intTypePromotion=3

TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP " Cổ phiếu

Chia sẻ: Tran Libra | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:105

0
270
lượt xem
93
download

TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP " Cổ phiếu

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

- Thị trường chứng khoán xuất phát từ các cuộc thương lượng của các thương gia ở các nước phương Tây về: nông lâm sản, khoán sản, ngoại hối, các giấy tờ có giá,… - 1453, phiên “chợ” đầu tiên tổ chức với quy mô lớn đã diễn ra tại lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ). - 1547, giao dịch chứng khoán được chuyển tới thị trấn Anvers (Bỉ). - Từ thế kỷ 16-19, TTCK hình thành và phát triển ở Anh, Pháp, Ý, Đức, Mỹ và một số nước Bắc Âu.niêm yết trên HNX. HCM. - 1875-1913, TTCK phát triển...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP " Cổ phiếu

  1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG TIỂU LUẬN MÔN TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP GVHD: Nhóm thực hiện: “THE POWER OF GIRL” Lớp: 08TN3 Năm học: 2010 – 2011 Tp.HCM, ngày 05 tháng 05 năm 2010 1
  2. NHẬN XÉT VÀ CHO ĐIỂM CỦA GIẢNG VIÊN ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ ................................................................................................................................................ 2
  3. MỤC LỤC Trang I. Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán 5 II. Tác động của thị trường chứng khoán 5 III. Cổ phiếu là gì? Tác dụng của việc phát hành cổ phiếu 7 IV. Đặc điểm và phân loại cổ phiếu 8 V. Chức năng của cổ phiếu 12 VI. Mục đích mua cổ phiếu của nhà đầu tư, quyền lợi của cổ đông 13 và phân loại cổ đông. VII. Nơi mua bán cổ phiếu và quy trình giao dịch cổ phiếu. Các 14 thành phần tham gia VIII. Định giá cổ phiếu 17 IX. Các nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán 25 X. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiểu 26 XI. Cổ phiếu mang lại lợi ích gì cho chúng ta 30 XII. Ưu và nhược điểm của các công ty chứng khoán trong việc phát 33 hành cổ phiếu hiện nay XIII. Khó khăn, thách thức và thực trạng hiện nay 34 XIV. Kiến nghị 36 Tài liệu tham khảo 37 3
  4. I. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Trên thế giới - Thị trường chứng khoán xuất phát từ các cuộc thương lượng của các thương gia ở các nước phương Tây về: nông lâm sản, khoán sản, ngoại hối, các giấy tờ có giá,… - 1453, phiên “chợ” đầu tiên tổ chức với quy mô lớn đã diễn ra tại lữ quán của gia đình Vanber ở Bruges (Bỉ). - 1547, giao dịch chứng khoán được chuyển tới thị trấn Anvers (Bỉ). - Từ thế kỷ 16-19, TTCK hình thành và phát triển ở Anh, Pháp, Ý, Đức, Mỹ và một số nước Bắc Âu.niêm yết trên HNX. HCM. - 1875-1913, TTCK phát triển mạnh mẽ cùng với sự phát triển của nền kinh tế. - 1929, TTCK lâm vào khủng hoảng. - Sau chiến tranh TG lần 2, TTCK bắt đầu phục hồi, nhưng 1987 TTCK lâm vào khủng hoảng nặng nề hơn lần trước, nhưng sau đó 2 năm thị trường chứng khoán lại phục hồi và đi vào ổn định. - Hiện nay, TTCK phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển và trên thế giới hiện có trên 160 TTCK lớn nhỏ đang hoạt động. 2. Ở Việt Nam - Thời gian đầu Trung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Tp.HCM chỉ tổ chức 3 phiên giao dịch một tuần, biên độ giao động giá là 2%. - Ngày 01/03/2002, TTGDCK tăng phiên giao dịch từ 3 phiên lên 5 phiên/tuần - 08/03/2005 Khai trương trung tâm GDCK Hà Nội. - Sau đó, Chính phủ ký quyết định 599/QĐ-TTG ngày 11/05/2007 chuyển đổi Trung tâm giao dịch chứng khoán TP HCM thành Sở giao dịch chứng khoán TP - 08/08/2007, Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM chính thức khai trương. - Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (SGDCK Hà Nội) được thành lập theo Quyết định số 01/2009/QĐ-TTG ngày 2/1/2009 của Thủ tướng Chính phủ. II. TÁC ĐỘNG CỦA TTCK 1. Tác động tích cực của thị trường chứng khoán Trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động như ngày nay ta thấy thị trường chứng khoán cũng có khá nhiều tác động tích cực vào nền kinh tế. Thứ nhất, bên cạnh kênh huy động vốn cổ điển là thông qua hệ thống các ngân hàng, 4
  5. bằng cơ chế phát hàng lần đầu và phát hành lần thứ hai, thị trường chứng khoán giúp các doanh nghiệp có thêm một kênh huy động vốn mới bổ sung cho kênh huy động truyền thống. Thứ hai, thị trường chứng khoán cung cấp cho chính phủ một phương tiện để bán các trái phiếu và để gọi vốn. Dĩ nhiên, lợi ích của phương tiện này tuỳ thuộc vào khả năng của chính phủ trong việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn cân quỹ huy động được cho nền kinh tế quốc dân. Thứ ba, thị trường chứng khoán cung cấp thêm cho các nhà tiết kiệm và các kênh chế tài chính một “mục chọn” mới trong “thực đơn” đầu tư vốn. Dĩ nhiên, đầu tư vào các công cụ tài chính là đầu tư vào các tài sản bằng tiền là hoạt động có rủi ro. Tuy nhiên, bằng cách cho phép các nhà đầu tư đa dạng hoá các khoản đầu tư để giảm thiểu rủi ro, thị trường chứng khoán sẽ giúp các nhà đầu tư chọn lựa các tổ hợp đầu tư khác nhau theo ý thích của họ để có sự kết hợp tối ưu giữa rủi ro và lợi nhuận. Thêm nữa, bằng cách đưa ra các mức lợi tức khác nhau, thị trường chứng khoán có vai trò đặc biệt quan trọng đối với những nhà đầu tư chỉ có một sự lựa chọn duy nhất là gửi tiền vào các ngân hàng rồi thụ động ngồi chờ một mức lợi tức khá thấp. Có một thị trường thứ cấp năng động, các nhà đầu tư sẽ có được một thị trường có sức lưu chuyển nhiều hơn so các thị trường vàng, thị trường bất động sản. Thứ tư, bằng việc cung cấp một cung bậc lãi suất khác nhau cho các trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty, cổ phiếu, thị trường chứng khoán buộc các doanh nghiệp và chinh phủ huy động các nguồn vốn mới phải trả một mức sinh lời phản ánh cả lợi tức trong mối liên hệ với các khoản đầu tư khác và cả những rủi ro có liên quan với các khoản đầu tư đó. Nhờ vậy, việc phân bổ vốn toàn bộ nền kinh tế được cải thiện. Trong