intTypePromotion=1
ADSENSE

Tiểu luận môn Tài chính phát triển: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ nợ công và tăng trưởng kinh tế (Liên hệ ở Việt Nam)

Chia sẻ: Thach Suy Tha | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:25

114
lượt xem
16
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiều chuyển biến khó lường, điển hình là khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra từ cuối năm 2008, đầu năm 2009, khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang một số nước châu Âu, nợ công và quản lý nợ công trở thành vấn đề nóng được các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Trong quá khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập niên 80 của Thế kỷ XX. Năm 1982, Mê-hi-cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố không trả được nợ vay Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Đến tháng 10-1983, 27 quốc gia với tổng số nợ lên tới 240 tỉ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ (1). Tuy nhiên, đến nay xung quanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận môn Tài chính phát triển: Tóm lược lý thuyết về mối quan hệ nợ công và tăng trưởng kinh tế (Liên hệ ở Việt Nam)

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ  TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH PHÁT TRIỂN Nhóm … TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ  NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ  (LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM) Cần Thơ, tháng 12/2019
  2. MỤC LỤC  TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ                                                                                                  ..............................................................................................     1  MỤC LỤC                                                                                                                                       ...................................................................................................................................     2  ĐẶT VẤN ĐỀ                                                                                                                                 .............................................................................................................................     3  PHẦN NỘI DUNG                                                                                                                         .....................................................................................................................     4  1.TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ                       ...................     4  1.1.KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ CÔNG                         .....................     4  1.2.KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ        6 ...    2.NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH   TẾ                                                                                                                                                    ................................................................................................................................................     8  2.1.NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ      8 ..       2.2.NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH Tế          10 .....       Bảng 1: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam                                           .......................................       11  Bảng 2. Cac chi tiêu vê n ́ ̉ ̀ ợ công va n ̀ ợ nước ngoai cua quôc gia giai đo ̀ ̉ ́ ạn 2014 ­ 2018            12 .......      2.3.HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG NỢ CÔNG ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG   KINH TẾ                                                                                                                                       ...................................................................................................................................       17  NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN CHUNG                                                                                        ....................................................................................       24  TÀI LIỆU THAM KHẢO                                                                                                             .........................................................................................................       25 2
