1
A. M ĐU:
Cách đây gn 2 thế k, Karl Marx đã viết: Theo đà phát trin ca đi công nghip,
vic to ra ca ci ít ph thuc vào thi gian lao đng và s lưng lao đng đã chi
phí mà ph thuc vào vic ng dng khoa hc vào sn xut.
B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐẠI HC SƯ PHM K THUT TP.HCM

KINH T HC GIÁO DC
(Bi tp kết thc mơn hc)
GVHD :PGS. TS L SƠN
Hc vin : TRN TH HNH THO
TP.H CHÍ MINH 2006
2
Thn nhn không tạo ray móc… Tất cả đó là sn phẩm lao động của con người…
đều là sc mạnh đã vật a của tri thức. Sự phát triển của tư bản cố định là chsố cho
thấy tri thc xã hi phổ biến đã chuyển hóa đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất
trực tiếp, do đó, nó cũng là chsố cho thấy những điều kiện của chính q trình sống
của xã hi đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của tri thc phổ biến”.
Nghiên cứu sự hình thành nền kinh tế hiện đại – nền kinh tế chủ yếu dựa trên việc sản
xuất và s dụng tri thức- L. Thurow nhận định rằng: “ Sự chuyển hóa hiện nay thường
bị mô tả sai lệch là cuộc cách mạng thông tin, hay được đánh đồng với việc hình thành
hi thông tin, trong khi đó, trên thực tế sự chuyển a này mt cái gì đó lớn hơn
nhiu”. Thurow cho rằng, hệ thống kinh tế đang hình thành đã đặt nền mống dựa vào
tri thức.
Tốc độ thay đổi công nghệ gia tăng với thế hệ phát minh và ứng dụng mới.
Chu kỳ thiết kế và tiếp thị đi từ ý tưởng đến phát minh, đổi mới,
bt chước đang dần dần rút ngắn. Như vậy các sản phẩm phải
nhanh chóng chiếm lĩnh th trường trước khi cạnh tranh có thể sao
chép lại chúng. Vào cuối những năm 1940, chu kỳ sản phẩm kéo dài
tớ 30 hoặc 40 năm, nhưng ngày nay, thật khó mà có thể kéo dài tới 30
hoc 40 tuần.
ng nghiệp sẽ nhanh chóng áp dụng những công nghệ sản xuất mới
khi chúng có thể được phát triển.
ng việc thiết kế sự hổ trợ của máy tính trong ngành xe hơi và
c ngành công nghiệp khác sẽ rút ngắn thời gian chậm trể từ ý
tưởng đến hòan chỉnh thiết kế.
Tất cả tri thức công nghệ chúng ta sử dụng hôm nay sẽ chỉ chiếm 1%
tri thức được sử dụng vào năm 2050.
Nguồn: Marvin J Cetron, Owe Davies: Trends now chaging the World:
Technology, the Workplace, management and institutions ( The Futurust,
Vol. 35, Mar/ Apr. 2001).
B.NỘI DUNG
I. NGUỒN GỐC CỦA “KINH TẾ TRI THỨC”.
Cuc cách mng công nghiệp lần thứ nhất diễn ra vào thế kỷ XVIII đến đầu thế k
XIX. Cuc cách mạng này đã làm cho nền kinh tế nông nghiệp chuyển sang kinh tế
công nghiệp Việc sản xuất máy hơi nước và nền sản xuất khí là thành tựu ch
yếu của cuộc cuộc cách mạng này. Hệ thống k thuật tính truyền thống của thời
đại nông nghiệp (kéo dài 17 thế kỷ) đã bthay thế. Nếu trong thời đạinông nghiệp,
nguyên liệu chủ yếu là g và năng lượng chyếu là sức mạnh cơ bắp, sức gió, sc kéo
động vật… thì đến thời đại cách mạng công nghiệp, nguyên liu mới là sắt, năng
ợng mới là than đá, nguồn động lực là máyi nước.
3
Tiền đề kinh tế chính của bước quá độ này s thắng lợi của các quan hsản xuất tư
bn chủ nga, còn tiền đề khoa học là sự xuất hiện nền khoa học thực nghiệm.
Cuc cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra vào cui thế k XIX đến đầu thế k
XX với một hệ thống kỹ thuật mới dựa trên nguồn động lực động đốt trong,
nguồn năng lượng điện năng, dầu mỏ, khí đốt. Còn nguồn nguyên vật liệu là thép,
các kim loại màu, các a phm tổng hợp… đã to nên tiền đề mới và những cơ sở
vững chắc đnền công nghiệp phát triển ở mức cao hơn.