một thị trường vốn mà chi phí vay mượn vốn chưa dựa trên cung cầu vốn và chưa phản ánh những rủi ro có liên quan như thị trường vốn ở nước ta, lợi điểm này có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thứ năm, thị trường chứng khoán cũng cung cấp một cơ chế để bản địa hoá một phần quyền sở hữu của các doanh nghiệp nước ngoài. Chẳng hạn, khi luật yêu cầu một doanh nghiệp cổ phần phải có 60% sở hữu của các nước sở tại thì khi chào bán, doanh nghiệp đó phải chào bán 60% cổ phần của nó cho công chúng. Sau cùng, thị trường chứng khoán có thể giúp huy động các luồng vốn từ nước ngoài từ các nhà đầu tư nước ngoài, người muốn đa dạng hoá các khoản mục đầu tư của minh trên các thị trường vốn quốc tế. 2. Tác động tiêu cực của thị trường chứng khoán ở Việt Nam Có lẽ do có quá nhiều lợi điểm khi nền kinh tế có thị trường chứng khoán khiến không ít người không chú ý đúng mức đến những tác động tiêu cực của thị trường chứng khoán. Trong thực tế, mặt bất lợi của thị trường chứng khoán cũng không phải ít. Tựu trung, Những tác động tiêu cực này thể hiện trên bốn điểm chính như sau: Một là, bằng cách cho phép những người giàu có đầu tư để gia tăng thêm của cải mà dường như không phải lao động để có, thị trường chứng khoán khuyến khích sự phân phối của cải bất bình đẳng trong xã hội. Trên phương diện này, có thể xem thị trường chứng khoán như những sòng bạc hoặc những trường đua ngựa khổng lồ; Hai là, thị trường chứng khoán có thể khuyến khích một sự đầu tư liều lĩnh ở các cá 5
  6. nhân và các tập thể (các định chế tài chính) và do đó có thể gây ra sự mất ổn định của nền kinh tế quốc gia. Vụ sụp đổ của Wall Street trong những năm cuối của thập niên 20, Hồng Kông năm 1970 và gần đây, vị thua lỗ 1,5 tỷ USD bởi bàn tay thao túng của Nick Veson, nhà kinh doanh chứng khoán 28 tuổi, đã làm cho Baring, một ngân hàng có lịc sử lâu đời nhất nước Anh phải đứng trên bờ vực thẳm của sự phá sản cà đe doạ đến sự ổn định của các thị trường tài chính khác trên thế giới là những bằng chứng sống động về tác động của những khoản đầu tư thiếu chín chắn; Ba là, thị trường chứng khoán có thể là một mảnh đất tốt cho các hoạt động bất tương sinh sôi và phát triển. Phao tin đồn thất thiệt, xung đột quyền lợi, mua bán có tay trong (mua bán nội gián), phát hành những bản cáo bạch không đúng sự thật, lấy giá chứng khoán lên, bán chứng khoán không đúng với giá trị hoặc quá cao là những “chuyện xưa như quả đất” trên các thị trường chứng khoán; Bốn là, mặc dù thị trường chứng khoán có thể phân bố vốn cho các hoạt động kinh tế được kỳ vọng là có thể mang lại nhiều lợi nhuận nhất nhưng, xét từ quan điểm toàn cục, các hoạt động này có thể không phải là các hoạt động có lợi nhất bởi thị trường và giá cả thị trường có thể bị bóp méo trong các nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển. Vì vậy, sự phát triển của thị trường chứng khoán có thể dẫn đến xấu đi trong phân bổ các nguồn lực chứ không phải là sự cải thiện. III. CỔ PHIẾU LÀ GÌ ? TÁC DỤNG CỦA VIỆC PHÁT HÀNH CỔ PHIẾU 1. Khái niệm cổ phiếu - Cổ phiếu là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu vốn góp vào công ty và quyền được hưởng một khoản cổ tức theo định kỳ. Cổ phiếu lưu hành trên thị trường có nhiều loại. * Một số khái niệm khác : - Cổ phiếu là giấy chứng nhận cổ phần, nó xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty cổ phần. Người mua cổ phiếu được gọi là cổ đông, nhận giấy chứng nhận cổ phần được gọi là cổ phiếu.Trên giấy này có ấn định mệnh giá của cổ phiếu . -Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với một công ty cổ phần. 2. Tác dụng của việc phát hành cổ phiếu : Với hàng trăm đợt phát hành cổ phiếu (CP) của các doanh nghiệp trên cả nước trong thời gian qua, gồm cả phát hành lần đầu và phát hành bổ sung, phát hành công khai và phát hành nội bộ (phát hành riêng lẻ), về cơ bản có thể nói, các hoạt động và các phương án phát hành CP của các doanh nghiệp đã diễn ra hợp pháp và mang lại hiệu quả tích cực cho đời sống kinh doanh của doanh nghiệp – tổ chức phát hành nói riêng, cũng như cho toàn bộ nền kinh tế nói chung. Điều này có thể thấy và được minh chứng qua những cải thiện rõ rệt: tác dụng đầu tiên và cũng là tác dụng quan trọng nhất đố với công ty cổ phần: giúp công ty huy động vốn khi thành lập hoặc mở rộng kinh doanh, bằng hình thức phát hành cổ phiếu thì nguồn huy động đó không cấu thành một khoản nợ mà công ty 6
  7. phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu vay nợ từ các tổ chức tín dụng thì hoàn toàn ngược lại va giúp cho doanh nghiệp tăng hiệu quả, lợi nhuận kinh doanh, việc làm thiện thu nhập và dân chủ về kinh tế cho các cổ đông, người lao động. Ngoài việc giúp các công ty cổ phần huy động vốn thì việc phát hành cổ phiếu còn tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư tham gia đầu tư và thu lời từ đầu tư chứng khoán, cổ phiếu. Các nhà đầu tư có thể đầu tư vào cổ phiếu, thực hiện đầu tư vào bất kỳ lĩnh vực nào, không cần thiết phải có sự hiểu biết về kỹ thuật công nghệ của lĩnh vực đó, một khi không bằng lòng ở lĩnh vực này sẽ bán cổ phiếu đó đi để mua cổ phiếu ở lĩnh vực khác. Việc mua cổ phiếu còn giúp một nhà đầu tư có thể tham gia quyền quản trị, kiểm soát công ty khi cổ đông đó đạt được một mức độ sở hữu quy định cổ phiếu, với một số lượng lớn cổ phiếu thường trong tay, các cổ đông có quyền tham gia biểu quyết. Qua việc phát hành cổ phiếu, dựa vào giá cổ phiếu ta biết được hệ số P/E mà ta có thể đánh giá cao hay thấp công ty đó. Do cổ phiếu có tính lưu thông, thị trường rộng lớn, phát hành cổ phiếu rất có lợi cho chủ sở hữu tiét kiệm nhiều thời quan và bỏ qua nhiều thủ tục do mua bán dễ dàng và nhanh chóng, giúp chủ sở hữu cổ phiếu thực hiện được nhiều hoạt động như thừa kế tặng cho để thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình. Tác dụng một phần nào đó đến nền kinh tế thị trường ví dụ như khi các công ty phát hành cổ phiếu mà giá của tất cả cổ phiếu trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của