  3. ĐẶT VẤN ĐỀ Việc đi vay nợ để  thúc đẩy phát triển đối với một quốc gia cũng giống  như  một doanh nghiệp, đó chính là cách để  huy động vốn cho sự  phát triển  quen thuộc trên thế giới. Trong  kinh doanh, không ở đâu có thể phát triển mà  không đi vay mượn. Thực tế  cho thấy những nền   kinh tế  lớn nhất trên thế  giới như  Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, cũng chính là những con nợ  kếch xù.  Nợ công, dùng để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính phủ  nhằm các mục đích khác nhau, chiếm một phần trong những khoản vay đó.  Tuy nhiên, thực tế  các nước cho thấy, việc vay nợ  và chi tiêu lãng phí, sử  dụng kém hiệu quả đồng nợ của Chính phủ đã khiến cho nhiều nước rơi vào  tình trạng khủng hoảng nợ công mà các nước Châu Âu, điển hình là Hy Lạp   là ví dụ. Đây cũng là vấn đề  được các nước đặc biệt quan tâm, trong đó có   Việt Nam. Nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu về ngưỡng nợ mà tại đó tăng trưởng   kinh tế đạt tốc độ tối đa và khi vượt qua ngưỡng này thì tăng trưởng kinh tế  giảm sút rồi từ đó đưa ra những kiến nghị cho quốc gia đó về vấn đề quản lý   nợ công. Tuy nhiên, mỗi nước khác nhau có ngưỡng nợ công khác nhau.  Từ  những vấn đề  nêu trên, nhóm chọn đề  tài: “Mối quan hệ giữa nợ   công và tăng trưởng kinh  tế  của Việt Nam” làm đề  tài nghiên cứu của  nhóm. 3
  4. PHẦN NỘI DUNG 1. TÓM LƯỢC LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG  KINH TẾ 1.1. KHÁI QUÁT VỀ  NỢ  CÔNG VÀ NGUYÊN NHÂN GÂY RA NỢ  CÔNG 1.1.1. Khái quát về nợ công Trong bối cảnh nền kinh tế  thế  giới phát triển mạnh mẽ  và có nhiều   chuyển biến khó lường, điển hình là khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra từ  cuối năm 2008, đầu năm 2009, khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang  một số  nước châu Âu, nợ  công và quản lý nợ  công trở  thành vấn đề  nóng  được các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm. Trong quá  khứ, khủng hoảng nợ công cũng đã được biết đến vào đầu thập niên 80 của   Thế  kỷ  XX. Năm 1982, Mê­hi­cô là quốc gia đầu tiên tuyên bố  không trả  được nợ vay Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Đến tháng 10­1983, 27 quốc gia với   tổng số nợ lên tới 240 tỉ USD đã tuyên bố hoặc chuẩn bị tuyên bố hoãn trả nợ  (1). Tuy nhiên, đến nay xung quanh khái niệm và nội hàm của nợ  công vẫn  còn nhiều quan điểm chưa thống nhất.  Theo Ngân hàng Thế  giới (WB) và IMF, nợ  công, theo nghĩa rộng, là  nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trung  ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức   độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước (NSNN) quyết định hay  trên 50% vốn thuộc sở  hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ  nợ  nhà nước  phải trả  nợ  thay). Còn theo nghĩa hẹp, nợ  công bao gồm nghĩa vụ  nợ  của  chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức  độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh toán.  Ở  Việt Nam, Luật Quản lý nợ  công năm 2009 quy định, nợ  công bao  gồm: nợ  chính phủ, nợ   được Chính phủ  bảo lãnh và nợ  chính quyền địa  phương. Theo đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong   nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh   Chính phủ  hoặc các khoản vay khác do Bộ  Tài chính ký kết, phát hành,  ủy   quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ  chính phủ  không bao gồm  khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính   sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của  doanh nghiệp, tổ  chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được  Chính phủ bảo lãnh. Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân  dân tỉnh, thành phố  trực thuộc trung  ương ký kết, phát hành hoặc  ủy quyền  phát hành. Nợ  công xuất phát từ  nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của  chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, nhà nước phải đi vay (trong   4
  5. hoặc ngoài nước) để  trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ  phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ  phải thu thuế tăng lên để  bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế:   hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách   đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để  tài trợ  cho  các hoạt động chi ngân sách. Hay nói cách khác, việc nhà nước đi vay nợ  chẳng qua là một hình thức thu thuế trước. Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển   giao của cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế  hệ được giảm thuế). 1.1.2. Nguyên nhân gây ra nợ công  Việc vay nợ của chính phủ  nếu xét từ góc độ  vay để đầu tư  phát triển  thì nếu đầu tư  có hiệu quả  thì sẽ  tạo được khoản thu thuế  trong tương lai,   tạo điều kiện cho việc trả hết nợ. Nhưng nếu việc tiếp cận với nguồn vốn   đầu tư nước ngoài quá dễ dãi mà việc sử dụng nguồn vốn đầu tư không hiệu   quả sẽ dẫn đến chính phủ vay nợ để đầu tư quá nhiều lĩnh vực cùng một lúc  nhưng chậm và khó thu hồi vốn để  trả  nợ  vay. Để  giải quyết vấn đề  này,  chính phủ lại phải tiếp tục vay nợ mới để trả nợ cũ. Tình trạng này dẫn đến  nợ  công kéo dài. Và nếu như tốc độ  tăng trưởng kinh tế tụt giảm, chính phủ  sẽ không thể tăng thu thuế để bù đắp. Đều này sẽ dẫn đến gia tăng nợ công. Một ví dụ  điển hình cho nguyên nhân gây ra nợ  công từ  việc đầu tư  công không hiệu quả nói trên là tình trạng ở Việt Nam trong thời gian qua.  