bảo vệ đất nước, cũng như giao tiếp với thế giới bên ngoài bên cạnh đường hàng không. Ở nhiều quốc gia, với điều kiện nước sâu, kín gió, ít bị bồi lắng các vũng- vịnh lớn có vị trí thích hợp để xây dựng các quân cảng, các căn cứ hậu cần cho hoạt động quân sự trên biển như cảng Subic ở Philippin, Cam Ranh, Đà Nẵng ở Việt Nam, Tam Á ở Hải Nam Trung Quốc. Trong lịch sử, không ít những cuộc xâm lược của nước ngoài vào nước ta thường bắt đầu từ các cảng biển lớn như Đà Nẵng, Cần Giờ (TP. Hồ Chí Minh), Hải Phòng. Các vũng-vịnh cũng là các đầu nối giao thông hàng hải quan trọng, với sự hình thành các cảng lớn giữ vai trò trọng yếu trong hoạt động giao thông hàng hải, giao lưu thương mại quốc gia và quốc tế như các cảng Yokohama, Osaka ở Nhật, Pusan ở Hàn Quốc, Cao Hùng ở Đài Loan, Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng ở Việt Nam. Tuy nhiên vai trò quan trọng của vũng-vịnh còn ở tiềm năng, tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có đóng góp to lớn vào phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Với tài nguyên hải sản, các vũng-vịnh thường là các trung tâm hoạt động nghề cá biển quan trọng ở mỗi nước. Đây là nơi neo đậu an toàn của các đoàn tàu cá, điểm xuất phát đánh bắt và nơi thu nhận sản phẩm từ các ngư trường xa gần, nơi trú ẩn tránh bão. Trên bờ các vũng-vịnh thường có các cơ sở bảo quản, chế biến, tiêu thụ hải sản. Vũng-vịnh còn là môi trường nuôi trồng hải sản thích hợp, ngày càng được tận dụng, đặc biệt là phát triển kĩ thuật nuôi giàn, nuôi lồng trong vùng nước yên tĩnh của vũng-vịnh. Tiềm năng du lịch cũng là thế mạnh lớn của các vũng-vịnh ngày càng được đẩy mạnh khai thác. Với điều kiện thích hợp cho sự hình thành các cảnh quan có giá trị du lịch, đặc biệt là các rạn san hô dưới vịnh, các khu rừng, hang động trên bờ vịnh, các bãi tắm tốt ven bờ vịnh, các đảo nhỏ ven bờ là các tài nguyên du lịch biển có giá trị quốc gia và quốc tế của mỗi nước đang được chú trọng khai thác. Ngoài tài nguyên sinh vật, cũng cần nói đến tài nguyên khoáng sản, như cát thuỷ tinh, vật liệu xây dựng, mĩ nghệ, sa khoáng ti tan… cũng là những nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể khai thác. Những tiềm năng về nhiều mặt của các vũng-vịnh nói trên, là những điều kiện và nguyên nhân dẫn tới sự hình thành, phát triển ở mỗi vũng-vịnh các đô thị, các thành phố, các khu dân cư, các khu công nghiệp nhiều khi rất lớn để phục vụ cho các hoạt động khai thác, sử dụng, quản lý. Với tiềm năng tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có giá trị, đặc biệt là về đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tiêu biểu như rừng ngập mặn, các rạn san hô, các bãi cỏ biển, các nơi sinh cư của các loài hải sản có giá trị, đồng thời cũng là nơi các hoạt động khai thác diễn ra thường xuyên và mạnh mẽ, nên nhiều vũng-vịnh cũng là các đối tượng bảo tồn thiên nhiên quốc gia và quốc tế như di sản thế giới, công viên quốc gia, khu bảo tồn
  6. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 4 loài/sinh cư mà Vịnh Hạ Long, Vịnh Nha Trang ở Việt Nam là những ví dụ. Với tầm quan trọng về nhiều mặt, vũng-vịnh ven bờ các vùng biển ở các quốc gia trên thế giới đang là các đối tượng nghiên cứu ngày càng được chú trọng, nhằm xây dựng cơ sở khoa học cho việc khai thác sử dụng hợp lý, phát triển bền vững. Tình hình này là do các hoạt động khai thác tài nguyên vũng-vịnh nhiều khi quá giới hạn cho phép, hoặc do những tác động gây tổn hại cho tài nguyên và môi trường vũng-vịnh. Xu hướng chung hiện nay là trên cơ sở hiểu biết đầy đủ, dự báo biến động tài nguyên môi trường vũng-vịnh, đề xuất các mô hình khai thác hợp lý, tổ chức quản lý theo hướng tổng hợp, nhằm điều hoà hoạt động khai thác giữa các ngành, xử lý các đối kháng về lợi ích. Đồng thời đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả khai thác, đảm bảo phát triển bền vững tài nguyên và môi trường vũng-vịnh. III. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VŨNG - VỊNH 1. Trong khu vực Vũng - vịnh ven bờ là loại hình thuỷ vực phổ biến ở nhiều quốc gia có biển, vì vậy thường là đối tượng điều tra nghiên cứu quan trọng nhằm mục đích khai thác sử dụng vào phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng. Ở các nước phát triển có nhiều vũng- vịnh, như Mỹ, Nga, Nhật, Úc, Canada, Italia… Từ lâu đã tiến hành điều tra nghiên cứu toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên phi sinh vật và sinh vật, các điều kiện sinh thái môi trường sống và hiện nay, tập trung vào nghiên cứu giám sát, bảo vệ nguồn tài nguyên và đặc biệt là bảo vệ môi trường vũng-vịnh gắn với bảo tồn thiên nhiên biển. Trong khu vực phía đông Châu Á các vũng-vịnh lớn cũng đã được điều tra nghiên cứu từ cuối thế kỷ trước và cho tới nay vẫn đang còn được tiếp tục. Trong số này phải kể tới các vịnh biển lớn như vịnh Bắc Bộ (Việt Nam, Trung Quốc), vịnh Thái Lan (Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Malaysia), vịnh Manila (Philippin), vịnh Hàng Châu, vịnh Daya (Trung Quốc)…và một số vũng-vịnh nhỏ hơn. Vịnh Bắc Bộ là vịnh biển lớn ở Biển Đông, là vịnh biển chung giữa Việt Nam và Trung Quốc. Vịnh Bắc Bộ đã từng được hai nước Việt – Trung hợp tác khảo sát chung trong giai đoạn 1960 – 1965 trong chương trình điều tra toàn diện về điều kiện tự nhiên và tài nguyên sinh vật. Vịnh Thái Lan cũng là vịnh biển lớn được các nước quanh vịnh điều tra nghiên cứu nhiều từ thế kỷ trước về các mặt thuỷ văn và động lực (T. T. N. Duyet et al., 1998, 2002; Burana bpratheprat et al, 1998; Sujisuporn et al., 1998), về thuỷ hoá (P. Kohpina, 1998) và đặc biệt là về các quần xã sinh vật đáy, sinh thái môi trường do các nhà khoa học Thái Lan và Việt Nam tiến hành từ những năm 80 của thế kỷ trước. Các kết quả nghiên cứu qua nhiều năm đã cho biết được một cách khái quát những đặc trưng thuỷ văn, vận chuyển khối nước trong vịnh và mối liên quan với Biển Đông bên ngoài, tình trạng ô nhiễm biển, thành phần loài và cấu trúc các rạn san hô, các thảm cỏ biển, thành