nó thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây khủng hoảng thị trường. Về phía nhà nước:phat hành cổ phiếu sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước do bán được và bán với giá khá cao các phần vốn, tài sản nhà nước muốn bán (giá tăng so với khởi điểm ít nhất 15 – 20%, cá biệt có khi hàng chục lần…), tạo động lực làm sống động và phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) cả về bề rộng, lẫn bề sâu, phát triển thu hút cả vốn trong và ngoài nước, thúc đẩy quá trình cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước lành mạnh và hiệu quả, tạo động lực phát triển toàn bộ nền kinh tế theo các nguyên tắc thị trường và cải thiện vị thế, hình ảnh đất nước trong con mắt các nhà đầu tư quốc tế. TTCK Việt Nam được coi là hiện tượng đáng chú ý trên TTCK thế giới năm 2006, và là 1 trong 3 thị trường có cơ hội kinh doanh hấp dẫn trên thế giới. IV. ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI CỔ PHIẾU 1. Đặc điểm - Cổ phiếu có bản chất là một công cụ góp vốn (equity instruments) và do các công ty cổ phần phát hành. Khi cần huy động vốn, công ty cổ phần chia số vốn cần huy động thành nhiều phần nhỏ bằng nhau, gọi là các cổ phần (share/stock). Người mua những cổ phần này được gọi là cổ đông (share/stockholder). Với số cổ phần đã mua, các cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu, giấy này gọi là cổ phiếu. - Vốn mà công ty cổ phần huy động được từ việc phát hành cổ phiếu được xem là vốn thuộc sở hữu của công ty. Những cổ đông khi mua các cổ phần của công ty đã thực hiện việc góp vốn để công ty kinh doanh và do vậy trở thành những người đồng sở hữu công ty. Tỷ lệ sở hữu công ty phụ thuộc vào số cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Do cổ phiếu 7
  8. được xem là giấy xác nhận quyền sở hữu của các cổ đông đối với những cổ phần này nên có thể coi cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận sự góp vốn và quyền sở hữu về số vốn mà một cổ đông góp vào công ty cổ phần. - Là người chủ sở hữu công ty, các cổ đông có những quyền cơ bản sau đây: • Quyền tham gia quản lý công ty: Quyền này được thực hiện bằng cách các cổ đông bầu ra một Hội đồng quản trị để thay mặt mình quản lý, điều hành công ty. Các cổ đông không chỉ có quyền bầu ra Hội đồng quản trị (Board of Directors) mà còn có thể tham gia ứng cử làm thành viên của Hội đồng quản trị. Số lượng phiếu bầu tỷ lệ với số lượng cổ phần mà cổ đông nắm giữ. Do vậy những người nắm giữ càng nhiều cổ phần của công ty thì càng có nhiều khả năng trở thành thành viên của Hội đồng quản trị. Ngoài ra, hàng năm công ty còn tổ chức Đại hội cổ đông (Annual shareholder meetings) để họp các cổ đông lại, bàn về các chiến lược hoặc kế hoạch kinh doanh lớn của công ty. • Quyền sở hữu tài sản ròng39 của công ty: Các cổ đông sở hữu công ty theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ. Do vậy, khi tài sản ròng của công ty tăng lên do làm ăn có lãi, giá trị các cổ phần mà cổ đông nắm giữ cũng tăng lên theo. Khi công ty cổ phần ngừng hoạt động, cổ đông được tham gia phân chia tài sản còn lại của công ty. Ví dụ: Tổng tài sản ban đầu của một công ty cổ phần là 10 tỷ VNĐ. Một cổ đông nắm 20% cổ phần của công ty cho nên tổng giá trị tài sản công ty mà anh sở hữu theo cổ phần là 2 tỷ VNĐ. Sau 5 năm làm ăn có lãi, tổng tài sản ròng của công ty tăng lên 15 tỷ VNĐ, khi đó tổng giá trị cổ phần mà anh ta sở hữu lên tới 3 tỷ VNĐ. • Quyền tham gia chia lợi nhuận ròng40: Cổ đông được quyền hưởng một phần lợi nhuận ròng của công ty tỷ lệ với số cổ phần anh ta sở hữu. Phần lãi trả cho mỗi cổ phần được gọi là cổ tức (Dividend). Quyền này chỉ được thực hiện khi công ty làm ăn có lãi. Tuy nhiên, không phải lúc nào tất cả lợi nhuận thu được đều được đem chia cho các cổ đông, cũng có trường hợp nhằm tăng vốn kinh doanh cho công ty, Hội đồng quản trị quyết định giữ lại phần lớn lợi nhuận. Điều này nói chung là được các cổ đông chấp nhận vì tuy không nhận được cổ tức nhưng giá trị cổ phần của họ trong công ty lại tăng lên, hơn thế việc tăng vốn có thể đảm bảo cho khả năng tạo thêm nhiều lợi nhuận hơn trong thời gian tới. Ngoài đặc trưng cơ bản nói trên, cổ phiếu còn có một số đặc điểm đáng chú ý sau: • Thời hạn của cổ phiếu: Bằng cách mua cổ phiếu do công ty cổ phần phát hành, các nhà đầu tư đã cung cấp vốn cho công ty hoạt động. Tuy nhiên các cổ đông lại không được phép rút khoản vốn này về trừ trường hợp công ty ngừng hoạt động hoặc có qui định đặc biệt cho phép được rút vốn. Chính vì lý do như vậy nên có thể coi cổ phiếu có thời hạn thanh toán vốn bằng thời gian hoạt động của công ty. Trên thực tế, trừ trường hợp phá sản hoặc kết quả kinh doanh quá tồi tệ, còn nói chung thì các công ty sẽ vẫn cứ duy trì hoạt động mãi mãi, cho nên có thể nói thời hạn của cổ phiếu là vô hạn. Mặc dù vậy, các cổ đông được phép chuyển nhượng cổ phần mà mình nắm giữ cho người khác và bằng cách đó có thể rút lại khoản vốn mà mình đã đầu tư vào công ty cổ phần. 8
  9. • Giá trị của cổ phiếu: Giá trị của cổ phiếu được thể hiện trên 3 phương diện sau: Mệnh giá (Face value): là số tiền ghi trên bề mặt cổ phiếu 41. Mệnh giá thường được ghi bằng nội tệ. Mệnh giá bằng bao nhiêu là do luật 41 khoán hoặc điều lệ của công ty cổ phần qui định. Ví dụ: ở Việt nam theo NĐ144/CP, mệnh giá cổ phiếu của các doanh nghiệp Việt nam thống nhất là 10.000 VNĐ. Giá trị ghi sổ (Book value): là giá trị của mỗi cổ phần căn cứ vào giá trị tài sản ròng của công ty trên bảng tổng kết tài sản. Ví dụ: Một công ty có 50.000 cổ phiếu, mệnh giá 10.000 đ/cổ phiếu. Sau 5 năm hoạt động, giá trị tài sản ròng của công ty theo sổ sách kế toán là 1 tỷ đồng. Khi đó giá trị của mỗi cổ phần theo sổ sách sẽ là 20.000 đ, ta nói giá trị ghi sổ của cổ phiếu công ty bây giờ là 20.000 đ/cổ phiếu. Giá trị thị trường (Market value): là giá cả của cổ phiếu khi mua bán trên thị trường. 