Ở  nước ta hiện có 194 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 46.600 ha, cùng   với 1.643 cụm công nghiệp với gần 73.000 ha do  Ủy ban nhân dân cấp tỉnh   phê duyệt quy hoạch đến năm 2020. Chính phủ  cũng đã phê duyệt 15 dự  án  khu kinh tế  ven biển với tổng diện tích 662 nghìn ha (2% diện tích tự  nhiên   của Việt Nam),  ước tính cần 2.000 tỷ  đôla (bằng toàn bộ  đầu tư  cả  nước  trong 50 năm nữa) để đầu tư. Năm 2011, cả nước thực hiện xiết chặt đầu tư  công theo tinh thần Nghị quyết 11/CP, nhưng vẫn có đến 333 dự  án mới sai   đối tượng, không thuộc danh mục sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ mà vẫn   được khởi công ... Nhìn tổng quát, tốc độ  tăng đầu tư  công trong mười năm  qua cao hơn tốc độ  tăng trưởng GDP. Khu vực DNNN (doanh nghiệp nhà   nước) được hưởng nhiều nguồn lợi nhất và chiếm tỷ trọng đầu tư xã hội cao  nhất lại có hiệu quả đầu tư  thấp nhất. Đầu tư  công cao và kém hiệu quả  trong bối cảnh tiết kiệm của Việt   Nam giảm là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến lạm phát tăng, lãi  suất thị trường tăng cao và nhất là làm nợ công tăng nhanh.  Nguyên nhân thứ hai có thể kể đến là việc vay nợ để chi thường xuyên  dẫn đến thâm hụt ngân sách mà không được bù đắp. Nguyên nhân này xuất  phát từ nhiều vấn đề  khác nhau như: tình trạng tham nhũng làm tăng chi tiêu  chính phủ, nhắm tới duy trì mức lương cao cho công chức, vấn đề trốn thuế  và hoạt động kinh tế  ngầm làm giảm nguồn thu ngân sách, việc tiết kiệm  5
  6. trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công.  Đối với cuộc khủng hoảng nợ  công  ở  châu Âu trong thời gian qua, có  nhiều nguyên nhân được các chuyên gia chỉ  rõ. Với từng quốc gia, đó là khả  năng quản trị  công yếu kém, chi tiêu thiếu hợp lý, hoặc mất kiểm soát các  hoạt động cho vay của hệ thống ngân hàng... Với cả khu vực, đó là thói quen   "chi nhiều hơn thu" kéo dài và hệ  thống phúc lợi xã hội ngày càng phình to.  Để đối phó cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, châu Âu dễ  dàng  vay mượn quá mức, không tương thích tốc độ  tăng trưởng kinh tế  và vì thế  đẩy tình trạng thâm hụt ngân sách và mức nợ công tăng chóng mặt, vượt khả  năng kiểm soát. 1.2. KHÁI NIỆM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TĂNG  TRƯỞNG KINH TẾ 1.2.1. Khái niệm tăng trưởng kinh tế  Có nhiều quan điểm về  tăng trưởng kinh tế (TTKT), nhưng về cơ bản  đều thống nhất khi cho rằng, TTKT được hiểu là sự  tăng lên về  số  lượng,  chất lượng, tốc độ  và quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ  nhất định. Có thể  khẳng định rằng: Tăng trưởng kinh tế  là sự  tăng lên về  sản  lượng hàng hóa, sự  mở  rộng về  quy mô sản xuất, sự  tăng lên của thu nhập   quốc dân (GDP) và sự  tăng lên của thu nhập quốc dân đầu người nhưng   không làm tổn hại đến tương lai. Để phản ánh mức độ  TTKT, các nhà kinh tế thường dùng nhóm chỉ  số  dưới đây: Tổng giá trị sản xuất (GO); Tổng sản phẩm quốc nội (GDP); Tổng   thu nhập quốc gia (GNI); Tổng sản phẩm quốc gia (GNP); Tổng sản ph ẩm   quốc dân ròng (NNP); Thu nhập quốc dân sử dụng (NDI); Thu nhập quốc gia   trên đầu người. GNP, GNI, GDP, NNP, NDI, GO và thu nhập quốc dân trên đầu người  là các thước đo trạng thái tăng trưởng kinh tế. Mỗi chỉ  tiêu đều có ý nghĩa   nhất định và được sử dụng tùy theo mục đích nghiên cứu. Nó là những số đo   mang tính chất tương đối các trạng thái và tốc độ biến đổi của TTKT. Trong   các chỉ tiêu nói trên thì tổng sản phẩm quốc nội GDP là phương thức tốt nhất  để đo lường hoạt động kinh tế của một quốc gia. 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế  Từ lý thuyết và thực nghiệm của các trường phái kinh tế khác nhau về  TTKT, có thể thấy ở các nền kinh tế khác nhau, các yếu tố  chính quyết định  đến TTKT đều bao gồm: vốn, lao động, khoa học và công nghệ, tài nguyên,...  Dựa vào tính chất và nội dung, các nhân tố  này có thể  được phân chia thành  các nhóm khác nhau. Các nhân tố tác động trực tiếp đến tổng cung: Những nhân tố tổng cung  6
  7. ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế  gồm: Vốn (K); Lao động (L); Khoa học  và công nghệ (T); Tài nguyên thiên nhiên (R). Các nhân tố tác động đến tổng cầu: Kinh tế học vĩ mô đã cho thấy có 4  nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu, bao gồm: Chi cho tiêu dùng cá nhân (C); Chi  tiêu của Chính phủ  (G); Chi cho đầu tư  (I); Chi qua hoạt động xuất nhập   khẩu (NX = X – M). 7
  8. 2. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ  MỐI QUAN HỆ  NỢ  CÔNG VÀ TĂNG  TRƯỞNG KINH TẾ 2.1. NỢ  CÔNG TRÊN THẾ  GIỚI VÀ MỐI QUAN HỆ  VỚI TĂNG  TRƯỞNG KINH TẾ Chúng ta có thể  thấy mối quan hệ  giữa nợ  công và tăng trưởng rõ nét   nhất khi nghiên cứu về cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước phát triển, đển   hình là Liên minh châu Âu và Mỹ.  Khủng hoảng nợ  công gia tăng  ở  Liên minh châu Âu (EU) cùng sự  sụt   giảm nhanh chóng của đồng USD kéo nền kinh tế thế giới đi xuống. Chính vì  lẽ đó, các Bộ trưởng Tài chính toàn cầu trong cuộc họp thuộc khuôn khổ Hội   nghị  thường niên IMF và WB sáng 13/10/2012 tại thủ  đô Tokyo (Nhật Bản)   đã hối thúc các quốc gia thành viên sớm hoàn tất chính sách quản lý tài chính   mới, giảm triệt để nợ công để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước và thế  giới. Trong một thông cáo được đưa ra ngày 13/10/2012, Ủy ban tài chính và  tiền tệ quốc tế (IMFC) thuộc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã kêu gọi các nước   phải nhanh chóng hành động và hành động một cách có hiệu quả  nhằm bảo  toàn sự phát triển của nền kinh tế hiện tại, xây dựng lại lòng tin và cuối cùng  là thúc đẩy kinh tế phát triển hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với tuyên bố  trước đó của Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde rằng, nợ  công của các  nước phát triển đã lên đến mức 110% GDP năm 2012 và lên đến 113% GDP  trong năm 2013. Hai năm qua, sự tiến triển chậm chạp trong việc giải quyết vấn đề nợ  công  ở  châu Âu đã gây tổn thất 2.800 tỷ  euro tài sản. Và nếu các nhà hoạch   định chính sách châu Âu không thực hiện cam kết về  thiết lập một cơ quan   giám sát ngân hàng và các nước ngoại vi không triển khai các chương trình  điều chỉnh, con số  thậm chí có thể  lớn hơn, với 4.500 tỷ euro tài sản bị  mất  và kèm theo là những  ảnh hưởng đối với thị trường việc làm và đầu tư. Ông  Lael Brainard – Thứ  trưởng Bộ  Tài chính Mỹ  đã nói trong một bài trả  lời   phỏng vấn hôm 12/10/2011 rằng cuộc khủng hoảng nợ  của khu vực  đồng  tiền chung châu Âu “là hiện thân cho những sự rủi ro nghiêm trọng đối với sự  phục hồi của toàn cầu hiện nay”.  Theo nhận định của các nhà phân tích cuộc khủng hoảng nợ công   ở các  nước eurozone cùng với các kế hoạch cắt giảm chi tiêu, cứu trợ kinh tế tiếp   tục là mối đe dọa nghiêm trọng đến tăng trưởng kinh tế  của eurozone. Việc  cứu trợ  Hy Lạp có thể  sẽ  phải kéo dài, thậm chí có thể  phải cơ  cấu lại nợ.  Kế hoạch cứu trợ kinh tế của các nước tiếp theo như  Bồ  Đào Nha, Tây Ban  Nha… sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế của khu vực Euro.  8
  9. Vì thế, Châu Âu đã rơi vào cuộc suy thoái kinh tế vào năm 2011 và tình  trạng trì trệ vào những năm tiếp theo. Do đó, tăng trưởng kinh tế của khu vực  này chậm hơn các nền kinh tế lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và các nền kinh  tế phát triển khác. Điều đáng lo ngại, như  Tổng Giám đốc IMF từng cảnh báo, là những  vấn đề của khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) có thể lan tới các thị  trường mới nổi, nơi tăng trưởng kinh tế  đang chậm lại. Trong khi đó, các   nước ở Trung và Đông Âu trong tình trạng dễ bị tổn thương nhất trước các cú   sốc tài chính, do gắn nhiều với Eurozone và các món nợ nước ngoài. Vào thời điểm đó, kinh tế  Mỹ  vẫn trầy trật trên con đường phục hồi,  với mức tăng trưởng chỉ   đạt 1,3% trong quý 2/2012. Dù tại Hội nghị  Bộ  trưởng   Tài   chính   G7   ngày   11/10/2012,   Bộ   trưởng   Tài   chính   Mỹ   Timothy  Geithner đã cam kết rằng chính phủ  nước này sẽ dốc sức giúp Quốc hội đạt   được một thỏa thuận nhằm tránh để khả năng xấu nhất xảy ra. Theo báo cáo   sơ  bộ  của Phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ  (CBO) ngày 5/10/2012 cho biết,  thâm hụt ngân sách liên bang Mỹ trong tài khóa 2012 đã giảm trong năm thứ tư  liên tiếp, mặc dù vẫn ở cao hơn mức 1.000 tỷ USD.  Ngày 12/10/2012, Tổng Giám đốc IMF Christine Lagarde một lần nữa   nhắc lại lời kêu gọi Mỹ hợp tác để  thực hiện ngay gói cải cách quản lý quỹ  này. Bà Christine Lagarde cho rằng kế hoạch cải cách 2010 cho thấy “sự thay   đổi   quản   lý   lớn   nhất”   trong   lịch   sử   IMF,   với   6%   quyền   bỏ   phiếu   được  chuyển sang các nền kinh tế mới nổi và các nước đang phát triển. Đây là điều   hoàn toàn phù hợp bởi trong thời gian vừa qua, các nền kinh tế mới nổi và các  9
  10. nước đang phát triển đã thể  hiện được sức mạnh và sự   ưu việt của mình  trong cách đối phó với khủng hoảng nợ công và suy thoái kinh tế thế giới. 2.2. NỢ   CÔNG   Ở   VIỆT   NAM   VÀ   MỐI   QUAN   HỆ   VỚI   TĂNG   TRƯỞNG KINH Tế Việt Nam thực hiện chính sách mở  cửa kinh tế  và đạt được những  bước phát triển vượt bậc. Chỉ trong vòng 10 năm, GDP của Việt Nam đã tăng  lên gấp 3 lần, từ 32,7 tỷ USD năm 2001 lên 102 tỷ USD nam 2010. Trong giai   đoạn này, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy mô nền   kinh tế  của Việt Nam vẫn là nhỏ  so với mặt bằng chung của thế  giới; nền   kinh tế  phụ  thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công  nghiệp nhẹ  là chủ  yếu. Do đó, việc tăng vay nợ  chính phủ  nói riêng và nợ  công nói chung là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam cần sự hỗ trợ về mặt tài   chính (tức là vay nợ  và viện trợ  phát triển chính thức) từ  các tổ  chức đơn  phương, đa phương trên thế giới để phát triển nền kinh tế. 2.2.1. Quy mô nợ công  Theo  The  Economist  Intelligence Unit,  nợ  công  của Việt Nam  năm  2001 mới  là 11,5 tỷ USD, tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh  số  nợ  công xấp xỉ 144 USD. Nhưng tính đến hết năm 2010, nợ  công đã tăng  lên 55,2 tỷ  USD, tương đương 54,3% GDP và hiện tại, Việt Nam được xếp  vào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình. Như vậy, trong vòng 10 năm   từ 2001 đến năm 2010, quy mô nợ công đã tăng gấp gần 5 lần với tốc độ tăng   trưởng nợ trên 15% mỗi năm (Biểu đồ 1).   10