  7. Chương I. Tổng quát về vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam 5 phần loài và nguồn lợi cá biển trong vịnh. Cùng với vịnh Thái Lan, vịnh biển Manila (Philippin) cũng được điều tra nghiên cứu nhiều mặt như thuỷ triều, dòng triều và trầm tích (Fujiie, W. et al, 2002), chu trình N trong mùa khô và mùa mưa trong vịnh (Hayashi. M. et al, 2006), về phân bố trầm tích theo độ sâu trong vịnh (Siringan, F. P. et al, 1998); hiện tượng nở rộ tảo độc Pyridinium và các chỉ tiêu khí tượng thuỷ văn (Bajarias, F. F., 1996). Vịnh Hàng Châu (Triết Giang – Trung Quốc) cũng là một trong các vũng-vịnh ở Trung Quốc trong hệ thống vũng-vịnh ven bờ Hoa Trung được khảo sát nhiều trong những năm 90 về điều kiện vật lý thuỷ văn (Lu Bin et al, 1993; Gao Shen Quan et al, 1993). Cùng với vịnh Hàng Châu còn có các vũng Xiangshan, Leqing trong khu vực biển ven bờ Triết Giang cũng đã được khảo sát. 2. Ở Việt Nam So với đầm phá ven biển, các vũng-vịnh ven bờ ở Việt Nam nhìn chung còn ít được điều tra nghiên cứu. Tình hình này có liên quan tới việc khai thác nguồn lợi, sử dụng môi trường vũng-vịnh ven bờ ở nước ta chỉ mới được đẩy mạnh trong thời gian gần đây với sự phát triển của kinh tế du lịch, nuôi trồng hải sản trong vũng-vịnh. Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, các hoạt động điều tra khảo sát vũng-vịnh chỉ thực sự được chú trọng từ cuối những năm 90 ngoại trừ các vịnh biển lớn như vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan (phía đông vịnh) đã được nghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ trước. Cho tới nay, số lượng vũng-vịnh ở nước ta được điều tra khảo sát chưa nhiều. Các vịnh Hạ Long, vịnh Bái Tử Long (Hải Phòng, Quảng Ninh), Bình Cang (Nha Trang) với điều kiện thuận tiện và vị trí quan trọng về kinh tế, là các vịnh được khảo sát nhiều hơn cả. Sau đó phải kể đến các vũng Dung Quất (Quảng Ngãi), Xuân Đài (Nam Định), Phan Thiết, Đà Nẵng cũng đã được khảo sát ở mức độ khái quát nhằm phục vụ kịp thời yêu cầu phát triển kinh tế ngành và địa phương. Vịnh Bắc Bộ đã được điều tra nghiên cứu tổng hợp và đánh giá nguồn lợi cá đáy trong Chương trình hợp tác Việt – Trung trong những năm 1960 – 1965 và Chương trình hợp tác Việt - Xô đánh giá nguồn lợi cá biển trong vịnh trong những năm 1959 – 1960. Kết quả điều tra khảo sát của các chương trình này là những tư liệu rất cơ bản về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật vịnh Bắc Bộ, còn giá trị cho tới hiện nay. Trong thời gian từ 1965 – 1975, với việc thành lập Viện Nghiên cứu Biển đầu tiên ở nước ta, ngay trong thời gian chiến tranh cũng vẫn có những hoạt động điều tra khảo sát về sinh vật, địa chất, địa mạo ven bờ và bãi triều vịnh Bắc Bộ. Sau khi chiến tranh kết thúc, từ 1975 đến nay, vùng biển phía tây Vịnh thuộc chủ quyền Việt Nam lại được tiếp tục điều tra nghiên cứu trong các chương trình nghiên cứu biển cấp Nhà nước và ở các bộ, ngành. Công trình được nghiên cứu gần đây nhất là Đề tài KC-09-17- Điều tra tổng hợp điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường vịnh Bắc Bộ, nhằm đánh giá lại tình trạng môi trường biển vịnh Bắc Bộ sau hơn 40 năm từ những khảo sát đầu tiên năm 1960. Các hoạt động nghiên cứu vịnh Bắc Bộ từ 1975 tới nay đã nâng cao hơn nhiều hiểu biết về vũng-vịnh biển này, đánh giá được đầy đủ hơn nguồn lợi sinh vật, môi trường biển, có được những tài liệu chi tiết
  8. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 6 về vùng nước ven bờ, vùng triều cửa sông, các đảo ven bờ phía tây Vịnh. Đặc biệt là vịnh Hạ Long trong phạm vi vịnh Bắc Bộ, đã được khảo sát đầy đủ về địa chất, thuỷ văn, môi trường, đa dạng sinh học biển để xây dựng cơ sở tư liệu cho hồ sơ đăng kí công nhận Di sản thế giới cho vịnh biển này. Về phía đông Vịnh, sau những năm 60 cũng đã có những hoạt động điều tra khảo sát tiếp theo như công trình sinh vật đáy vịnh vào thời gian 1974 – 1983 (Cai, Y. et Zhang, Z., 1988). Ở phía nam, vịnh biển Thái Lan cũng đã được các nước quanh vịnh, chủ yếu là Thái Lan và Việt Nam điều tra nghiên cứu từ những năm 80 của thế kỷ trước, không kể những khảo sát sơ bộ của Viện Hải dương học Đông Dương từ những năm 70 và của chương trình NAGA trong những năm 1959 – 1960. Về phía tây Vịnh thuộc chủ quyền của Thái Lan, các hoạt động nghiên cứu do phía Thái Lan tiến hành chú trọng các hệ sinh thái ven bờ (vùng ngập mặn, các rạn san hô, các thảm cỏ biển), các quần xã sinh vật đáy mềm, nguồn lợi cá biển trong vịnh, điều kiện môi trường sống, tình trạng ô nhiễm trong vịnh. Có thể thấy rằng: về vùng biển phía tây Vịnh, với những hoạt động nghiên cứu đều khắp và mạnh mẽ của phía Thái Lan trong nhiều