
4
Nhiều cuộc bàn luận ở các quốc gia là tăng thuế và chi ngân sách để đáp ứng
tài chính cho giáo dục hay tăng phần đóng góp của sinh viên bằng việc tăng học phí
để đáp ứng nhu cầu tài chính cho giáo dục đại học đang diễn ra không chỉ ở các
nước đang phát triển mà cả nhjững nước đang phát triển. Trong các nước phát triển,
vấn đề trọng tâm đáng chú ý là làm thế nào nâng cao chất lượng giáo dục, giảng dạy
và nghiên cứu trong các trường đại học cũng như mở rộng cơ hội cho những đối
tượng có hoàn cảnh khó khăn nhưng có nhu cầu theo học đại học. Đối với những
nước kém phát triển thì vấn đề tập trung vào việc mở rộng giáo dục đại học đến
mức có khả năng đáp ứng nhu cầu của học sinh sau khi tốt nghiệp trung học.
Việc tìm một mô hình tài chính giáo dục đại học phù hợp với từng quốc gia,
từng điều kiện lịch sử, hoàn cảnh xã hội và văn hoá của mỗi nước đồng thời đáp
ứng được yêu cầu hội nhập và toàn cầu hoá là điều không dễ dàng, nhất là đối với
các nước đang phát triển.
A. TÌNH HÌNH CHUNG CỦA NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM
1. Hệ thống quản lý giáo dục:
Nền giáo dục Việt Nam được tổ chức theo hệ thống trung ương tập quyền về
giáo dục, thể hiện: nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục
tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử,
hệ thống văn bằng, chứng chỉ; tập trung quản lý chất lượng giáo dục, thực hiện phân
công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
cơ sở giáo dục
Ở Việt Nam hiện nay đang tồn tại hai cơ quan quản lý nhà nước cấp trung
ương về giáo dục và đào tạo là Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội. Ở cấp địa phương cũng có hai cơ quan quản lý Nhà nước cấp địa
phương tương ứng là Sở Giáo dục và Đào tạo và Sở Lao động – Thương binh và
Xã hội. Do đó, việc quản lý hệ thống giáo dục quốc dân của chúng ta vừa chồng
chéo, vừa bị chia cắt, phân tán nên quản lý kém hiệu lực và vậy khó lòng thực hiện
được các chính sách quốc gia thống nhất.