  11. Theo số  liệu chính thức của Bộ  Tài chính Việt Nam, tỷ  lệ  nợ  công  ở  Việt Nam đã ở mức trên 50% GDP kể từ năm 2010 (bảng 1), mặc dù đã giảm   trong giai đoạn 2011­2012  ở  mức 50,8%. Tuy nhiên, nó đã bắt đầu tăng từ  54,5% năm 2013 lên 58,0% năm 2014 và 62,2% năm 2015; hiện chiếm 65% và  có dấu hiệu tiếp tục vượt quá 65% ngưỡng GDP theo quy định của Quốc hội  Việt Nam. Cần lưu ý rằng, vì cách tính nợ  công của Việt Nam không được đồng  bộ  hóa với các tiêu chuẩn thế  giới, nên có sự  khác biệt đáng kể  giữa các số  liệu do Chính phủ công bố và cách tính của các tổ chức độc lập. Theo báo cáo   của Chính phủ, nguyên nhân của nợ công tăng trong những năm gần đây là do   thu ngân sách khó khăn trong khi nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng; để đảm bảo   cân đối ngân sách nhà nước, thì phải duy trì thâm hụt ngân sách ở mức cao, cụ  thể: 2011: 4,4% GDP; 2012: 5,4% GDP; 2013: 6,6% GDP; 2014: 5,3% GDP;   2015: 5% GDP. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến 2015 nợ công đã tăng khoảng 7%   GDP do yêu cầu tăng vay để đầu tư vào cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội. Bảng 1: Các chỉ tiêu về nợ công và nợ nước ngoài của Việt Nam 2010 2011 2012 2013 2014 Tỷ lệ nợ công trên tổng sản phẩm  56,3 54,9 50,8 54,5 58,0 quốc nội (GDP) (%) Tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP của  42,2 41,5 37,4 37,3 38,3 quốc gia (%) Nghĩa vụ  trả  nợ  nước ngoài quốc  gia trong trung và dài hạn trên tổng  3,4 3,5 3,5 4,3 4,1 11
  12. kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và  dịch vụ (%) Số   dư   nợ   của   chính   phủ   so   với  44,6 43,2 39,4 42,6 46,4 GDP (%) Số  dư  của chính phủ  đối với các  157,9 162,0 172,0 184,4 211,5 khoản thu của ngân sách nhà nước  (%) Nghĩa   vụ   nợ   của   chính   phủ   đối  17,6 15,6 14,6 12,6 13,8 với  các   khoản  thu  của   ngân sách  nhà nước (%) Nợ   dự   phòng   cho   các   khoản   thu  5,5 6,7 9,8 9,7 8,5 (%) Giới hạn cho vay ngoại thương và  2.000 3.500 3.500 1.800 2.800 bảo lãnh cho các khoản vay nước  ngoài của Chính phủ (triệu USD) Nguồn: Bộ tài chính Việt Nam Theo dự báo của IMF, Việt Nam là quốc gia duy nhất có nợ công/GDP   tiếp tục tăng gần 68% vào năm 2020 và cao hơn nhiều so với các quốc gia   khác trong khu vực ASEAN. Đáng chú ý, tỷ  lệ  này có xu hướng giảm hoặc  khá  ổn định  ở  các nước khác từ  năm 2006, trong khi  ở  Việt Nam nó đã tăng  mạnh, đặc biệt là trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay. Mặc dù tỷ lệ nợ công  của Việt Nam vẫn dưới ngưỡng 90% theo tính toán của Reinhart C.M. et al  (2012), ngưỡng này được tính cho các quốc gia có thị  trường tài chính phát   triển cao; Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, tỷ lệ tối ưu có thể  ở mức thấp hơn nhiều.  Bảng 2. Cac chi tiêu vê n ́ ̉ ̀ ợ công va n ̀ ợ nước ngoai cua quôc gia giai đo ̀ ̉ ́ ạn  2014 ­ 2018 Chỉ tiêu 2014 2015 2016 2017 2018 Nợ công so vơi GDP (%) ́ 58 61 63,7 61,4 61,0* Nợ nươć  ngoaì cuả  quôć  gia so vơí  38,3 42 44,8 48,9 49,7* GDP(%) Nghiã   vụ  trả  nợ  nươć   ngoaì  trung,  4,1 4,0 3,9 6,1 daì haṇ  cuả  quôć  gia so vơí tông̉  kim  ngacḥ  xuât́ khâủ  hang ̣  vụ  ̀  hoá  và  dich (%) 12
  13. Dư nợ Chinh phu so v ́ ̉ ơi GDP (%) ́ 46,4 49,2 52,7 51,7 52,1 Dư nợ Chinh phu  ́ ̉ so vơi  ́ thu ngân  211,5 206,8 215,0 201,0 sach  ́ (%) Nghiã  vụ trả nợ cuả  Chinh ́  phủ so vơí  13,8 14,9 20,5 18,3 thu NSNN(%) Nghiã  vụ nợ dự phòng so với thu ngân  8,5 11,8 8,1 7,5 sach ́  (%) Haṇ  mức vay thương maị  nươć  ngoaì  2.800 2.500 1.500 700 và baỏ  lãnh vay nươć  ngoaì cuả  Chinh ́   phủ (triệu USD) ̀ ản tin Nợ công ­ Bộ Tài chính Nguôn: B Trong thời gian qua, Việt Nam tiếp tục tái cơ  cấu nợ  công theo hướng   bền vững, hiệu quả  theo hướng tích cực về  cơ  cấu, kỳ  hạn, lãi suất, đảm   bảo khả năng trả  nợ. Tốc độ  tăng trưởng nợ  công so với GDP là 12,2%/năm   cho giai đoạn từ  2014 ­ 2015. Đây là một vấn đề  đáng lo ngại vì  Việt Nam  nằm trong những quốc gia có tỷ  lệ  nợ  trên GDP tăng nhanh nhất (tăng trên  10%/năm) cho dù có thành tích tăng trưởng kinh tế   ấn tượng. Đến cuối năm   2015, tổng nợ  công của  Việt  Nam là 125 tỷ  USD, tương đương 61%  GDP,  bình quân mỗi người dân gánh số  nợ  công là 1.384 USD, tương đương  30  triệu,  ngang  với  Trung  Quốc,  Philippines  và  Malaysia.  Tuy  nhiên,  trong  giai  đoạn 2016 ­ 2018, tốc độ tăng của nợ công của Việt Nam đã giảm xuống bình  quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018 chỉ còn ở mức 6%. Theo báo cáo của Bộ  Tài chính, nếu như  trong giai đoạn 2014 ­ 2015,  tốc độ tăng của nợ công của Việt Nam ở mức bình quân là 18,1%/năm thì giai  đoạn 2016 ­ 2018 đã kéo xuống bình quân còn 8,6%/năm, riêng năm 2018 chỉ  còn  ở  mức 6%. Trong  khi  đó, về  trần  nợ  công, tỷ  lệ  nợ  công  giảm  từ  mức  cuối  năm  2016  là  63,7% GDP xuống còn 61,4% GDP cuối năm 2017. Đến  cuối 2018, dư nợ công của năm 2018 ở mức dưới 61% GDP. 2.2.2. Cơ cấu nợ công  Theo Luật quản lý nợ công thì nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ  được Chính phủ  bảo  lãnh và vay nợ  của chính quyền địa phương. Trong cơ  cấu nợ  công thì nợ  Chính phủ  chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ  được  Chính phủ  bảo  lãnh (Hình 3). Quy mô nợ  của chính quyền địa phương nhìn   chung chiếm tỷ trọng còn khá thấp (1% GDP).  13
  14. Hình 3. Cơ cấu dư nợ công năm 2017 (%) (Nguồn: Bộ Tài chính) Như  vậy,  so  với  nhiều  nước  đang  phát  triển  thì  tỷ  lệ  nợ   công   và  nợ Chính phủ của Việt Nam cũng thuộc nhóm tương đối cao (Hình 4). Các  hệ số an  toàn về nợ công của Việt Nam tuy vẫn còn trong giới hạn nhưng đã  tiệm cận ở mức cao, đó còn chưa tính đến yếu tố hiệu quả của việc sử dụng  nguồn vốn vay cũng đang là một vấn đề  đặt ra hiện nay. Ngoài ra, khi Việt  Nam không còn là nước thu nhập thấp thì điều kiện vay nợ  nước ngoài sẽ  khó khăn hơn với chi phí  cao hơn. Quy mô của các khoản vay  ưu đãi giảm  dần.  14