năm, đã có được một cơ sở dữ liệu khá phong phú, đặc biệt là về đa dạng sinh học, sinh thái môi trường vịnh, có ý nghĩa định hướng cho các hoạt động nghiên cứu tiếp sau. Về vùng biển phía đông Vịnh thuộc chủ quyền Việt Nam, các hoạt động điều tra nghiên cứu sau Viện Hải dương học Đông Dương những năm 30 và Chương trình NAGA những năm 1959 – 1960 chỉ mới bắt đầu từ những năm 90. Trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu biển cấp Nhà nước KT – 03 (1990 – 1995) và tiếp theo là trong Chương trình KHCN – 06 (1996 – 2000), hai đề tài điều tra tổng hợp biển Tây Nam Việt Nam (phía đông vịnh Thái Lan) (các đề tài KT.03 – 22 và KHCN – 06 – 03) đã được thực hiện. Các đề tài này đã tổ chức khảo sát tương đối toàn diện vùng biển này tới độ sâu 40m, thu thập số liệu về khí tượng thuỷ văn, động lực, trầm tích, sinh vật, các rạn san hô. Một số báo cáo chuyên đề về hiện trạng môi trường sống, nguồn lợi sinh vật, hoàn lưu nước trong vùng biển này, lan truyền ô nhiễm trong vịnh, đánh giá chất lượng nước và năng suất sinh học sơ cấp, các rủi ro sinh thái cũng đã được soạn thảo và công bố. Cùng với các chương trình biển trong thời gian này, một chương trình Nhà nước khác do Bộ Thuỷ Sản tổ chức thực hiện (Chương trình KN – 04) cũng có những đề tài khảo sát đánh giá nguồn lợi cá biển vùng biển Minh Hải – Kiên Giang, tình trạng môi trường biển và hiện trạng ô nhiễm biển trong vịnh được thực hiện trong thời gian 1993 -1995. Ngoài ra, còn có các hoạt động khảo sát ở quy mô nhỏ hơn về các rạn san hô, các thảm cỏ biển ở các đảo trong vịnh (Thổ Chu, Nam Du, Phú Quốc), quần xã sinh vật đáy. Gần đây còn có các công trình nghiên cứu về nguồn lợi cá Cơm trong vịnh (2006 – 2007). Đặc biệt là trên cơ sở quan hệ hợp tác Việt Nam – Thái Lan trong thời gian 1997-1998 đã tiến hành thực hiện Dự án hợp tác Việt Nam – Thái Lan nghiên cứu đánh giá và quản lý nguồn lợi cá biển vịnh Thái Lan với sự hợp tác của lực lượng khoa học hai nước (Phạm Thược, 1999). Các vũng-vịnh nhỏ ven bờ được nghiên cứu ít hơn so với các vịnh biển lớn. Các vịnh Văn Phong, vịnh Cam Ranh, vịnh Nha Trang, vịnh Bình Cang (Khánh Hoà) là
  9. Chương I. Tổng quát về vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam 7 các vũng-vịnh được Viện Hải dương học Nha Trang điều tra khảo sát sớm nhất từ những năm 1994 – 1996. Đây là các công trình khảo sát nhằm phục vụ yêu cầu của địa phương quy hoạch khai thác sử dụng các thuỷ vực này, vì vậy thường mang tính chất sơ bộ, tập trung vào các đặc điểm thuỷ văn động lực, trầm tích nền đáy, đánh giá tình trạng môi trường nước, nguồn lợi sinh vật… trên cơ sở này đề xuất những ý kiến về khai thác sử dụng tài nguyên môi trường Vịnh đảm bảo phát triển bền vững. Các vũng-vịnh ở miền Trung và Nam Trung Bộ, như vịnh Đà Nẵng, vịnh Phan Thiết cũng đã được khảo sát nhằm nhằm tạo cơ sở khoa học cho định hướng khai thác sử dụng, quản lý bền vững, cũng nhằm phục vụ yêu cầu địa phương. Vũng Áng (Hà Tĩnh), vũng Chân Mây (Thừa Thiên - Huế), vũng Dung Quất (Quảng Ngãi) cũng đã được khảo sát về khí tượng, thuỷ văn động lực, môi trường biển làm cơ sở cho quy hoạch xây dựng cảng biển ở các vùng biển này. Một số vũng biển khác như vũng Xuân Đài, vũng Cù Mông (Phú Yên) và một số vũng biển khác cũng đã được khảo sát sơ bộ mang tính thăm dò cho các nghiên cứu tiếp sau. Có thể nêu một số nhận xét về tình hình điều tra nghiên cứu vũng-vịnh ở nước ta hiện nay: 1. Các vịnh biển lớn (vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan) đã được điều tra khảo sát từ sớm với sự hợp tác của các nước quanh Vịnh. Cơ sở tư liệu về các vấn đề cơ bản của các vịnh biển này tương đối toàn diện, trên cơ sở này đã có thể hiểu biết được các đặc trưng cơ bản về điều kiện tự nhiên, đánh giá tiềm năng các nguồn lợi thiên nhiên và hiện trạng sử dụng khai thác. Tuy nhiên, do phạm vi rộng lớn của các vịnh lại thuộc chủ quyền nhiều bên, nên có những vấn đề chung trên toàn vịnh như xu thế biến động của tài nguyên môi trường biển toàn vịnh, các vấn đề của vùng sâu và cửa vịnh còn chưa được nghiên cứu đầy đủ để có được sự đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh. 2. Các vũng-vịnh biển cỡ trung bình và nhỏ chỉ mới được điều tra nghiên cứu sơ bộ từ những năm 90 tới nay. Phần lớn các hoạt động điều tra nghiên cứu là nhằm phục vụ các yêu cầu thực tiễn cụ thể của địa phương: đánh bắt, nuôi trồng hải sản, du lịch biển, xây dựng cảng biển, xây dựng các khu bảo tồn biển… Vì vậy, nội dung điều tra nghiên cứu thường tập trung chủ yếu vào một số vấn đề có liên quan tới mục đích yêu cầu thực tiễn đặt ra. Chưa có được những tư liệu, hiểu biết toàn diện, đầy đủ về các quá trình biển đặc trưng cho từng loại vũng-vịnh cũng như xu thế biến động, rất cần cho việc đánh giá tiềm năng, dự báo biến động tài nguyên môi trường của vùng biển này. 3. Với một hệ thống vũng-vịnh ven bờ đa dạng, nhiều về số lượng. Vấn đề tồn tại lớn và cơ bản hiện nay là chưa có được những nghiên cứu đầy đủ, sâu sắc về loại hình học vũng-vịnh để có đủ cơ sở khoa học phân loại các vũng-vịnh theo tiêu chuẩn khoa học thể hiện bản chất các thuỷ vực này, chấm dứt tình trạng lẫn lộn, ngay cả trong khái niệm, từ ngữ hiện nay. Trên cơ sở đó, có thể đề xuất các ý kiến về phương hướng khai thác, sử dụng hợp lý dự báo xu thế biến động để đảm bảo phát triển bền vững.