2. Phân loại cổ phiếu a. Căn cứ vào hình thức phát hành, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu vô danh và cổ phiếu ký danh. Lúc mới ra đời cổ phiếu tồn tại dưới dạng ký danh có ghi tên người sở hữu nó, sau này khi thị trường cổ phiếu phat triển loại cổ phiếu này gây trở ngại cho việc lưu thông và chuyển nhượng cổ phiếu. Do đó, loại cổ phiếu vô danh không ghi tên người sở hữu ra đời và ngày càng phổ biến. b. Căn cứ vào quyền lợi được hưởng, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu thường (hay cổ phiếu phổ thông) và cổ phiếu ưu đãi. Cổ phiếu thường hay cổ phiếu phổ thông (Common stock): có mức cổ tức phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của công ty. Vì vậy, cổ đông mua loại cổ phiếu này rất quan tâm đến hoạt động của công ty và họ thường là những người đứng đầu trong ban quản trị chịu trách nhiệm điều hành hoạt động của công ty. Giá cũng biến động nhiều hơn so với cổ phiếu ưu đãi. - Là loại cổ phiếu có đầy đủ các đặc trưng đã nêu trên của cổ phiếu. Đó là: • Không qui định trước số cổ tức cổ đông sẽ nhận được. Giá trị cổ tức nhiều hay ít còn tuỳ vào tình hình lợi nhuận của công ty và kế hoạch chia lợi nhuận của Hội đồng quản trị. Trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ thì chẳng những cổ tức không được chia mà cổ đông còn bị hao hụt về vốn góp. Nguyên tắc của các cổ đông cổ phiếu thường là “lời ăn, lỗ chịu”. • Chỉ được chia lãi sau khi công ty đã thanh toán lãi trả cho những người nắm trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi. • Thời hạn cổ phiếu là vô hạn. • Được hưởng quyền tham gia quản lý công ty cùng các quyền khác nhằm duy trì quyền quản lý công ty, như: quyền bầu cử, quyền ứng cử vào Hội đồng quản trị, quyền ưu tiên mua trước với giá ưu đãi các cổ phiếu mới phát hành. Những cổ đông có nhiều cổ phần hoặc nhiều uy tín có thể nắm quyền điều hành công ty. Còn nói chung đa số những người đầu tư chỉ mua cổ phiếu thường để hưởng cổ tức hoặc bán đi khi cổ phiếu lên giá nhằm hưởng chênh lệch giá. 9
  10. Cổ phiếu ưu đãi (Preferred Stock): có mức cổ tức cố định và được ghi rõ trên cổ phiếu lúc phát hành. Với cổ phiếu này thu nhập của cổ đông không phụ thuộc vào chính sách chia lãi hàng năm của công ty. Ngoài ra, tính ưu đãi còn được thể hiện ở chỗ như được chia cổ tức trước cổ phiếu thường, trường hợp tài sản công ty bị thanh lý phần tài sản còn lại sau khi thanh toán hết các khoản nợ của công ty sẽ được hoàn vốn cho cổ đông giữ cổ phiếu ưu đãi. Gồm nhiều hình thức phát hành như cổ phiếu ưu đãi có thể chuyển đổi thành cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi có lãi cổ phần gộp, cổ phiếu ưu đãi có thể bồi hoàn… Khác với cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi có thể có mệnh giá hoặc không có mệnh giá. Chẳng hạn một cổ phiếu ưu đãi có mệnh giá 100 USD, tỷ suất cổ tức là 4,5% sẽ được hưởng một khoản cổ tức cố định là 4,5 USD. Còn nếu cổ phiếu ưu đãi không có mệnh giá thì cổ tức sẽ được công ty công bố đơn giản là 5 USD/cổ phiếu chẳng hạn. Hạn chế của cổ phiếu ưu đãi so với cổ phiếu thường là: • Cổ đông nắm giữ cổ phiếu ưu đãi không được tham gia bầu cử, ứng cử vào hội đồng quản trị, tức là không được quyền tham gia quản lý công ty. • Khi lợi nhuận của công ty tăng lên thì cổ tức cổ phiếu ưu đãi không vì thế mà được tăng lên theo. Vì cổ tức của cổ phiếu ưu đãi không tăng, nên giá cả của cổ phiếu ưu đãi trên thị trường cũng ít biến động. Do vậy, cổ phiếu ưu đãi thường kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư hơn so với cổ phiếu thường 43. Những người đầu tư vào cổ phiếu ưu đãi thường là những người muốn có thu nhập ổn định, đều đặn và không thích mạo hiểm. Các loại cổ phiếu ưu đãi (CPUĐ) ♦ CPUĐ biểu quyết: là CP có số biểu quyết nhiều hơn so với cổ phiếu phổ thông (CPPT), số phiếu biểu quyết này do điều lệ công ty quy định. Theo quy định của pháp luật thì chỉ có những tổ chức do chính phủ ủy quyền và các cổ đông sáng lập mới nắm giữ cổ phiếu ưu đãi biểu quyết (CPUĐBQ). Không giới hạn hiệu lực về mặt thời gian nhưng các cổ đông sáng lập (CĐSL) có giới hạn trong thời gian 3 năm sẽ chuyển đổi thành CPPT và cũng có thể do đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) quyết định. Hạn chế: không được chuyển nhượng. ♦ CPƯĐ cổ tức: là CP được trả cổ tức cao hơn cổ tức của CPPT hoặc mức ổn định hằng năm (cổ tức là khoản lợi nhuận ròng được trả cho mỗi CP bằng tiền mặt hoặc bằng tài sản khác từ nguồn lợi nhuận còn lại của công ty sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác). Mức cổ tức cố định cụ thể và phương thức xác định cổ tức thưởng thì được ghi trên CP của cổ phiếu ưu đãi cổ tức (CPƯĐCT). CĐƯĐCT được ưu tiên thanh toán giá trị tài sản còn lại trước CĐPT và CĐƯĐBQ sau khi công ty đã thanh toán hết cho chủ nợ và cổ phiếu ưu đãi hoàn lại (CĐƯĐHL) trong trường hợp công ty giải thể hoặc phá sản. Hạn chế: CĐƯĐCT không có quyền biểu quyết, họ không tham gia vào ĐHĐCĐ. ♦ CPƯĐ hoàn lại: loại CP này dành cho CĐ sở hữu chúng quyền được rút vốn ra khỏi công ty bất kì lúc nào hoặc theo điều kiện ghi trên CP. Có thể chuyển nhượng hoặc bán CP lại cho công ty. Hạn chế: tuy có thể chuyển nhượng tự do nhưng không được rút vốn, CĐƯĐHL không có quyền biểu quyết, không được tham gia vào ĐHĐCĐ và không có quyền đề cử người vào HĐQT và ban kiểm soát. 10