  15. Hình 4. Mức nợ công/GDP của Việt Nam so với một số nước trong khu   vực (% GDP danh nghĩa) Dư nợ  công  thời gian qua  tăng  lên  chủ yếu  là do  tăng  các khoản vay  trực  tiếp  trong  nước  và  ngoài  nước  của  Chính  phủ  để  bù  đắp  cho  bội  chi NSNN và gia tăng nghĩa vụ nợ được Chính phủ  bảo lãnh cho một số  tập  đoàn, tổng công ty nhà nước. Nợ Chính phủ Về nợ  Chính phủ, trong cơ cấu nợ công, nợ  Chính phủ  chiếm tỷ  trọng  lớn và có xu hướng mở  rộng đáng kể  trong thời gian qua. Năm 2018, dự  nợ  Chính phủ bằng khoảng 52,1% GDP, tăng so với con số 46,4% của năm 2010.   Các  khoản  nợ   Chính  phủ   chủ   yếu  là  vay  ODA  và  vay   ưu  đãi,  các   khoản phát  hành  trái phiếu Chính phủ  trong nước (theo Bảng 1 và 2).  Hiện   nay,   khi   thu   nhập   bình   quân   đầu   người   của   Việt   Nam   vượt   ngưỡng nước có thu nhập thấp thì các điều kiện vay ODA sẽ ngày càng kém  ưu đãi hơn. Theo đó, chi phí trả  lãi vay hàng năm dự  báo sẽ  tăng lên. Đây là  một thách thức, đòi hỏi việc quản lý sử dụng vốn vay phải hiệu quả hơn.   Quy mô chi NSNN tăng khá cao (năm 2016 tăng trên 70% so với năm  2010) nhưng cũng chỉ  mới đáp  ứng nhu cầu chi tối thiểu của nhiều ngành,   lĩnh vực. Cân đối NSNN ngày càng khó khăn hơn do nợ  công sắp đến giới   hạn cho phép; nhu cầu chi đầu tư phát triển (ĐTPT) vẫn còn rất lớn. Chi tiêu của Chính phủ so với GDP vẫn duy trì ở  mức cao. Cơ  cấu chi  thay đổi theo hướng chi thường xuyên chiếm tỷ trọng ngày càng lớn. Tổng chi  NSNN ­ bao gồm cả  chi từ  nguồn trái phiếu ­ bình quân chiếm 29,2% GDP   trong giai đoạn 2011­2015, so với 28,9% trong giai đoạn trước và  ở  mức cao  so với khu vực và các quốc gia có mức phát triển tương đương. Tỷ lệ so sánh  giữa chi thường xuyên và đầu tư là khoảng 70:30 trong thời kỳ 2011­2015 so   với 63:37 của thời kỳ 2006­2010. Chi thường xuyên tăng lên và cao hơn mức  tăng thu chủ yếu là do tăng chi để thực hiện các chính sách mới về an sinh xã   hội, chi lương và phụ cấp và chi trả lãi các khoản vay. Chi đầu tư từ NSNN,  mặc dù giảm tỷ trọng trong tổng chi tiêu của Chính phủ, nhưng vẫn duy trì ở  mức cao so với khu vực và thế giới. Nếu so với tổng đầu tư  toàn xã hội, chi  đầu tư  từ  NSNN chiếm 29,1% trong giai đoạn 2011­2015, tăng nhẹ  so với  mức 28,4% của thời kỳ  2006­2010, cho thấy đầu tư  của Nhà nước vào hạ  tầng công cộng vẫn tiếp tục được duy trì trong thời gian qua, chủ yếu do cơ  sở hạ tầng của Việt Nam hiện đang còn ở mức thấp, chưa phát triển. Cân đối cán cân thương mại luôn trong tình trạng nhập siêu và ít có dấu   hiệu cải thiện. Trong mười năm 2001­2010, tổng giá trị  hàng hóa nhập siêu   gần 81,7 tỷ  USD, bằng 20,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu. Trị  giá  nhập siêu hàng hóa năm 2010  ước tính gần 12,4 tỷ  USD, gấp trên 10,7 lần  15
  16. mức nhập siêu hàng hóa năm 2000. Tính ra, trong những năm 2001­2010, tốc  độ  tăng nhập siêu bình quân mỗi năm gần 26,8%. Do bội chi ngân sách kéo  dài, nợ công tiếp tục tăng lên trong năm 2016, tiến sát đến hạn mức quy định   là 65% GDP. Bội chi NSNN thực hiện năm 2017  ước khoảng 174,3 nghìn tỷ  đồng, bằng 3,48% GDP, thấp hơn dự  toán là 3,5% GDP. Bội chi ngân sách  bình quân trong giai đoạn 2011 ­ 2016 là 5,8% so với 2,2% GDP giai đoạn  2006 ­ 2010. Dữ  liệu cho thấy ngân sách vẫn gặp áp lực năm 2016 với mức   bội chi ước bằng khoảng 6,5% GDP.  Bất cân đối ngân sách tăng lên chủ yếu do suy giảm cơ cấu về tỷ lệ thu   ngân sách trên GDP, giảm từ  27% GDP năm 2011 xuống khoảng 23% GDP   năm 2016. Trong khi đó, tỷ lệ chi ngân sách trên GDP được duy trì tương đối  ổn định, bình quân bằng khoảng 29% GDP trong 05 năm qua. Theo các báo  cáo của Chính phủ, tổng nợ công của Việt Nam (gồm nợ Chính phủ, nợ được   khu vực công bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã lên đến 63,7%  GDP trong năm 2016 ­ cao hơn khoảng 15 điểm phần trăm so với 2010. Cụ  thể, thu chi ngân sách được thể hiện trong hình 5.  Hình 5. Thu chi ngân sách Việt Nam giai đoạn 2000 ­ 2018   Nợ Chính phủ bảo lãnh Nợ  được Chính phủ  bảo lãnh là các khoản vay được Chính phủ  bảo  lãnh cho một số tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trong việc thực hiện một số  dự   án đầu tư  (đầu tư  công), trong các lĩnh vực như  dầu khí, điện, xi măng,  hàng không, viễn thông.... Nguồn vốn này chiếm một tỷ  trọng khá lớn trong  tổng vốn đầu  tư của các DNNN thời gian qua. Trong cơ cấu nợ được Chính  phủ  bảo lãnh có xu hướng tăng lên và hiện chiếm khoảng 5% tổng dư  nợ  công năm 2017 (theo hình 3).  Nợ Chính quyền địa phương Đối  với  nợ  của  Chính  quyền  địa  phương:  nợ   của  chính  quyền   16