  10. 9 Chương II KIỂM KÊ VŨNG VỊNH VEN BỜ BIỂN VIỆT NAM Vũng – vịnh là những hợp phần của cấu trúc hệ thống địa lý - địa chất - sinh thái biển ven bờ bên cạnh các vùng cửa sông và các đầm phá ven biển. Trên nền địa chất chung của các thuỷ vực đới ven bờ (coastal zone), các vũng-vịnh còn có những đặc tính riêng khác với các hợp phần khác. Vì vậy, phương pháp luận nghiên cứu vũng-vịnh, một mặt phù hợp với phương pháp luận nghiên cứu đới ven bờ nói chung, đồng thời cũng có những điểm riêng phù hợp với hợp phần này của thiên nhiên biển. I. ĐỊNH NGHĨA VŨNG VỊNH 1. Phương pháp tiếp cận 1.1. Tiếp cận hệ thống Như trên đã nói, các vũng-vịnh dù có những đặc điểm khác nhau, trước hết vẫn phải coi là một hợp phần trong hệ thống địa lý – sinh thái đới ven bờ. Nghiên cứu vũng-vịnh do đó cần được thực hiện với những phương pháp, khái niệm, quy luật vận dụng cho một đơn vị địa hệ ở cấp dưới đới ven bờ, để có thể làm rõ những đặc trưng của một đơn vị cấp dưới có mối tương quan với các đơn vị đồng cấp trong hệ thống như những địa hệ thiên nhiên trong đới ven bờ. Với cách tiếp cận này, tìm hiểu bản chất các vũng-vịnh này bên cạnh những đặc điểm chung của các đơn vị trong đới ven bờ cần phân tích những đặc điểm riêng của vũng-vịnh so với các hợp phần khác. Nói cách khác, nghiên cứu vũng-vịnh cần được tiếp cận theo quan điểm hệ thống, đi từ các vấn đề tổng quát của dải ven biển, vùng biển ven bờ tới các vấn đề riêng của một hợp phần vũng-vịnh trong địa hệ đó, trong quá trình phát triển tiến hoá qua các giai đoạn trong lịch sử phát triển của đối tượng này. 1.2. Tiếp cận sinh thái – môi trường Vũng-vịnh có những đặc điểm điều kiện tự nhiên của vùng biển ven bờ, bao gồm cả phần bờ và phần biển. Trong điều kiện tự nhiên này, hình thành và phát triển những hệ sinh thái, sinh cảnh tiêu biểu của vùng biển ven bờ như rừng ngập mặn, các rạn san hô,
  11. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 10 các thảm cỏ biển, các vùng triều trên bờ biển hở, đáy cát hoặc rạn đá, các sinh cảnh đáy mềm… với những điều kiện môi trường đặc trưng. Do vậy, nghiên cứu vũng-vịnh, bên cạnh cách tiếp cận hệ thống cấu trúc địa lý, còn có thể sử dụng cách tiếp cận sinh thái – môi trường, tìm hiểu, xác định bản chất tự nhiên các vũng-vịnh theo các đặc điểm, chỉ tiêu đánh giá các hệ sinh thái – môi trường đặc trưng cho các vũng-vịnh. Với cách tiếp cận này, các vũng-vịnh sẽ được phân tích, để thấy được sự khác biệt về cấu trúc, chức năng, diễn biến sinh thái môi trường của các hệ sinh thái và đa dạng sinh học theo thời gian và trong không gian của vùng biển ven bờ. Theo quan điểm này, vũng-vịnh vẫn được nghiên cứu trong hiện trạng và biến động của các hệ sinh thái trong vũng-vịnh do tác động của các nhân tố thiên nhiên và con người. 1.3. Tiếp cận giá trị thực tiễn Như ở phần trên đã nói, các vũng-vịnh có một tiềm năng tài nguyên thiên nhiên đa dạng, có giá trị to lớn, nhiều mặt. Hơn nữa, mục tiêu cuối cùng của nghiên cứu vũng- vịnh là để có được cơ sở khoa học định hướng cho việc khai thác sử dụng hợp lý tiềm năng tài nguyên đó, đảm bảo phát triển bền vững. Do vậy, để có được sự hiểu biết về bản chất của vũng-vịnh, xác định được sự khác nhau hoặc tương đồng giữa các vũng- vịnh, cần coi tiềm năng tài nguyên thiên nhiên, giá trị sử dụng của mỗi vũng-vịnh như những chỉ tiêu về giá trị thực tiễn, mục tiêu cuối cùng cần hướng tới của các vũng-vịnh. Bên cạnh sự hiểu biết về những sai khác về điều kiện tự nhiên của các vũng-vịnh có được qua cách tiếp cận hệ thống và sinh thái – môi trường, cách tiếp cận giá trị thực tiễn sẽ bổ sung thêm những đặc điểm khác của vũng-vịnh để có được sự hiểu biết, đánh giá toàn diện của các vũng-vịnh cả về mặt khoa học và về mặt thực tiễn. Với các cách tiếp cận trên đây, cần có hệ thống các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tương ứng về địa lý sinh thái, môi trường, tài nguyên, kinh tế - xã hội phù hợp để có thể phân tích, đánh giá các tư liệu, nhằm rút ra được kết luận về các vấn đề thể hiện bản chất và sự khác nhau của các vũng-vịnh cũng như định hướng khai thác, sử dụng hợp lý. 2. Vị trí của vũng - vịnh trong đới ven bờ Như ta biết, đới ven bờ Việt Nam có 3 loại địa hệ tiêu biểu là: vùng cửa sông, đầm phá và các vũng-vịnh. Các thuỷ vực này được hình thành qua lịch sử phát triển tiến hoá của đới bờ, với sự tương tác giữa các quá trình địa chất nội sinh và ngoại sinh và các yếu tố động lực: dòng chảy sông, biển, thuỷ triều, sóng ven bờ. Mỗi loại hình thuỷ vực này có những đặc trưng riêng về hình thái, động lực, sinh thái… tạo nên đặc trưng loại hình học của thuỷ vực. Các đặc trưng này đặt ra yêu cầu, phương hướng khai thác sử dụng phù hợp với từng loại hình, nhằm đảm bảo hiệu quả và sự phát triển bền vững. Tuy nhiên sự đồng thời tồn tại các loại hình địa hệ này trong đới ven bờ dễ gây nhầm lẫn cho việc xác định đúng từng loại hình, vì vậy việc phân biệt các loại hình này, từ sự phân tích những sai khác về các mặt hình thái địa mạo địa chất, thuỷ văn động lực, sinh thái môi trường là cần thiết để có định hướng đúng trong việc khai thác, sử dụng chúng.