  11. c. Căn cứ vào phương thức góp vốn, cổ phiếu có hai loại: cổ phiếu hiện kim và cổ phiếu hiện vật Cổ phiếu hiện kim dành cho những cổ đông góp vốn bằng tiền, cổ phiếu hiện vật dành cho những cổ đông góp vốn bằng tài sản như may móc, thiết bị, nhà xưởng… d. Căn cứ vào hình thức phát hành và lưu hành: - Cổ phiếu được phép phát hành - Cổ phiếu đã phát hành - Cổ phiếu quỹ - Cổ phiếu đang lưu hành V.CHỨC NĂNG CỦA CỔ PHIẾU 1. Đối với Công ty phát hành: Cổ phiếu sẽ giúp cho Công ty có thể huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh. Nguồn vốn huy động này không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều. 2. Đối với cổ đông nắm giữ cổ phiếu, có các quyền sau: a. Quyền tham gia quản lý công ty: những người nắm giữ càng nhiều cổ phần của công ty thì càng có nhiều khả năng trở thành thành viên của Hội đồng quản trị. b. Quyền sở hữu tài sản ròng của công ty: Các cổ đông sở hữu công ty theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ. Do vậy, khi tài sản ròng của công ty tăng lên do làm ăn có lãi, giá trị các cổ phần mà cổ đông nắm giữ cũng tăng lên theo. c. Quyền tham gia chia lợi nhuận ròng: Cổ đông được quyền hưởng một phần lợi nhuận ròng của công ty tỷ lệ với số cổ phần anh ta sở hữu. Phần lãi trả cho mỗi cổ phần được gọi là cổ tức (Dividend). Quyền này chỉ được thực hiện khi công ty làm ăn có lãi. 3. Đối với nhà đầu tư cổ phiếu: : Các nhà đầu tư trên thị trường sẵn sàng mua Cổ phiếu được công ty phát hành. Giấy chứng nhận sở hữu cổ phần được phát hành dưới dạng chứng thư có giá và được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao, và đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường . VI. MỤC ĐÍCH MUA CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ, QUYỀN LỢI CỦA CỔ ĐÔNG VÀ PHÂN LOẠI CỔ ĐÔNG. 1/ Mục đích của nhà đầu tư : 11
  12. Mục đích của nhà đầu tư chủ yếu là vì mục tiêu lợi nhuận. Do cổ phiếu là 1 yếu tố nhạy cảm nên giá trị của nó lên xuống rất thất thường => độ rủi ro rất cao. Tuy nhiên lợi nhuận thu được cũng rất cao, vì vậy nó trở thành 1 mục tiêu của những người thích mạo hiểm. 2/ Quyền lợi của cổ đông : - Quyền biểu quyết: với số cổ phiếu tương ứng, cổ đông có thể biểu quyết trực tiếp hay thông qua đại diện do cổ đông uỷ quyền một cách hợp pháp để biểu quyết những vấn đề quan trọng trong hoạt động của công ty như đường lối, chiến lược kinh doanh, phân phối lợi nhuận, tăng hoặc giảm vốn điều lệ... Tuy nhiên, cổ đông ưu đãi không có quyền này. - Quyền nhận cổ tức (lãi cổ phần) từ lợi nhuận của công ty tương ứng với số cổ phần mà họ nắm giữ; nhận phần giá trị tài sản còn lại của công ty khi công ty giải thể hoặc phá sản. Khi công ty phá sản, giải thể, cổ đông chỉ có thể nhận giá trị tài sản còn lại của công ty sau khi công ty đã thực hiện thanh toán các khoản nợ hay nói một cách khác, quyền của cổ đông đối với tài sản của công ty cổ phần có thứ tự ưu tiên xếp sau các chủ nợ của công ty đó. - Quyền đăng ký mua cổ phiếu phát hành thêm trước khi chúng được đem bán rộng rãi ra công chúng. - Quyền chuyển nhượng cổ phần đang nắm giữ. Tuy nhiên, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác. 3/ Phân loại cổ đông : Cổ đông là cá nhân hay tổ chức nắm giữ quyền sở hữu hợp pháp một phần hay toàn bộ phần vốn góp (cổ phần) của một công ty cổ phần. Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty đó, do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động của doanh nghiệp và loại cổ phần mà họ sở hữu. Các loại cổ đông thường được phân biệt bằng quyền cũng như nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà họ sở hữu. • Cổ đông sáng lập: là những cổ đông đầu tiên góp vốn để hình thành nên công ty cổ phần. • Cổ đông đặc biệt: là cổ đông (thường là Nhà nước) mặc dù chỉ nắm một số lượng cổ phần rất ít ỏi chỉ mang tính chất tượng trưng nhưng có quyền phủ quyết trong một số quyết sách quan trọng (được quy định trong điều lệ công ty) của công ty cổ phần. Loại cổ đông này còn gọi là cổ đông ưu đãi biểu quyết và loại cổ phần mà cổ đông đặc biệt nắm giữ gọi là cổ phần vàng • Cổ đông ưu đãi: là những cổ đông được ưu tiên một quyền nào đó ( được trả cổ tức cao hơn hay quyền hưởng một tỷ lệ cổ tức cố định trước khi lợi nhuận được phân phối cho các cổ đông khác, quyền nhận lại giá trị của cổ phần khi có yêu cầu). Đi kèm với quyền ưu tiên, cổ đông ưu đãi thường bị hạn chế các quyền khác (ví dụ 12
  13. quyền ứng cử vào bộ máy quản trị của công ty, quyền biểu quyết...). • Cổ đông thường: là các cổ đông còn lại. Ngoài ra, căn cứ tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ, cổ đông được phân loại thành cổ đông lớn và cổ đông thiểu số. Tỷ lệ để được coi là cổ đông lớn thường do điều lệ công ty quy định trên cơ sở tuân thủ luật pháp, ví dụ điều lệ một số công ty quy định cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng là cổ đông lớn. VII. NƠI MUA BÁN CỔ PHIẾU, QUY TRÌNH GIAO DỊCH CỔ PHIẾU VÀ CÁC THÀNH PHẦN THAM GIA. 1. Nơi mua bán cổ phiếu: cổ phiếu được mua bán, giao dịch trên 2 loại thị trường chủ yếu là thị trường tập trung (sàn giao dịch chứng khoán) hay thị trường phi tập trung (OTC). Tùy hình thức công ty tham gia phát hành cổ phiếu đã lựa chọn mà cổ phiếu được giao dịch trên thị trương đó. 2. Quy trình giao dịch a - Qui trình tìm giá khớp lệnh: Theo qui định tại Thông tư số 58/2004/TT-BTC ngày 17/6/2004 của Bộ Tài chính về Thành viên và giao dịch chứng khoán: - Phương thức giao dịch khớp lệnh thực hiện trên nguyên tắc: ♦ Là mức giá thực hiện đạt được khối lượng giao dịch lớn nhất; ♦ Nếu có nhiều mức giá thoả mãn điểm trên thì mức giá trùng hoặc gần với giá thực hiện của lần khớp lệnh gần nhất sẽ được chọn; ♦ Nếu vẫn còn nhiều mức giá thoả mãn điểm trên thì mức giá cao hơn sẽ được chọn. - Phương thức giao dịch thoả thuận là việc các thành viên tự thoả thuận với nhau về các điều kiện giao dịch. - Ưu tiên về giá: + Lệnh mua có mức giá cao hơn được thực hiện trước; + Lệnh bán có mức giá thấp hơn được thực hiện trước. - Ưu tiên về thời gian: trường hợp các lệnh mua, bán có cùng mức giá thì lệnh giao dịch nhập trước vào hệ thống giao dịch được ưu tiên thực hiện trước. Ví dụ: Ta có sổ lệnh giao dịch của chứng khoán XYZ như sau: - Trường hợp không có lệnh ATO: Tích luỹ Tích luỹ Mua Giá Bán 10.000 10.000 30.000 10.000 34.500 15.500 5.500 29.000 15.000 24.500 22.500 7.000 28.000 4.000 9.500 25.500 3.000 27.000 3.000 5.500 34.000 8.500 26.000 2.500 2.500 13