  17. địa phương chủ yếu là vay nợ  cho đầu tư  xây dựng cơ  bản. Mức dư  nợ  của   chính quyền địa phương hiện nằm trong giới hạn quy định của Luật NSNN   không quá 30% tổng chi đầu tư  xây dựng cơ  bản trong nước của các   địa  phương. Nhìn  chung, so với nhiều nước thì việc vay nợ của chính quyền địa   phương  ở Việt Nam là khá thấp và hiện chiếm khoảng 1% tổng dư nợ công  năm 2017 (theo hình 3). 2.3. HIỆU QUẢ  CỦA VIỆC SỬ  DỤNG NỢ CÔNG  ẢNH HƯỞNG  ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 2.3.1. Về tính trung lập của nợ chính phủ Có hai quan điểm chính về việc nợ chính phủ có tác động đến nền kinh  tế hay không. Quan điểm truyền thống cho rằng biện pháp cắt giảm thuế  được bù   đắp bằng nợ chính phủ kích thích tiêu dùng và làm giảm tiết kiệm quốc dân.  Sự gia tăng tiêu dùng làm tăng tổng cầu và thu nhập quốc dân trong ngắn hạn  nhưng dẫn đến khối lượng tư bản ít hơn (do đầu tư giảm) và thu nhập quốc  dân thấp hơn trong dài hạn. Quan điểm Barro­Ricardo lại cho rằng biện pháp cắt giảm thuế  được  bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêu ngay cả trong ngắn hạn vì  không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà nó chỉ  làm dịch  chuyển thuế  từ  hiện tại sang tương lai. Các cá nhân dự  tính rằng, hiện giờ  chính phủ  giảm thuế  và phát hành trái phiếu bù đắp thâm hụt, thì đến một  thời điểm trong tương lai chính phủ sẽ lại tăng thuế để có tiền trả nợ hoặc in  tiền để  trả  nợ  (mà hậu quả  là lạm phát tăng tốc); do đó, người ta tiết kiệm  hiện tại để  có tiền đóng thuế trong tương lai hoặc mua hàng hóa và dịch vụ  sẽ lên giá. Hai quan điểm nói trên tuy khác nhau nhưng cùng xuất phát từ  hành vi   của người tiêu dùng và do vậy khi áp dụng cần nghiên cứu hành vi của người   tiêu dùng. 2.3.2. Về hiệu suất của tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng  kinh tế Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong   dài hạn một khoản nợ chính phủ  lớn (tỷ  lệ  của nó so với GDP cao) làm cho  sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau: Nếu một quốc gia có nợ nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải tăng   cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút. Một khoản nợ công cộng lớn gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân:  thay vì sở  hữu cổ  phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở  hữu nợ  chính phủ  (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về  vốn cạn kiệt vì tiết kiệm  của dân cư đã chuyển thành nợ chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và các doanh  17
  18. nghiệp hạn chế đầu tư. Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh tế  là một tổng thể thì chính chủ  chỉ nợ  công dân của chính nước mình, tuy vậy   nếu nợ  trong nước lớn thì chính phủ  buộc phải tăng thuế  để  trả  lãi nợ  vay.   Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội. Ngoài ra, còn có một số  quan điểm cho rằng việc chính phủ  sử  dụng   công cụ  nợ  để  điều tiết kinh tế  vĩ mô sẽ  không có hiệu suất cao vì có hiện   tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên). Chính phủ  muốn tăng chi tiêu công cộng để  kích cầu thì phát hành trái  phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ  thì giá trái phiếu chính  phủ  giảm, thể  hiện qua việc chính phủ  phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới   huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền   kinh tế  cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ  đầu tư  của khu  vực tư  nhân, khiến họ  giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ  tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi   suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền   từ  nước ngoài đổ  vào trong nước khiến cho tỷ  giá hối đoái tăng làm giảm  xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song   mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu. Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ tài  sản thì khi chính phủ tăng phát hành trái phiếu sẽ đồng thời phải tăng lãi suất,   người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều hơn.  Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ  việc tăng chi tiêu chính phủ  (nhờ  phát hành công trái) và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng dẫn  tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động tiêu   cực tới tốc độ tăng trưởng thực (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ  lạm phát). Như  đã trình bày, nợ  công  ở  Việt Nam đang tăng nhanh trong khi thâm  hụt ngân sách đã trở  thành căn bệnh kinh niên, đầu tư  không ngừng mở  rộng  kéo theo lạm phát và lãi suất tăng cao khiến cho việc tài trợ  nợ  công ngày   càng trở nên đắt đỏ.  Hiệu quả sử dụng các khoản vay là một vấn đề rất quan trọng vì từ đó   mới bảo đảm được dòng tiền trả nợ trong tương lai. Hiện nay, Việt Nam mới   chú trọng đến khía cạnh giải ngân cho các khoản vay, bán cho được trái  phiếu, thu tiền về  đã được xem là thành công. Còn theo nhiều đánh giá, các  khoản đầu tư  của Nhà nước vẫn bị  coi là dàn trải, chậm tiến độ, thất thoát,  lãng phí lớn vốn nhà nước nhưng hiệu quả  đầu tư  thu được thấp và những  “căn bệnh” kinh niên của các dự  án đầu tư  công không hề  giảm mà vẫn có  chiều hướng tăng nhanh. Một trong những lý do trên là do công tác buông lỏng  quản lý và giám sát đầu tư. Việc chấp hành chế  độ  báo cáo của các bộ,   18