Cuc ch mng công nghiệp lần thứ hai được chuẩn bị bằng sự phát triển 100 năm
của các lc lượng sản xuất trên s nền sản xuất đại khí bằng sự phát triển
khoa hc nhờ hthống k thuật mới. Yếu tquyết định của cuộc cách mạng này
chuyển sang sản xuất trên sở điện cơ khí và sang giai đọan tự động a cục bộ.
Khoa học trở thành ngành lao động đặc biệt.
Cuc cách mạng công nghiệp lần thứ ba hay còn gọi là cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ hiện đại . Nếu cuộc cách mng công nghiệp lần thứ nhất và thứ hai chỉ thay
thế một phần chc năng lao động chân tay của con người bằng máy móc khí hoặc
tđộng hóa một phần hay tự động hóa cục bộ thì cuc cách mng khoa học và ng
nghiệp hiện đại là sự thay thế phn lớn và hầu hết các chức năng ca con người c lao
động chân tay lẫn trí óc bằng các thiết bị máy c tự động a hoàn toàn trong q
trình sản xuất nhất định.
Sphát triển và thay thế nhau một cách nhanh chóng của các tri thức đã làm cho các
công nghra đời với tốc đchưa từng thấy và với vòng đời của chúng cứ t ngắn lại
dn.
Hiện nay chúng ta chưa thấy có sự thống nhất về định nghĩa cuộc cách mng khoa
học và công nghệ hiện đại”, nhưng thể hiểu cuộc cách mạng này sthay đi căn
bn trong bản thân các lĩnh vực khoa học và công nghệ cũng như mối quan hvà chc
năng xã hi của chúng, khiến cho cấu và động thái phát triển của các lực lượng sản
xuất cũng bị thay đi hoàn toàn. Trong đó , quan trọng nhất làviệc nổi lên vai trò hàng
đầu của yếu tố con người trong hthống lực ợng sản xuất dựa trên việc vận dụng
đồng b các ngành công nghmới có hàm ợng khoa học, công nghệ cao, gọi tắt là
các ngành công nghcao (hi- tech) như công nghệ thông tin, công nghvật liu mới,
công ngh sinh học…
Cuc cách mạng khoa học và công nghhiện đại là s biến đổi tận gốc lực lượng sản
xuất của xã hội hiện đại, được thực hiện với vai trò dn đường khoa học trong toàn b
chu trình “ khoa học công ngh – sn xuất con nguời môi trường”.
Những đặc điểm lớn của cuộc cách mạng này là:
1. Đó sự vượt lên của khoa học so với k thuật và công nghtrong quá trình
din ra đồng thời cuộc cách mạng khoa học và cách mạng công nghệ, đã to điều kin
đẩy nhanh tiến bk thuật - công nghệ. Ngược lại sự tiến bộ đó thúc đẩy khoa học
phát triển nhanh hơn nữa và đưa khoa học trỏ thành lực lượng sn xuất trực tiếp.
2. Các yếu tố riêng biệt của quá trình sn xuất được kết hợp hữu cơ với nhau và
được kết nối thành một hệ thống liên kết mạng trên quy mô quc gia và quc tế.
3. Hầu hết các chức năng lao động dần dn được thay thế từ thấp lên cao ( t lao
động chân tay sang lao động trí tuệ) trong qtrình thay đi về chất của quá trình sản
4
xuất, dẫn đến sự thay đi căn bản vvai trò của con người trong sản xuất, từ chỗ blệ
thuc và bị trói chặt Quan hệ một chiều) vào quá trình sản xuất tiến lên làm chủ và chi
phối lại quá trình sản xuất ( quan hệ hai chiều).
4. Tạo mt bước ngoặc trong toàn b hthống lực ợng sản xuất, nâng cao đáng
kể năng suất và hiệu quả của nền sản xuất xã hi, cũng như tác động một cách sâu sắc
vàtoàn diện tới các quan hệ kinh tế đối ngoại và mọi nh vực đời sống xã hi khiến
phân công lao động xã hi trong phạm vi quốc gia và quc tế ngày càng tiến bộ.
Nhìn lại trong cuộc cách mạng công nghiệp nói trên, ta thy rằng mỗi bước phát triển
trong hi đều dựa vào tri thức . Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba đã đánh
du một bước tiến mới của xã hi nhờ sự gia tăng nhanh chóng những tri thức.
T giữa thế k XX, Đặc biệt là t những năm 1980 đến nay, loài người đã nh vào
khoa học và công nghệ mà đạt những thành tựu:
Những cuộc du hành vũ trụ ni tiếp nhau, hứa hn mang lại những hiểu biết
mới so với khi loài người chưa thắng được sức hút ca trái đất.
Loài người đã m ra được nguồn năng lượng mới: Năng lượng nguyên t.
