
Nợ công Hy Lạp.
1
Tiểu luận nhóm 5 – Kinh tế vĩ mô .
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
-------------*------------
TIỂU LUẬN
KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
HY LẠP
NHÓM 5
Hà Nội, 2011

Nợ công Hy Lạp.
2
Tiểu luận nhóm 5 – Kinh tế vĩ mô .
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới khiến nền kinh tế chao đảo, cho đến
nay chưa kịp khôi phục hoàn toàn. Năm 2010, nợ công vượt quá cao so với mức an
toàn ở những nền kinh tế phát triển, đang trở thành chủ đề nóng bởi đó là yếu tố có
nguy cơ đe dọa những dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, làm lo ngại tới viễn
cảnh nền kinh tế một lần nữa lại rơi vào tình trạng suy giảm. Cuộc khủng hoảng nợ
công tại Hy Lap hiện nay được coi là tâm chấn với sức ảnh hưởng lớn và đang có
nguy cơ lan tỏa sang nhiều nền kinh tế khác. Do đó, việc đi sâu tìm hiểu về Nợ công
của Hy Lạp mang tính thời sự và rất cần thiết. Thông qua bài nghiên cứu này, chúng
em cũng có cái nhìn toàn diện hơn về nguyên nhân, diễn biến, hậu quả của cuộc khủng
hoảng nợ công, đồng thời rút ra được nhiều bài học tác động đối với Việt nam.

Nợ công Hy Lạp.
3
Tiểu luận nhóm 5 – Kinh tế vĩ mô .
NỘI DUNG
I/ Khái quát chung về nợ công:
1. Khái niệm:
1.1) Nợ công (nợ chính phủ, nợ quốc gia)
Là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa
phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách.
Là thâm hụt ngân sách luỹ kế tính đến một thời điểm nào đó.
1.2) Cách tính nợ công
Quy mô nợ công = Khoản nợ / Tổng GDP
2. Phân loại:
2.1) Phân loại nợ công
- Nợ trong nước: khoản vay trong nước
- Nợ nước ngoài: khoản vay nước ngoài
2.2) Phân loại hình thức đi vay nợ công
- Phát hành trái phiếu chính phủ:
bằng đồng nội tệ: rủi ro tín dụng thấp.
bằng ngoại tệ: các ngoại tệ mạnh, rủi ro tín dụng cao.
- Vay tiền trực tiếp:
các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế như; Quỹ Tiền tệ quốc tế
(IMF)... Hình thức vay này thường được chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng
thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ
của họ không cao.

Nợ công Hy Lạp.
4
Tiểu luận nhóm 5 – Kinh tế vĩ mô .
II/ Thực trạng nợ công tại Hi Lạp:
1)Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng:
Nguyên nhân đầu tiên và rõ nét nhất thường được các nhà lãnh đạo EU đề cập là
tác động của khủng hoảng tài chính năm 2008. Để cứu vãn nền kinh tế khỏi cơn suy
thoái, các chính phủ đã tung ra những gói hỗ trợ khổng lồ nhằm kích thích nền kinh tế
phát triển. Gói hỗ trợ này làm gia tăng chi ngân sách và nợ công một cách đáng kể.
Tuy nhiên, thực trạng này diễn ra tại hầu hết các nước trên thế giới, không chỉ có Hy
Lạp và EU. Do vậy, bên cạnh các tác nhân bên ngoài, Hy Lạp còn có những nguy cơ
tiềm ẩn - đó là các yếu tố nội sinh của khu vực đồng tiền chung.
Thứ nhất là không tuân thủ chặt chẽ các quy định trong liên minh tiền tệ
Thật vậy, theo Hiệp ước Maastricht, để tham gia vào khu vực đồng tiền chung,
các quốc gia thành viên phải đáp ứng nhiều chuẩn mực, trong đó có quy định mức bội
chi của ngân sách phải nhỏ hơn hoặc bằng 3% GDP, có xem xét trường hợp mức thâm
hụt đang trong xu hướng được cải thiện hoặc mức thâm hụt lớn hơn 3% nhưng mang
tính tạm thời, không đáng kể, không là mức bội chi cơ cấu; nợ chính phủ nhỏ hơn hoặc
bằng 60% GDP, có xem xét các trường hợp đang điều chỉnh.

Nợ công Hy Lạp.
5
Tiểu luận nhóm 5 – Kinh tế vĩ mô .
Theo quy định này, Hy Lạp chưa đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền chung
châu Âu vào tháng 5-1998. Nhưng hai năm sau, ngày 1-1-2001, mặc dù vẫn chưa đủ
tiêu chuẩn nhưng Hy Lạp vẫn được chấp thuận gia nhập vào khu vực đồng tiền chung
với điều kiện phải nỗ lực cải thiện mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ. Tuy
nhiên, đến nay, các ràng buộc trên vẫn chỉ là lời hứa của Hy Lạp. Bội chi ngân sách và
nợ nước ngoài không những không được cải thiện mà có xu hướng ngày càng tăng.
Hy lạp luôn đứng trong top 20 nước “dẫn đầu” thế giới về tỷ lệ nợ công so với
GDP.
Theo số liệu năm 2009, tỷ lệ nợ công của Hy Lạp so với GDP của nước này là
113.4% ( CIA Factbook )
Thứ hai là tác động tiêu cực của tiến trình hội nhập kinh tế khu vực:
Quá trình hình thành đồng tiền chung được chia thành ba giai đoạn nhằm giúp
các quốc gia điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hội nhập toàn diện và sâu rộng - hàng
hóa, vốn và sức lao động được tự do hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, hội nhập cũng có mặt
trái của nó. Đối với các quốc gia nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu thì đây thực sự là thách
thức.
Với một quốc gia có nguồn tài nguyên hạn hẹp, lợi thế thương mại thấp, năng lực
cạnh tranh thấp thì họ không thể xây dựng rào cản để bảo hộ nền sản xuất trong nước.
Hàng hóa thiếu cạnh tranh, sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, thu ngân sách
giảm, chi an sinh xã hội cao. Hy Lạp chính là minh chứng cho điều này. Nếu chưa sẵn
sàng, Hy Lạp không nên gia nhập vào liên minh EU.
Ngoài ra, theo quy định của EU, các quốc gia được phép giữ lại 25% thuế xuất
nhập khẩu hàng hóa vào EU để trang trải chi phí hoạt động và 75% còn lại được
chuyển vào ngân sách chung của EU. Điều này có nghĩa, các quốc gia có vị trí thuận
lợi về giao thông quốc tế: sân bay, bến cảng... sẽ nhận được một nguồn thu đặc biệt từ
thuế nhập khẩu vào EU mà các quốc gia nhỏ hơn, ở vị trí bất lợi hơn như Hy Lạp
không nhận được; thậm chí đó là khoản thuế đánh trên hàng hóa nhập khẩu đang tiêu
thụ tại nước mình. Nguồn thu ngân sách của các nước này bị suy giảm.
Bên cạnh đó, tại các nước kém phát triển hơn như Hy Lạp, để tránh làn sóng di
dân khi thực hiện tự do hóa lao động, chính phủ buộc phải gia tăng các khoản chi phúc