  12. Chương II. Kiểm kê vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam 11 2.1. Cửa sông (Estuarine area ) Cửa sông là loại hình thuỷ vực được hình thành ở nơi sông đổ ra biển, nơi chuyển tiếp giữa sông và biển. Theo Pritchard (1967) cửa sông là “một thuỷ vực nửa kín ven bờ thông với biển khơi, trong đó có sự hoà trộn nhất định giữa nước biển và nước ngọt đưa đến từ lục địa”. Đặc điểm cơ bản của cửa sông là vị trí tiếp giáp giữa sông với biển và sự trộn lẫn dần khối nước sông từ lục địa chảy ra và khối nước biển từ biển tràn vào. Ở vùng cửa sông, động lực sông có vai trò thống trị, ngoài ra còn có thể có sóng hoặc triều phối hợp. Về mặt hình thái, cửa sông có thể phân thành 3 kiểu chính: • Cửa sông châu thổ (Delta): Được hỉnh thành do sự bồi đắp của phù sa sông lấn ra biển, hệ lạch đưa trầm tích sông ra biển chiếm ưu thế. Châu thổ có 2 phần: phần nổi vùng triều và phần chìm, ra tới độ sâu 15 – 20m. Cửa sông châu thổ có động lực sông thống trị, với sự phối hợp của các động lực sóng hoặc triều, có thể nửa kín hoặc hở. Cửa sông châu thổ thấy ở cả 3 vùng biển Bắc, Trung và Nam Bộ nước ta. • Cửa sông hình phễu (Estuary): là cửa sông nửa kín, có dạng phễu, bị ngập chìm không đền bù trầm tích. Trầm tích sông nước ngọt ưu thế, cửa vào hạn chế thu hẹp cửa sông, trầm tích biển ưu thế. Thuỷ triều ở đây có vai trò quan trọng. Cửa sông hình phễu điển hình ở nước ta là các cửa sông Bạch Đằng và Đồng Nai. • Cửa sông liman (Liman): Vùng ngập chìm không đền bù, ở vùng không có thuỷ triều hoặc thuỷ triều nhỏ với động lực sóng đáng kể và thường có doi cát chắn cửa. Cửa sông liman phổ biến ở Trung Bộ. Bảng 2.1. So sánh các đặc điểm cơ bản của các hợp phần địa hệ trong đới ven bờ Tính chất Vũng-vịnh Cửa sông liman Cửa sông hình Cửa sông châu thổ Đầm phá phễu Mức độ đóng kín Hở Kín Nửa kín Nửa kín-hở Rất kín tương đối Yếu tố động lực Sóng, triều Sông, sóng Triều Sông, sóng, triều Sóng tương đối Tính chất phân tầng Rất mạnh Rất yếu Khá mạnh Yếu Mạnh nước Khá mạnh, lấp Xâm thực xói Bồi tụ xâm thực Chậm, rất chậm Mạnh, lâm tiến Mạnh, lấp đầy đầy lở ưu thế Tính chất ổn định Biến động mùa Biến động Lâu dài Khá ổn định Biến động mạnh cửa mạnh mạnh Kiểu bờ ưu thế Đá gốc, cát Cát Bùn Bùn, cát Cát Phân bố ở Việt Nam Trung, Bắc Bộ Trung Bộ Bắc, Nam Bộ Bắc, Trung Nam Bộ Trung Bộ 2.2. Đầm phá (Lagoon) Theo Phleger (1981), đầm phá là loại hình thuỷ vực ven biển nước lợ, mặn hoặc siêu mặn, được ngăn cách với biển bởi một đê cát và có cửa (inlet) thông với biển phía ngoài. Cửa có thể mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa mưa, thậm chí bị đóng kín, nhưng vẫn trao đổi với bên ngoài nhờ thẩm thấu hay chảy thấm qua đê cát chắn. Đầm phá là loại hình thuỷ vực ven bờ phổ biến trên thế giới, chiếm khoảng 15% diện tích bờ
  13. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 12 đại dương thế giới. Đặc điểm cơ bản của đầm phá là có khối nước bị ngăn cách với biển ngoài bởi đường bờ, tuy vẫn có cửa thông song vẫn có ảnh hưởng lớn của sông, vì vậy, nước nước đầm phá thường là nước lợ, do có dòng nước sông từ bờ đổ vào. Trầm tích sông, nước ngọt ít. Nước sông, cửa vào bị chắn, thuỷ triều hạn chế. Theo hình thái động lực có thể phân chia đầm phá ven bờ đại dương thế giới thành 4 kiểu: Đầm phá cửa sông (Estuarine lagoon), đầm phá hở (opening lagoon), đầm phá kín từng phần (partly closed) và đầm phá kín (closed lagoon). Đầm phá ở Việt Nam chiếm khoảng 21% chiều dài đường bờ biển, gồm 12 đầm phá lớn nhỏ phân bố chủ yếu ở miền Trung – Nam Trung Bộ, tổng diện tích khoảng 457,8km2, trong đó hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (68 km2) là lớn nhất, sau các đầm phá Mard (200km2) và Santo Domingo (Dominica) (100km2). Trong khu vực châu Á, có thể kể đến các đầm phá Talesap (Thái Lan) và Chilka (Ấn Độ). 2.3. Vũng-vịnh (Gulf, Bay) Có thể có những quan niệm khác nhau về vũng-vịnh song, theo cách hiểu chung, có thể coi vũng-vịnh như những phần biển nằm trong chỗ lõm vào của đường bờ biển hoặc các phần biển ven bờ có đảo che chắn bên ngoài, trong đó các quá trình biển thống trị trong điều kiện khép kín tương đối của vùng nước biển đó, không có hoặc rất ít tác động của các quá trình sông. Như trong phần đầu đã nói, ở nước ta khái niệm vũng-vịnh trong đời sống dân gian cũng như trong văn liệu còn chưa được rõ ràng, chuẩn xác, còn nhiều lẫn lộn giữa khái niệm, vũng-vịnh và đầm phá, giữa vũng và vịnh. Nguyên nhân là do cho tới nay chưa có những tiêu chuẩn loại hình học (typology) được xác định cho từng loại hình thuỷ vực vũng, vịnh, đầm phá. Vì vậy các khái niệm cũng như tên gọi cho các loại hình thuỷ vực này còn theo chủ quan hoặc cảm tính. Điều này dẫn tới một số thuỷ vực dạng vũng-vịnh có khi mang nhiều tên gọi như: Đầm Cầu Hai (Trần Đức Thạnh, 2005), Vũng Cầu Hai (B. H. Long, 2002); Vịnh Bình Cang (B.H. Long, 2002), Vũng Bình Cang (T.