Năng lượngyợt xa những năng lượng đã có như than đá, dầu lửa, thủy điện
Công nghsinh học đã làm thay đổi duy về sự sống và tiến hóa. Nếu như
Darwin phát hiện ra những quy luật chọn lọc không tự nhiên ca muôn loài thì gi
đây, người ta đã bắt đầu cuộc sống với quy luật chọn lọc không tự nhiên.
Hthống máy tính ra đi với những thế hệ nối tiếp nhau cực kỳ nhanh chóng
mạng Internet đã làm nên s bùng nthông tin trên toàn cầu. Một cuộc cách mạng
tri thức bắt đầu.
Đến đây, nền kinh tế công nghiệp từng bước được thay thế bằng nền kinh tế mới:
Kinh tế tri thức.
Tri thức phải được phân biệt với thông tin. Có được một tri thức bất kể
trong lĩnh vực nào, nghĩa là có khng đhành động bằng trí óc hay tay
chân ( Các i viết ca Steinmueller, Forero Pineda, Jaramillo Salazar,
Hansson Lam đều khẳng đnh như vậy). Như vậy:
Tri thức về cơ bản, là mt năng lực nhận thức.
Thông tin ngược lại là một tổng thể những dliệu được kết cấu và
tnh thạo nhưng trơ lỳ và bt động chừng nào còn chưa
được sử dụng bởi những người có kiến thức để diễn giải và thao tác.
Sự khác biệt này có tt cả các ý nghĩa của khi người ta muốn biết về
c điều kiện tái sản xuất tri thức và thông tin. Khi vic tái sản xuất
thông tin chphí tổn giá sao chép ( nghĩa là hầu như bằng không nh
5
những phương tiện hiện đại) thì việc tái sản xuất tri thức lại tốn kém
hơn nhiều, bởi vì i được tái sản xuất là mt năng lực nhận thức, khó
diễn đạt rõ cũng khó chuyển giao từ nhân này sang cá nhân
khác.
Nguồn: Paul A David, Dominique Foray: Une introductions à l’economie
et à la socíeté du savoir. Revue Internationale des Sciences Sociales”.
No. 171, Mars 2002, Pp 13.
II. TRI THỨC VÀ KINH T TRI THỨC.
Vào những năm 80 của thế k XX, các công trình nghiên cứu của
J. Schumpeter, R. Solow, P. Drucker, Paul Romer… Đã khẳng định phải thay đi
thuyết của kinh tế học tân cổ điển, cho rằng tri thc là một thành phần của hệ thống
kinh tế. Với quan điểm này, tri thc là hình thức cơ bản nhất ca vốn, s ng trưởng
kinh tế là do tích lũy tri thức mang lại ( tri thức được hiểu là khoa học và công nghệ).
Tăng trưởng kinh tế không dựa vào tri thc sẽ không bền vững.
1.Khái niệm về tri thức
Trong sinh họat hàng ngày, không ít người coi thông tin ( Information) và tri thc
(Knowledge) đồng nghĩa, Thật ra chúng khác nhau nhưng mối quan hệ vi nhau
mật thiết.
Theo Anderson – Btrưởng bộ văn hóa Phần Lan: Tri thc là thông tin đã được xử
qua nhận thức đthành hiểu biết”. Như thế, tri thức không thlà stích lũy các
mu thông tin, do đó vai trò của tri thức không ging vai trò của thông tin.
Theo Bonaventura: Thông tin là tiềm năng của tri thức”.
Theo Rangganathan coi tri thc là tổng hòa những thông tin được nền n minh gìn
giữ.
Tri thức mang tính cá nhân; trái lại thông tin mang tính cng đồng thgiao tiếp
được. Khi người này chia sẻ tri thức với ngưi khác về một chủ đề nào đó thì những gì
được phổ biến qua hành động truyền thông sẽ trở thành thông tin. Sau khi thông tin
này đưc tiếp nhận và được xử lý, sẽ trở thành tri thc tri thức của cá nn đưc
chia s.
Oakeeshott cho rằng, sự xét đoán kết hợp với thông tin sẽ tạo ra tri thức hoặc khả năng
thc hiện, sản sinh hiểu biết và diễn giải. Như vậy: Tri thức là sự kết hợp giữa thông
tin và sự xét đoán.
Trong cuộc cách mng công nghiệp lần thứ nhất, việc tập trung huy động các
nguồn lực là ý nghĩa cơ bn đối với những tiến bộ ng nghiệp. Trong cuộc cách
mng công nghiệp lần thứ hai, ý nghĩa ấy thuộc về vấn đề sao chép các công nghệ
hin. Sang cuộc cách mng công nghiệp ln thứ ba, với sự tăng lên gấp bội của tri