  14. Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng. - Trường hợp có lệnh ATO và giá tham chiếu của lần khớp lệnh trước đó là 26.000 đồng: Tích luỹ Tích luỹ Mua Giá Bán 13.000 10.000 30.000 10.000 31.500 18.500 5.500 29.000 21.500 25.500 7.000 28.000 21.500 25.500 27.000 10.000 21.500 25.500 26.000 10.500 11.500 3.000 ATO 1.000 Qua sổ lệnh ta có giá khớp lệnh của cổ phiếu XYZ là 28.000 đồng. b - Qui trình giao dịch cổ phiếu: Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán có thể diễn ra trên thị trường tập trung (Trung tâm giao dịch chứng khoán, Sở Giao dịch chứng khoán) và thị trường phi tập trung. Mua chứng khoán của tổ chức phát hành Đối với loại chứng khoán này, bạn có thể thực hiện theo 2 hình thức: - Mua trực tiếp tại tổ chức phát hành (công ty): nhà đầu tư phải đăng ký mua và nộp tiền trực tiếp tại tổ chức phát hành chứng khoán. Hình thức này rất bất cập, nhất là về mặt địa lý. - Mua thông qua trung gian: tức là mua thông qua các nhà đại lý hoặc bảo lãnh phát hành, thông thường là các công ty chứng khoán và các Ngân hàng thương mại. Nếu bạn mua chứng khoán của tổ chức phát hành chưa niêm yết trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thì việc chuyển nhượng hoặc bán lại chứng khoán đó cho người khác hiện nay gặp nhiều khó khăn vì không dễ tìm được người mua và bạn cũng phải trực tiếp đến tổ chức phát hành (hoặc uỷ quyền) để thực hiện chuyển nhượng cho người mua. Mua bán chứng khoán niêm yết trên trung tâm giao dịch chứng khoán Chứng khoán niêm yết là chứng khoán có đủ điều kiện và tiêu chuẩn được đăng ký để mua bán tại Trung tâm giao dịch chứng khoán. Khi mua bán chứng khoán niêm yết, phải tuân thủ theo một số nguyên tắc sau: Mọi giao dịch mua bán chứng khoán đều phải qua hệ thống tại Sở Giao dịch, Trung tâm Giao dịch chứng khoán theo phương thức khớp lệnh hoặc phương thức thoả thuận; Giao dịch chứng khoán thực hiện theo phương thức khớp lệnh trên nguyên tắc ưu tiên về giá và ưu tiên về thời gian; Giao dịch chứng khoán niêm yết lô lẻ được thực hiện trực tiếp giữa người đầu tư với công ty chứng khoán thành viên là thành viên của Trung tâm Giao dịch chứng khoán trên nguyên tắc thoả thuận về giá. * Quy trình giao dịch chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán: Toàn bộ quy trình này được tiến hành theo 5 bước: - Bước 1: Nhà đầu tư đến mở tài khoản và đặt lệnh mua hay bán chứng khoán tại một 14
  15. công ty chứng khoán. - Bước 2: Công ty chứng khoán chuyển lệnh đó cho đại diện của công ty tại Trung tâm giao dịch chứng khoán để nhập vào hệ thống giao dịch của Trung tâm. - Bước 3: Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện ghép lệnh và thông báo kết quả giao dịch cho công ty chứng khoán. - Bước 4: Công ty chứng khoán thông báo kết quả giao dịch cho nhà đầu tư. - Bước 5: Nhà đầu tư nhận được chứng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là người bán) trên tài khoản của mình tại công ty chứng khoán sau 3 ngày làm việc kể từ ngày mua bán nếu quy định về thời gian thực hiện thanh toán bù trừ chứng khoán là T +3ng khoán (nếu là người mua) hoặc tiền (nếu là Các quy định chung ) c - Giao dịch thỏa thuận trên thị trường chứng khoán: Khối lượng chứng khoán trong giao dịch thoả thuận phải lớn hơn hoặc bằng 10.000 cổ phiếu/giao dịch. Khối lượng giao dịch phải là lô chẵn. Giá giao dịch tuỳ theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán nhưng phải nằm trong biên độ cho phép tại thời điểm giao dịch. Các quy định khác về điều kiện giao dịch, tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu trong công ty cổ phần, lưu ký và thanh toán bù trừ... được áp dụng như giao dịch khớp lệnh. Khi giao dịch thoả thuận, nhà đầu tư cần lưu ý sao cho không vi phạm các quy định của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán. Lệnh giao dịch thoả thuận chỉ có giá trị trong ngày. Theo quy định hiện hành thì lệnh đã đặt không được quyền huỷ vì vậy nhà đầu tư cần chú ý quy định này khi đặt lệnh. Quy trình thực hiện lệnh đặt mua hay chào bán: Trường hợp khách hàng chủ động quảng cáo (chủ động đặt mua hoặc chào bán), quy trình đặt lệnh giao dịch được tiến hành theo 2 bước: Bước 1: Quảng cáo giao dịch thoả thuận. Sau khi khách hàng điền vào phiếu lệnh giao dịch thoả thuận theo mẫu và nộp phiếu lệnh cho nhân viên giao dịch (mẫu quảng cáo giao dịch), dại diện giao dịch của công ty chứng khoán (CTCK) kiểm tra các quảng cáo giao dịch thoả thuận vào hệ thống giao dịch. Màn hình giao dịch sẽ hiển thị nội dung của quảng cáo. Ghi chú: Trong trường hợp đã có đối tác, khách hàng cần nộp thêm chứng từ xác nhận thoả thuận, cam kết giữa hai bên về khối lượng, giá thoả thuận, mã số giao dịch của cả hai bên... Bước 2: Điều chỉnh lệnh trong quá trình thoả thuận. Khách hàng cần giữ liên lạc thường xuyên với CTCK để nắm rõ tình hình giao dịch với đối tác. Trong trường hợp có điều chỉnh các thông số lệnh, những sửa đổi cần được sự chấp thuận của CTCK và CTCK sẽ xác nhận trực tiếp việc sửa đổi vào phiếu lệnh. Ghi chú: Trong trường hợp khách hàng đã có đối tác trước thì lệnh được thực hiện ngay. Trường hợp nhà đầu tư quyết định giao dịch dựa trên thông tin quảng cáo, quy trình đặt lệnh được tiến hành theo 2 bước: Bước 1: Tiếp nhận những thông tin quảng cáo về giao dịch thoả thuận được đại diện giao dịch thông báo rộng rãi đến nhà đầu tư. Khách hàng có thể tìm hiểu thêm thông tin tại 15
  16. quầy giao dịch của các CTCK. Nếu chấp nhận các tin quảng cáo, nhà đầu tư đăng ký giao dịch thoả thuận. Bước 2: Khách hàng điền vào phiếu lệnh giao dịch thoả thuận theo mẫu rồi nộp phiếu lệnh cho nhân viên giao dịch. Đại diện giao dịch nhận được phiếu đăng ký sẽ tiến hành thoả thuận với đại diện giao dịch của bên quảng cáo và thông báo cho khách hàng. Khách hàng có quyết định cuối cùng chấp thuận giao dịch hay không. Về việc xác nhận giao dịch: Sau khi hai bên đã đồng ý tiến hành giao dịch. Đại diện giao dịch sẽ tiến hành thực hiện giao dịch cho khách hàng. Sau khi hoàn tất giao dịch, phần việc xác nhận kết quả giao dịch, số dư chứng khoán và quy trình thanh toán bù trừ được thực hiện như giao dịch khớp lệnh. VIII. ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU Hiện tại các nhà phân tích chứng khoán tại Việt Nam và trên thế giới dùng khá nhiều phương pháp để tính và dự đoán giá CP. Sau đây là 3 phương pháp có thể áp dụng được trong điều kiện hiện tại của TTCK Việt Nam. 1. Định giá cổ phiếu phổ thông theo phương pháp chiết khấu luồng thu nhập (DCF) - Phương pháp định giá chiết khấu luồng thu nhập (DCF) được dựa trên một nguyên lý cơ bản là "tiền có giá trị theo thời gian, một đồng tiền của ngày hôm nay luôn có giá trị hơn một đồng tiền của ngày mai, một đồng đầu tư vào trong doanh nghiệp (DN) này có mức sinh lời khác với một đồng đầu tư trong DN khác. Do đó, giá trị của DN được xác định bằng các luồng thu nhập dự kiến mà DN đó thu được trong tương lai được quy về giá trị hiện tại bằng cách chiết khấu chúng bằng một mức lãi suất chiết khấu phù hợp với mức độ rủi ro của DN đó. - Do vậy, trong phương pháp DCF có 3 thông số cơ bản nhất cần được xác định, đó là luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai, mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó và thời hạn tồn tại dự tính của DN. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở những nước mà TTCK phát triển, nơi thường có đầy đủ thông tin về lịch sử cũng như thông tin hiện tại và dự báo hợp lý về tình hình tài chính và rủi ro của doanh nghiệp. Hiện nay, việc áp dụng công thức này ở Việt Nam cũng được nhiều người chấp nhận bởi giá CP tính theo phương pháp này phản ánh được tương đối đầy đủ mọi mặt bản chất hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty so với các phương pháp khác và đứng trên quan điểm của nhà đầu tư thì, ngoài việc tính toán theo phương pháp này rất đơn giản, nó còn đáp ứng đúng suy nghĩ, nguyện vọng của họ khi đầu tư vào một DN. - Tuy nhiên, tại Việt Nam việc áp dụng công thức này có một số khó khăn làm cho việc ước tính nguồn thu trong tương lai của các công ty khó có thể chính xác như: Tình hình môi trường kinh doanh có nhiều biến động; Các DN Việt Nam trong đó có các công ty đang niêm yết đều chưa quen với việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, đặc biệt là còn xa lạ với việc dự báo chi tiết luồng tiền dài hạn ra, vào công ty... Do đó, chúng ta sẽ điều chỉnh lại công thức này theo hướng 5 năm và cộng giá trị tài sản ròng được tính vào thời điểm niêm yết. - Công thức được điều chỉnh sẽ là: 16
  17. P = Po + E1/(1+r) + E2/(1+r)2 + E3/(1+r)3 + E4/(1+r)4 + E5/(1+r)5 2. Định giá CP phổ thông theo phương pháp hệ số P/E - Đây là phương pháp cũng được áp dụng phổ biến ở các TTCK đã phát triển. Hệ số P/E là hệ số giữa giá CP (thị giá) và thu nhập hàng năm của một CP đem lại cho người nắm giữ. Thông thường, để dự tính giá của một loại CP, người ta thường dùng thu nhập trên mỗi CP của công ty nhân với hệ số P/E trung bình ngành hoặc của một công ty tương tự về qui mô, ngành nghề và đã được giao dịch trên thị trường. Việc áp dụng hệ số P/E để tính giá CP tại Việt nam còn gặp phải nhiều khó khăn do thiếu số liệu và TTCK chưa phát triển. - Tại các thị trường đã phát triển, theo số liệu thống kê về chỉ số P/E, hệ số này từ 8-15 là bình thường, nếu hệ số này lớn hơn 20 thì công ty đang được đánh giá rất tốt và người đầu tư trông đợi trong tương lai, mức thu nhập trên một CP của công ty sẽ tăng nhanh. Trường hợp công ty có hệ số P/E thấp có thể là do thị trường không đánh giá cao công ty đó hoặc chưa hiểu biết nhiều về công ty. Khi tất cả các CP trên thị trường đều có giá quá cao so với giá trị thực của của nó thì phần bong bóng sẽ vượt quá phần thực và nhất định có ngày nổ tung, gây khủng hoảng thị trường như đã từng thấy ở các nước phát triển. 3. Định giá cổ phiếu dựa trên cơ sở tài sản ròng có điều chỉnh - Quan điểm chung của phương pháp này cho rằng, một công ty có giá trị không kém hơn tổng các giá trị của từng loại tài sản riêng của nó trừ đi các khoản nợ của nó. Tài sản riêng ở đây được hiểu bao gồm cả những giá trị lợi thế của công ty. Giá CP của công ty có thể được tính theo phương pháp tổng quát sau: Giá CP = (Giá trị TS ròng + Giá trị lợi thế)/Tổng số CP định phát hành - Phương pháp này thường được sử dụng để tính toán giá tham chiếu và so sánh. Ở Việt Nam, phương pháp này được áp dụng phổ biến cho các DN Nhà nước thực hiện cổ phần hóa (CPH). Tuy nhiên, giá trị tài sản ròng của công ty dù được định giá chính xác đến đâu cũng chỉ thể hiện giá trị thanh lý của công ty, trong khi đó đối với người đầu tư mua CP thì tương lai của công ty mới là điều đáng quan tâm hơn cả. Trong các DN CPH ở Việt Nam có nhiều loại tài sản mà chúng ta không xác định được giá do không có thị trường cho các loại tài sản này, nhưng có một loại tài sản mà ai cũng thấy rõ là đang góp phần khiến cho các DN Nhà nước CPH được định giá thấp là giá trị quyền sử dụng đất. - Quan sát cho thấy, việc quyền sử dụng đất trong các DN Nhà nước CPH được định giá thấp hơn giá cả trên thị trường nhà đất từ 4 đến 5 lần không phải là hiện tượng cá biệt. Hơn thế nữa, trong nhiều DN, quyền sử dụng đất là một tài sản có giá trị cao nhất, chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng tài sản của công ty. Chúng ta sẽ dựa trên một số số liệu về cổ phần hoá, tính những thiếu hụt trong quá trình định giá của các DN Nhà nước cổ phần bằng cách nhân tổng giá trị tài sản ròng của công ty lên 2 lần. Dựa trên các phương pháp được giới thiệu trên và chỉ sử dụng một cách máy móc những con số ghi trên trên báo cáo tài chính năm 1999 và 2000 được công bố của các công ty niêm yết, các bạn có thể tự tính toán được giá trị CP của các công ty theo bảng dưới đây. Tuy nhiên, theo những tính 17