  19. ngành, địa phương và các chủ đầu tư chưa thực sự nghiêm túc, có hiện tượng  buông lỏng trong thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư. Số  tiền thất   thoát từ  nợ  công sẽ  lan tỏa vào xã hội dưới dạng đầu tư  chứng khoán, bất   động sản, mua sắm, du lịch… Sự “năng động” của thị trường do những đồng  vốn vay chưa trả thất thoát này tạo ra đang làm mờ đi sự phát triển thực sự từ  vốn tự có, từ nội lực kinh tế. Mức tiêu dùng mạnh mẽ tại các thành phố  lớn  ngày càng hấp dẫn và tạo ra động lực mạnh mẽ  thúc đẩy không chỉ  Chính  phủ, mà các tỉnh, các doanh nghiệp quốc doanh liên tục vay nợ, tạo dựng các  dự án, đề án dù chưa biết lỗ lãi ra sao. Có thể đó cũng là một trong các nguyên   nhân làm cho tốc độ nợ công tăng lên nhanh chóng trong thời gian gần đây. Từ  năm 2003, Việt Nam đã hết thời gian ân hạn 10 năm, bắt đầu phải   trả  cả gốc lẫn lãi. Lãi suất trung bình nợ  nước ngoài của Chính phủ  đã tăng   từ  1,54%/năm vào năm 2006 lên 1,9% trong năm 2009 và năm 2010 đạt tới   2,1%/năm. Bên cạnh đó, từ  năm 2010, Việt Nam đã bước ra khỏi danh sách  các nước nghèo kém phát triển và trở thành nước có mức thu nhập trung bình   thấp, điều đó cũng có nghĩa là các khoản vay hiện nay của Chính phủ  sẽ  tương đương với các khoản vay thương mại mà gần như  không có thêm ưu  đãi. Do đó, bên cạnh việc trả nợ thì Việt Nam sẽ phải thận trọng và tính toán   kỹ càng cho các khoản vay mới và ngay khi vay đã phải chuẩn bị trả nợ đúng  hạn. Nợ, thâm hụt ngân sách, lạm phát và dự  trữ  ngoại tệ  luôn có mối liên  hệ mật thiết với nhau. Các tỷ lệ nợ nước ngoài của nền kinh tế trên GDP và  tỷ lệ nợ phải trả trên xuất khẩu thường được dùng để phân tích khả năng trả  nợ của một nền kinh tế. Khi phân tích nợ và khả năng chi trả của Chính phủ   ảnh hưởng thế nào tới chính sách vĩ mô (tài khóa và tiền tệ) thì phải tính đến  cả nợ nước ngoài lẫn nợ trong nước. Năm 2016, nợ  công đến hạn của Việt Nam là 280.000 tỷ  đồng, nhưng  chỉ trả được 150.000 tỷ  đồng và phải vay thêm 130.000 tỷ  đồng, xấp xỉ  6 tỷ  đô la Mỹ. Như  vậy, khả  năng trả  nợ  ngày càng gặp nhiều thách thức. Nợ   ở  Việt Nam hiện nay chưa tính đủ  vì còn thiếu nợ  của khu vực kinh tế  nhà  nước mà Chính phủ  phải chịu trách nhiệm trả  nợ  (phần nợ  này không được   hiển thị hoặc không thấy trong số liệu thống kê). Ngay trong số liệu dự toán   ngân sách thì phần trái phiếu chính phủ vẫn được để ngoài cân đối ngân sách.  Việc quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia cũng gần như  bị  lọt   lưới vì sự  chia cắt trong quản lý. Đó là sự  thiếu minh bạch trong quản lý,   thậm chí che giấu những sai sót do sự  yếu kém trong quản lý. Việc quản lý   nợ  công được chia cho nhiều cơ quan nhà nước thực hiện, cấp bảo lãnh cho  doanh nghiệp vay nợ  cũng phân cho nhiều cơ  quan, số  liệu thực tế  vì vậy   không được cập nhật, thiếu nhất quán dẫn tới tình trạng thiếu minh bạch. 19
  20. 2.3.3. Một khoản nợ  chính phủ  lớn làm cho sự  tăng trưởng của   sản lượng tiềm năng chậm lại Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong   dài hạn một khoản nợ chính phủ lớn và tỷ lệ của nó so với GDP cao, làm cho  sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau: ­ Nếu một quốc gia có nợ  nước ngoài lớn thì quốc gia đó buộc phải   tăng cường xuất khẩu để  trả  nợ  nước ngoài và do đó khả  năng tiêu dùng  giảm sút. ­ Một khoản nợ  công cộng lớn gây ra hiệu  ứng thế  chỗ  cho vốn tư  nhân: thay vì sở  hữu cổ  phiếu, trái phiếu công ty, dân chúng sở  hữu giấy nợ  chính phủ  (trái phiếu chính phủ). Điều này làm cho cung về  vốn cạn kiệt vì   tiết kiệm của dân cư đã chuyển thành nợ  chính phủ dẫn đến lãi suất tăng và  các doanh nghiệp hạn chế đầu tư. ­ Nợ trong nước tuy được coi là ít tác động hơn vì trên góc độ nền kinh  tế  là một tổng thể  thì chính chủ  chỉ  nợ  công dân của chính nước mình, tuy  vậy nếu nợ  trong nước lớn thì chính phủ  buộc phải tăng thuế  để  trả  lãi nợ  vay. Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội. Ngoài ra, còn có một số  quan điểm cho rằng việc chính phủ  sử  dụng   công cụ  nợ  để  điều tiết kinh tế  vĩ mô sẽ  không có hiệu suất cao vì có hiện   tượng crowding out, đó là đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên. ­ Chính phủ muốn tăng chi tiêu công cộng để kích cầu thì phát hành trái   phiếu chính phủ. Phát hành thêm trái phiếu chính phủ  thì giá trái phiếu chính  phủ  giảm, thể  hiện qua việc chính phủ  phải nâng lãi suất trái phiếu thì mới   huy động được người mua. Lãi suất trái phiếu tăng thì lãi suất chung của nền   kinh tế  cũng tăng. Điều này tác động tiêu cực đến động cơ  đầu tư  của khu  vực tư  nhân, khiến họ  giảm đầu tư. Nó còn tác động tích cực đến động cơ  tiết kiệm của người tiêu dùng, dẫn tới giảm tiêu dùng. Nó còn làm cho lãi   suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền   từ  nước ngoài đổ  vào trong nước khiến cho tỷ  giá hối đoái tăng làm giảm  xuất khẩu ròng. Tóm lại, phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song   mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu. ­ Nếu coi việc nắm giữ trái phiếu chính phủ là một hình thức nắm giữ  tài sản thì khi chính phủ  tăng phát hành trái phiếu sẽ  đồng thời phải tăng lãi   suất, người nắm giữ tài sản thấy mình trở nên giàu có hơn và tiêu dùng nhiều  hơn. Tổng cầu nhận được tác động tích cực từ  việc tăng chi tiêu chính phủ  nhờ  phát hành công trái và tăng tiêu dùng nói trên. Tuy nhiên, tăng tiêu dùng   dẫn tới tăng lượng cầu tiền. Điều này gây ra áp lực lạm phát, vì thế tác động   tiêu cực tới tốc độ  tăng trưởng thực tế (bằng tốc độ  tăng trưởng danh nghĩa   trừ tỷ lệ lạm phát). Hôm nay chúng ta đang sống trong tâm  bão lạm phát, bạn  cảm thấy điều này hơn ai hết. 20
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2