Đ. Thạnh, 2005); Vũng Rô (T.Đ. Thạnh, 2005), Vịnh Vũng Rô (B. H. Long, 2002). Sự khác nhau về tên gọi và một vài đặc điểm khác của thuỷ vực theo cảm quan này có thể là do sự phân biệt chủ yếu chỉ dựa trên độ lớn của mặt nước mà chưa căn cứ vào những tiêu chuẩn mang tính khoa học. Trong văn liệu nước ngoài, các khái niệm và tên gọi các thuỷ vực dạng vũng – vịnh còn phức tạp hơn, bao gồm nhiều loại thuỷ vực ở các cấp độ khác nhau: Gulf, Bay, Embayment Bight, Shelter. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn để phân biệt các loại hình thuỷ vực này còn chưa thật rõ ràng. Chưa có những tiêu chuẩn về diện tích hay độ sâu cụ thể cho các thuỷ vực này. Chỉ về địa mạo, địa chất mới có tiêu chuẩn chung là: Gulf thường chiếm một không gian rộng lớn của thềm lục địa và chỉ lộ ra trong điều kiện mực nước biển hạ thấp trong băng hà lần cuối, trong khi hầu hết các Bay có độ sâu không lớn và chỉ hình thành và phát triển trong thời gian biển tiến sau băng hà lần cuối (biển tiến Holocen). Tuy nhiên , trong nhiều trường hợp, Gulf còn gồm nhiều Bay. Còn khái niệm Embayment là để chỉ các vùng trũng ven bờ có hình thái đa dạng chưa bị trầm tích sông, biển bồi lấp
  14. Chương II. Kiểm kê vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam 13 đáng kể. Embaymelaapscos bờ cấu tạo từ đá gốc, dốc, có cửa thông thoáng, trao đổi nước tự do với biển. Địa hình ngầm khá bằng phẳng và thoải dần ra phía biển, làm lượng nước sông đổ vào nhỏ so với khối nước trong thủy vực. Tình hình trên đây về các quan niệm khác nhau về vũng-vịnh, cả ở trong nước và trên thế giới cho thấy cần có sự nghiên cứu đầy đủ về loại hình thuỷ vực này để có được quan niệm nhất quán hơn với những tiêu chuẩn rõ ràng, chuẩn xác hơn về đặc điểm loại hình học, cũng như về từ ngữ học cho các vũng-vịnh trong hệ thống thuỷ vực hợp phần của đới ven bờ. Như vậy, so với hai loại hình thuỷ vực trên của đới ven bờ (cửa sông và đầm phá) tuy cũng là một trong các thuỷ vực ven bờ song vũng-vịnh có thể coi là loại thuỷ vực mang tính chất biển điển hỉnh, có bờ vịnh ổn định với các đặc trưng sinh thái biển khác với hai loại hình thuỷ vực ven bờ trên, mang tính chất sông biển, với sự tác động của hai qúa trình sông và biển, với đặc trưng sinh thái nước lợ, không còn mang tính chất biển điển hình. Tuy nhiên trong thiên nhiên, giữa 3 loại hình trên vẫn còn có mối quan hệ về hình thái, thể hiện mối quan hệ phát triển tiến hoá trong lịch sử và hình thành. Một số cửa sông hình phễu có hình thái lõm vào giống vũng-vịnh vì vậy có tên dân gian là vịnh như “Vịnh” Ghềnh Rái hoặc “Vịnh” Đồ Sơn (Hải Phòng), tuy xét về bản chất, đây là các cửa sông hình phễu với độ mặn và tính chất phân tầng nước đặc trưng theo loại hình thuỷ vực này. Trong khi đó, lại có những dạng chuyển tiếp giữa cửa sông hình phễu và vũng-vịnh như Vịnh Cửa Lục, Vịnh Tiên Yên – Hà Cối (Quảng Ninh). Giữa vũng-vịnh và cửa sông châu thổ cũng có thể có dạng trung gian như “Vịnh” Cây Dương (Cà Mau) có hình thái lõm về phía lục địa song bản chất lại là cửa sông châu thổ với quá trình sông ưu thế. Mối quan hệ giữa đầm phá và vũng-vịnh cũng có thể nhận thấy ở một số thuỷ vực như Đầm Lăng Cô, Đầm Cầu Hai (Thừa Thiên - Huế) có hình thái giống vũng-vịnh, thực chất đây là các đầm phá với các cồn cát chắn và các quá trình thuỷ động lực mang tính chất đầm phá thể hiện ở tính chất phân tầng nước cao ở các thuỷ vực này. Trong khi đó, lại có những thuỷ vực dạng vũng-vịnh như “Đầm” Nha Phu (Phú Yên) nhưng do quá trình bồi tụ mạnh, nước nông làm biến đổi tính chất thuỷ động lực, chuyển thành dạng đầm phá hoặc cửa sông nằm trong Vịnh Bình Cang (Khánh Hoà). Cũng như vậy Đầm Thuỷ Triều hiện nay nằm trong Vịnh Cam Ranh, song đã không còn mang tính chất của vũng-vịnh. Những điểm trên đây về đặc trưng cơ bản của 3 loại hình thuỷ vực trong đới ven bờ ở nước ta hiện nay, cũng như sự phân tích về mối quan hệ giữa các loại hình thuỷ vực này ta có thể nêu lên những ý kiến bước đầu về vị trí của vũng-vịnh trong đới ven bờ. 1. Vũng-vịnh có thể coi là một trong những loại hình thuỷ vực tiêu biểu phổ biến trong thiên nhiên đới ven bờ nước ta, một địa hệ hợp phần trong cấu trúc hệ thống địa lý-địa chất đới ven bờ, được hình thành trong lịch sử phát triển tiến hoá địa chất trong mối quan hệ tương tác giữa các quá trình ngoại sinh và nội sinh của động lực bờ trong đới ven bờ Việt Nam. 2. Vũng-vịnh là một thực thể địa lý - địa chất – sinh thái riêng biệt, khác với các loại hình thủy vực khác như đầm phá, cửa sông với đặc trưng hình thái và động lực của vũng-vịnh thể hiện ở hình thái bờ vịnh, mối quan hệ với biển và động lực biển thống trị.
  15. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 14 3. Giữa các loại hình thuỷ vực này có những mối quan hệ về hình thái, thể hiện phần nào mối quan hệ nguồn gốc trong quá trình hình thành, trong lịch sử phát triển tiến hoá của đới ven bờ. 3. Định nghĩa vũng - vịnh Để có được một định nghĩa chuẩn xác cho loại hình thuỷ vực vũng-vịnh, cần có những nghiên cứu đầy đủ về loại hình học thuỷ vực đới ven bờ, về bản chất tự nhiên của vũng-vịnh để có thể xác định những tiêu chuẩn tự nhiên, không hình thức, nhân tạo cho loại hình thuỷ vực này. Mặt khác, việc định nghĩa vũng-vịnh không thể không quan tâm đến việc định danh các thuỷ vực loại vũng-vịnh hiện đang tồn tại rất phức tạp trong văn luận và trong dân gian ở nước ta, cũng như các khái niệm và tên gọi các thuỷ vực dạng vũng-vịnh trên thế giới đã có hiện nay để có sự hội nhập, xác định mối tương quan ít nhất là về mặt định danh. Như ở phần trên đã nêu, hiện nay ở nước ta vẫn tồn tại nhiều khái niệm và tên gọi các thuỷ vực loại vũng-vịnh như: vịnh, vũng, vụng, tùng… chưa kể các tên gọi lẫn lộn đầm phá, cửa sông với vũng-vịnh, dẫn tới đồng danh nhưng dị nghĩa và ngược lại. Có thể nêu nhiều ví dụ về vấn đề này: “vịnh Cửa Lục” (Quảng Ninh) trong hải đồ của Pháp ghi là “baie de Courbe” thực chất là một vùng cửa sông hình phễu (Estuary) qui mô nhỏ, nhưng rất điển hình, có nguồn gốc ngập chìm thung lũng kiến tạo. “Vụng Cầu Hai” đúng ra là một bộ phận của hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên - Huế); “Đầm Thị Nại” (Quảng Ninh), “Đầm Nha Phu”, “Đầm Thuỷ Triều” nguyên là những bộ phận của vịnh Làng Mai, vịnh Bình Cang và vịnh Cam Ranh. Trong khi đó, các “vịnh Ghềnh Rái", “vịnh Rạch Giá”, “vịnh Cây Dúi” (Kiên Giang) thực chất là các vùng cửa sông ở các khu vực này. Tình hình trên đây cho thấy để thuận tiện cho việc nghiên cứu cần có những giải pháp trước mắt để có thể tạm thời sắp xếp lại các đơn vị cũng như tên gọi các thuỷ vực loại vũng-vịnh ở nước ta, cho tới khi có được những kết quả nghiên cứu loại hình học, đề xuất được các tiêu chuẩn phân loại vũng-vịnh xác đáng với đủ căn cứ khoa học. Kết quả nghiên cứu so sánh trị số diện tích các thuỷ vực loại vũng-vịnh theo tên gọi và tên ghi trên bản đồ, cho thấy đa số các “Vũng” có diện tích nhỏ hơn 50km2 và đa số các “Vịnh” có diện tích trên 50km2. Dựa trên cơ sở này, có thể đề xuất những ý kiến sau: 1. Dùng khái niệm vũng-vịnh để chỉ các thuỷ vực loại vũng-vịnh nói chung trong đới ven biển Việt Nam, để phân biệt với các thuỷ vực khác (cửa sông, đầm phá). 2. Dùng hệ thống phân chia 3 cấp để phân loại các thuỷ vực loại vũng-vịnh ở nước ta dựa trên diện tích mặt nước thuỷ vực: Cấp 1: Vịnh biển có diện tích trên 500km2 Cấp 2: Vịnh ven bờ có diện tích từ 50 - 500km2 Cấp 3: Vũng có diện tích dưới 50km2 3. Dùng thống nhất tên gọi “Vũng”, để chỉ các thuỷ vực loại vũng-vịnh có diện tích dưới 50km2 (không dùng tên gọi vụng, tùng…). Về mặt quan hệ tương đương với các khái niệm và tên gọi trên thế giới, có thể tạm
  16. Chương II. Kiểm kê vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam 15 thời quy định như sau: Tên Việt Nam Tên Thế Giới Vịnh biển Gulf Vịnh ven bờ Bay, Embayment Vũng Bight, Shelter Từ những ý kiến trên về phân loại và tên gọi các thuỷ vực loại vũng-vịnh ở Việt Nam, cũng như những khái niệm chung về các thuỷ vực này, có thể đề xuất một số định nghĩa sau. 1. Vũng-vịnh là loại hình thuỷ vực mang tính chất địa hệ hợp phần trong cấu trúc hệ thống địa lý - địa chất - sinh thái đới ven biển Việt Nam. Đây là một phần biển nằm trong một vùng hoặc của bờ biển có độ lớn khác nhau, có khi có các đảo chắn bên ngoài, với sự thống trị của các quá trình biển, tác động hạn chế của các quá trình sông. 2. Vịnh biển là thuỷ vực loại vũng-vịnh có diện tích lớn trên 500km2, có độ sâu lớn trên 50m, chiếm một vùng lãnh thổ lớn mang ý nghĩa quốc gia. Tương tác biển lục địa ít thể hiện trong lịch sử phát triển địa chất.
  17. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 16 o o o o o o 102 104 106 108 110 112 Trung Quèc o 22 22 o Hµ Néi V. Tiªn Yªn-Hµ Cèi H¶i Phßng V.C« T« V. B¸i Tö Long Quan Lạn V. Cöa Lôc Vg. Qu¸n L¹n 20o V. Lan H¹ V. H¹ Long 20 o Vg. Nghi S¬n Bé c B¾ NghÖ An Vg. Quúnh L−u h H¶i Nam V. DiÔn Ch©u n VÞ o Lµo 18 Vòng ¸ng 18 o g) ½n µN (§ Sa ng oµ oH Vg. Ch©n M©y Thõa Thiªn-HuÕ ®¶ o V. §µ N½ng 16 Chàm o Q. §µ N½ng Vg. Cï Lao Trµm 16 Vg. An Hoµ Vg. Dung QuÊt Vg. ViÖt Thanh V. Nho Na V. Mü Hµn 0 Km 200 400 n Vg. Mü A Vg. Mü Thµnh o Vg. Moi 14 Vg. Phï C¸t 14 o Vg. Tuy Ph−íc Vg. Lµng Mµi Vg. Xu©n H¶i Vg. Cï M«ng V. TrÝch V. ¤ng Diªn Campuchia §¾c L¨c V. Xu©n §µi Vòng R« Vg. Cæ Cß Géi BÕn Vg. Phong 12 o V. V¨n o V. C¸i Bµn 12 V. B×nh C Vg.V. Nha ang-Nha Phu V. Hßn Trang Ph V T re Tp. Hå ChÝ Minh an V. . Ca V. Ph Ra B×n m R Pa an V. ng h B an M n- R a h V. ek §µ Ý Ph on R an »n 10 o g g Phó Quèc Vg. Vg. B·i B·i V¹n V¹n Th riv 10 o iÕ Vg. §Çm er t µ) Ho nh VÞnh Th¸i Lan BiÓn §«ng h¸ (K Cµ Mau Sa o §¶ Vg.§Çm Tre ng n −ê C« Vg. §«ng B¾c Tr Vg o .C ®¶ o «n 8 S¬ o Q. n 8 102 o 104 o 106 o 108 o 110 o 112 o
  18. Chương II. Kiểm kê vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam 17 Hình 2.1. Sơ đồ phân bố hệ thống vũng, vịnh ven bờ biển Việt Nam 3. Vịnh ven bờ là thuỷ vực loại vũng-vịnh có diện tích trung bình dưới 500km2, có độ sâu trung bình dưới 50m, chỉ chiếm một vùng lãnh thổ trung bình mang ý nghĩa khu vực. Tương tác biển lục địa tác động rõ rệt qua từng giai đoạn phát triển. 4. Vũng là thuỷ vực loại hình vũng-vịnh có diện tích nhỏ dưới 50km2, độ sâu nhỏ dưới 30m, chỉ chiếm một bộ phận lãnh thổ nhỏ mang ý nghĩa địa phương. Tương tác biển lục địa thường xuyên tác động trong từng giai đoạn phát triển. II. KIỂM KÊ VŨNG - VỊNH VEN BỜ BIỂN VIỆT NAM Hệ thống vũng - vịnh ven bờ biển Việt Nam được kiểm kê trên hải đồ tỷ lệ 1: 100 000 bao gồm cả ven bờ biển và đảo ven bờ. Theo đó, các đối tượng có kích thước nhỏ hơn lưới 1×1cm hay diện tích nhỏ hơn 1km2 không được kiểm kê. Nội dung kiểm kê gồm tên gọi truyền thống theo hải đồ, toạ độ địa lý, kích thước cơ bản (chiều dài, chiều rộng, độ sâu trung bình/lớn nhất) và diện tích mực nước trung bình (bảng 2.3) tới cửa vịnh được quy ước là chiều rộng, khoảng cách giữa hai mũi nhô là chiều rộng cửa và giữa hai bờ tương ứng được quy ước là chiều dài cửa vũng - vịnh. Kết quả kiểm kê xác nhận có 48 vũng - vịnh (hình 2.1) có diện tích trong khoảng 2 đến 560km2 và tổng diện tích khoảng 3997,5km2, gấp lần 9 lần tổng diện tích hệ thống đầm phá ven bờ miền Trung Việt Nam. Các thuỷ vực được ghi nhận theo định nghĩa vũng-vịnh trên đây, theo trực quan là rất đa dạng về diện tích mặt nước, độ sâu, đặc điểm trầm tích, ảnh hưởng của sông và biển đối với thuỷ vực (bảng 2.3). Sơ bộ có thể phân chia một cách nhân tạo vũng-vịnh Việt Nam thành các nhóm sau: 1. Kiểm kê vũng - vịnh theo diện tích Phân chia vũng-vịnh theo độ lớn diện tích có thể căn cứ vào diện tích mặt nước ở mực biển trung bình. Diện tích của hệ thống vũng-vịnh ven bờ biển Việt Nam trong khoảng 2 - 560 km2 và có thể phân chia thành 4 cấp: 10 50 100 km2 Rất nhỏ Nhỏ Trung bình Lớn Hình 2.2. Phân chia vũng - vịnh theo diện tích
  19. Trần Đức Thạnh (chủ biên), Nguyễn Hữu Cử, Đỗ Công Thung, Đặng Ngọc Thanh 18 Theo đó, ven bờ biểnViệt Nam có 13 vũng-vịnh loại lớn (chiếm 27% tổng số), trong đó lớn nhất là vịnh Bái Tử Long, với tổng diện tích 3055,4km2 (chiếm 76,4% tổng diện tích hệ thống vũng-vịnh), có 6 vũng - vịnh loại trung bình, 17 vũng - vịnh loại nhỏ và 12 vũng - vịnh rất nhỏ (bảng 2.2).
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2