  18. toán nêu trên thì giá CP vẫn chưa thể hiện được hoàn toàn về các giá trị thực của công ty mà nó phản ánh. Để có thể hiểu được một cách rõ nét và toàn diện hơn, chúng ta cần phải đi sâu vào phân tích những yếu tố phi định lượng khác nhưng lại ảnh hưởng rất lớn đến những kết quả tính toán nêu trên. - Những yếu tố cần phải tính đến khi phân tích và tính giá CP của một công ty bao gồm: Độ tin cậy của số liệu. Mức độ rủi ro trong hoạt động của công ty bao gồm cả những yếu tố như tình hình thị trường và triển vọng của công ty (điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thời hạn hoạt động cuả công ty, hệ số chiết khấu trong công thức tính DCF); Những yếu tố liên quan đến tài sản vô hình của công ty như trình độ quản lý của ban giám đốc, uy tín sản phẩm, nhãn hiệu thương mại, chất lượng sản phẩm được thể hiện theo các tiêu chuẩn ISO... 4. Một số trường hợp khác a. Tính giá cổ phiếu tại thời điểm chốt - Theo nguyên tắc của Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM, giá tham chiếu của những ngày chốt trả cổ tức hoặc phát hành cổ phiếu mới một mã chứng khoán sẽ được điều chỉnh sao cho thị giá đóng cửa ngày hôm trước sẽ bằng thị giá tham chiếu của ngày hôm sau. Công thức cụ thể là: Q1*P1 = Q2*P2 Trong đó : Q1: Khối lượng cổ phiếu vào ngày trước ngày chốt. P1: Giá đóng cửa cổ phiếu vào ngày trước ngày chốt. Q2: Khối lượng cổ phiếu đã được điều chỉnh tăng, tương ứng với số cổ phiếu phát hành thêm hoặc lượng trả cổ tức. P2: Giá tham chiếu điều chỉnh của cổ phiếu vào ngày chốt. - Khi đó giá tham chiếu của mã chứng khoán vào ngày giao dịch không hưởng quyền sẽ được tính theo công thức: P2 = Q1*P1/Q2 Ví dụ: Áp dụng cho cổ phiếu STB, trả cổ tức vào ngày 22/7 theo tỷ lệ 15%. Có nghĩa là cổ đông sở hữu 100 cổ phiếu cũ sẽ được tặng thêm 15 cổ phiếu mới. Như vậy, giá tham chiếu của STB trong ngày giao dịch không hưởng quyền là: Q1: Khối lượng cổ phiếu STB vào cuối phiên 22/7. P1: Giá đóng cửa STB phiên 22/7, bằng 28.000 đồng một cổ phiếu. Q2: Khối lượng cổ phiếu STB vào 23/7 (đã chia cổ tức bằng Cổ phiếu). P2: Giá tham chiếu điều chỉnh của STB vào 23/07. Ta có: Q2= Q1*(1+15/100)= Q1*1,15. Khi đó giá tham chiếu của STB ngày 23/7 sẽ được tính theo công thức: P2 = Q1*P1/Q2 = Q1*P1/(Q1*1,15) = P1/1,15 = 28/1,15 = 24,35 Vậy mức giá tham chiếu đúng của ngày 23/7 sẽ là 24,35. Khi đó cộng trừ 3% của giá tham chiếu điều chỉnh, ta sẽ có được mức giá trần, sàn của ngày 23/7 là 25 và 23,7. 18
  19. Như vậy việc chia cổ phiếu thưởng hay phát hành cổ phiếu thực tế chỉ làm tăng lượng cổ phiếu mà nhà đầu tư sở hữu chứ không làm thay đổi giá trị của số cổ phiếu đó. Nói nôm na, nếu nhà đầu tư đầu tư 2 đồng và mua được 1 cổ phiếu thì sau khi chia, họ sẽ có 2 cổ phiếu nhưng giá mỗi cổ phiếu chỉ còn là 1 đồng. b. Cách tính lại giá cổ phiếu khi công ty phát hành thêm Giá tham chiếu của cổ phiểu sẽ được điều chỉnh khi xảy ra một trong các sự kiện sau: - Công ty phát hành thêm quyền mua cổ phiếu - Công ty chi trả cổ tức bằng tiền mặt - Công ty chi trả cổ tức bằng cổ phiếu - Công ty chia cổ phiếu thưởng - Công ty chia thưởng bằng tiền mặt * Công thức tổng quát để tính giá tham chiếu trong những ngày đặc biệt: PR t-1 + (I1 x Pr1 ) + (I2 x Pr2 ) + (I3 x Pr3 ) –TTHcp- Divcp- TTHt -Divt Ptc = ---------------------------------------------------------------------------------------- {1+ I1 + I2 + I3} Trong đó : Ptc: : Giá tham chiếu của ngày không hưởng quyền PR t-1: : là giá chứng khoán phiên trước phiên giao dịch không hưởng quyền I1 : Tỷ lệ vốn tăng theo phát hành quyền mua cổ phiếu I2 : Tỷ lệ vốn tăng do chia thưởng bằng cổ phiếu I3: Tỷ lệ vốn tăng do chi trả cổ tức bằng cổ phiếu TTHcp: Giá trị thưởng bằng cổ phiếu Divcp : Giá trị cổ tức bằng cổ phiếu TTHt: Giá trị tiền thưởng bằng tiền Divt : Giá trị cổ tức bằng tiền Pr1 : Giá cổ phiếu bán cho người có quyền mua cổ phiếu Pr2 : Giá cổ phiếu tính cho người được thưởng bằng cổ phiếu Pr3: Giá cổ phiếu tính cho người được nhận cổ tức bằng cổ phiếu Trong thực tế, chúng ta có thể dùng công thức tổng quát này để tính toán cho tất cả các trường hợp. Đối với những nhân tố không xảy ra ta để giá trị bằng 0. * Giá tham chiếu của cổ phiếu trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn Trong trường hợp này giá tham chiếu của cổ phiếu ngày không hưởng quyền mua cổ phiếu mới (Ptc) được tính theo công thức: PR t-1 + (I x PR ) Ptc = ------------------------ 1+ I Trong đó : Ptc : là giá tham chiếu cổ phiếu trong ngày giao dịch không hưởng quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành mới để tăng vốn, đây là giá cần xác định 19
  20. PR t-1: là giá chứng khoán phiên trước phiên giao dịch không hưởng quyền. I : là tỷ lệ vốn tăng PR : là giá cổ phiếu sẽ bán cho người nắm giữ quyền mua cổ phiếu trong đợt phát hành mới. Ví dụ: Giả sử ta muốn tính giá tham chiếu của cổ phiếu Hapaco (HAP) vào ngày không hưởng quyền mua cổ phiếu mới trong đợt phát hành thêm cổ phiếu lần đầu để huy động vốn đầu tư xây dựng Nhà máy giấy Craft. Thông tin chúng ta có được như sau: Tổng vốn huy động mới là 20 tỷ đồng (tổng vốn Hapaco trước lúc phát hành quyền mua cổ phiếu là 10 tỷ đồng). Tức là mỗi cổ phiếu cũ được mua thêm 2 cổ phiếu mới. Giá tham chiếu của cổ phiếu này vào phiên trước phiên giao dịch không hưởng quyền là 50.000 đồng cho mỗi cổ phiếu (PRt-1). Tỷ lệ vốn tăng là gấp 2 lần vốn hiện có (I=2). Giá cổ phiếu sẽ bán cho cổ đông là 32.000đồng/cổ phiếu (PR). 50.000+2 x 32.000 Ptc = = 38.000 (đồng) 1+2 Mục tiêu cơ bản của việc xây dựng chỉ số giá nói chung là xây dựng hệ thống chỉ tiêu phản ánh sự biến động của giá theo thời gian. Chỉ số giá cổ phiếu cũng vậy nó là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi của giá cổ phiếu theo thời gian. Ý tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng chỉ số giá là phải cố định phần lượng, loại bỏ mọi yếu tố ảnh hưởng về giá trị để khảo sát sự thay đổi của riêng giá. Có như vậy chỉ số giá mới phản ánh đúng sự biến động về giá. Mọi công thức, phương pháp không thực hiện được ý tưởng này đều sai với lý luận và chắc chắn chỉ số giá không phản ánh đúng sự biến động của giá. Để thực hiện được mục tiêu và ý tưởng trên, có 3 vấn đề cần giải quyết trong quá trình xây dựng chỉ số giá cổ phiếu, đó là: - Chọn phương pháp - Chọn rổ đại diện - Tìm biện pháp trừ khử các yếu tố về giá trị để đảm bảo chỉ số giá chỉ phản ánh sự biến động của riêng giá. Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được áp dụng. Công thức đơn giản là lấy tổng thị giá của chứng khoán chia cho số chứng khoán tham gia tính toán: Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay độ lệch chuẩn (s) của nó thấp. 5. Chọn rổ đại diện 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản