intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Tiểu luận QLNN ngạch chuyên viên: Tài phán hành chính trong quản lý hành chính Nhà nước

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:20

0
364
lượt xem
129
download

Tiểu luận QLNN ngạch chuyên viên: Tài phán hành chính trong quản lý hành chính Nhà nước

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận QLNN ngạch chuyên viên: Tài phán hành chính trong quản lý hành chính Nhà nước được thực hiện nhằm đưa ra một tình huống để minh hoạ cho nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước Việt nam, phân biệt hành chính điều hành và hành chính tài phán để làm rõ công việc của hành chính Nhà nước.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận QLNN ngạch chuyên viên: Tài phán hành chính trong quản lý hành chính Nhà nước

  1. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU............................1 I. TÌNH HUỐNG ........................2  1. Hoàn cảnh ra đời của tình huống:                                                                                               ...........................................................................................      2  2. Diễn biến của tình huống:                                                                                                          ......................................................................................................     3 II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG:............8  1. Phân tích xử lý tình huống:                                                                                                          ......................................................................................................      8  2. Cơ sở lý luận:                                                                                                                              .........................................................................................................................     9 III. NHỮNG KIẾN NGHỊ.................16 KẾT LUẬN.............................18 LỜI MỞ ĐẦU Hệ thống hành chính nhà nước là tổng thể các cơ  cấu tổ chức và định chế  nhà nước có chức năng thực thi quyền hành pháp, quản lý công việc hàng ngày  của nhà nước. Nó được tạo thành bởi một hệ thống các pháp nhân có quyền lập   quy, có thẩm quyền ra những quyết định hành chính và quản lý điều hành, tổ  chức, kiểm tra các tổ chức và các hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước  và của công dân. Xét về nội dung công việc của hành chính nhà nước, cần phân  biệt rõ hành chính điều hành và hành chính tài phán. Hành chính điều hành thực hiện chức năng quản lý hàng ngày dựa trên các  nghị quyết của Đảng, nghị  quyết của Quốc hội, có nhiệm vụ  và quyền hạn dự  đoán tình hình, ra quyết định về  mặt (kế  hoạch, chính sách cụ  thể, chủ  trương,   biện pháp, ...), tổ  chức chỉ  đạo, phối hợp, kiểm tra. Về  mặt pháp luật đó là  những văn bản dưới luật để  thực hiện chức năng quản lý. Về  mặt chính trị  là  phục tùng và phục vụ chính trị, chấp hành và thực hiện những quyết định mang 
  2. ý nghĩa chính trị  của cơ  quan có thẩm quyền. Trong việc thực hiện các chức   năng quản lý đó, hành chính điều hành phải thể  hiện, giữ  gìn, phát huy đầy đủ  bản chất của một nhà nước dân chủ, pháp quyền, tôn trọng các quyền con người  và quyền công dân đã được quy định trong pháp luật. Mọi sự vi phạm quyền con  người và quyền công dân, dưới dạng hành động thực tế, trái với pháp luật nói  chung và luật hành chính nói riêng đều xem là hành vi bất hợp pháp.  Trong tiểu luận này tôi xin được đưa ra một tình huống để  minh hoạ  cho   nguyên tắc tổ  chức và hoạt động của bộ  máy hành chính nhà nước Việt nam,  phân biệt hành chính điều hành và hành chính tài phán để làm rõ công việc của   hành chính nhà nước. Vì thời gian và trình độ  có hạn, tiểu luận này không thể  tránh khỏi những  hạn chế  và sai sót. Rất mong nhận được sự  đóng góp  và nhận xét chân thành  quý báu của các Thầy Cô, các chuyên gia và các bạn học viên, để tôi hoàn thiện  hơn tiểu luận này. I. TÌNH HUỐNG  1. Hoàn cảnh ra đời của tình huống: Xuất phát từ nguyện vọng chung là muốn có điện sinh hoạt, ngày 17 tháng  12 năm 1997 các hộ nông dân thuộc xã Đa Lợi và xã An Nĩnh – huyện Chí Linh –  tỉnh Hải Dương đã thống nhất thành lập Ban điện và cử 5 người có trách nhiệm   giao dịch, liên hệ với các cơ quan chức năng và ngành điện lực thuộc khu vực nói  trên. Trong ban đại diện có ông Trần Văn Quân làm tổ trưởng và bà Nguyễn Thị  Hạnh làm thủ quỹ, đều trú tại xã An Nĩnh, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau khi ban đại diện được thành lập, các xã đã họp và các hộ  dân đã tự  nguyện đóng góp mỗi hộ  200.000 đồng để  Ban điện có kinh phí sử  dụng giao   dịch, liên hệ  với các cơ  quan chức năng làm đường dây tải điện sinh hoạt cho  các hộ dân. Từ cuối năm 1997 đến năm 1999, các xã nói trên đã thu được số tiền  
  3. đóng góp tự  nguyện của các hộ  dân là 42.800.000đồng. Các hộ  dân đã nhất trí   giao số tiền này cho Ban điện quản lý, sử dụng số tiền trên cho các chi phí trong  các quan hệ giao dịch, liên hệ với các cơ quan chức năng để sớm có điện cho hộ  dân sử dụng; nếu không thực hiện được thì Ban điện phải hoàn trả 100% số tiền   các hộ dân đã đóng góp. Thực hiện cam kết nói trên, Ban điện làm đơn, tờ trình và đã giao dịch, làm   việc với các cơ quan chức năng ở địa phương và ngành điện Trung ương để xin   xây dựng đường dây tải điện. Do vậy đến dịp tết năm 1999, đường  dây điện đã  được xây dựng xong, các hộ dân ở hai xã nói trên đã có điện thắp sáng, đáp ứng   nguyện vọng của các hộ dân. 2. Diễn biến của tình huống: Đến năm 2000, do khiếu nại của một số  người  ở  hai xã nói trên về  việc   Ban điện sử  dụng số  tiền đóng góp của các hộ  trong hai xã không đúng nguyên   tắc, ngày 05­12­2000, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện Chí Linh  ra Quyết định  số 1068/QĐ ­ CT chuyển hồ sơ vụ khiếu kiện đến Công an huyện Chí Linh để  tiến hành điều tra theo pháp luật. Ngày 12­11­2001, Công An huyện Chí Linh có  Báo   cáo   kết   thúc   điều   tra   số   311   với   nội   dung:   căn   cứ   vào   Quyết   định   số  94/1998/BTC ngày 30 tháng 06 năm 1998 của Bộ Tài Chính quy định về chế độ  công tác phí, Công an huyện Chí Linh chỉ chấp nhận các khoản chi sau đây theo   chế độ công tác phí hiện hành đối với cán bộ, viên chức được cử đi công tác: ­ Tiền đi lại ngủ nghỉ của hai ông Quân và bà Hạnh là 10.700.000đồng . ­ Tiền mở đường để lắp đặt đường dây nhánh là: 12.350.000 đồng   Tổng cộng số tiền hai khoản trên là: 23.050.000 đồng. Số  tiền còn lại là 19.750.000 đồng, Công An huyện Chí Linh không chấp  nhận vì không có đủ chứng từ hợp lệ theo quy định của Bộ tài Chính.   Ngày 22 tháng 8 năm 2001, Công An Huyện Chí linh kết hợp với Uỷ  Ban   nhân dân huyện Chí Linh tổ chức cuộc họp với các hộ  dân thuộc hai xã Đa Lợi 
  4. và An Nĩnh. Tại cuộc họp này, đại diện của 210/214 hộ tham gia họp biểu quyết   đồng ý không thu hồi khoản tiền 19.750.000 đồng giao cho ông Quân và bà Hạnh  sử  dụng để  đi liên hệ  xây dựng đường dây tải điện, đại diện của 4/214 số  hộ  tham gia cuộc họp đề nghị thu hồi và xử lý theo pháp luật. Ngày 27 tháng 08 năm 2001, Công An huyện Chí Linh tiếp tục tổ chức cuộc  họp với các hộ dân thuộc hai xã nêu trên. Cũng tại cuộc họp này, 208/214 hộ dân   tham gia biểu quyết không thu hồi số tiền đã giao cho ông Quân và bà Hạnh sử  dụng để liên hệ xây dựng đường dây tải điện; đại diện của 2/214 hộ không có ý   kiến, đại diện của 4/214 hộ đồng ý thu hồi để xây dựng quỹ của xã. Căn cứ kết quả điều tra và ý kiến của nhân dân hai xã, Công an huyện Chí   Linh kết luận chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự  đối với ông   Quân và bà Hạnh nên đã chuyển hồ sơ đến Uỷ ban Nhân dân huyện Chí Linh để  giải quyết theo thẩm quyền. Ngày 02­01­2002, Uỷ  ban nhân dân huyện Chí linh đã ra Quyết định số  01/2002/QĐ­UB thu hồi sung vào ngân sách huyện Chí Linh để đầu tư xây dựng   một   số   công   trình   tập   thể   theo   đề   nghị   của   hai   xã   với   tổng   số   tiền   là  19.750.000đồng (là số tiền đóng góp xây dựng đường dây điện của nhân dân hai  xa thuộc huyện Chí Linh) mà hai ông bà Quân và Hạnh bị kết luận là chi không  có chứng từ theo quy định của Bộ Tài chính. Sau khi nhận được quyết định trên của Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh   ngày 10­01­2002 và ngày 24­01­2002 ông Quân và bà Hạnh đã làm đơn khiếu  nại. Nhưng hết thời gian giải quyết khiếu nại lần đầu mà khiếu nại không được  giải   quyết,   nên   vào   ngày   15   và   16­05­2002   đã   khởi   kiện   Quyết   định     số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002 của Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh tại Toà  án nhân dân huyện Chí Linh và Toà án nhân dân huyện Chí Linh đã thụ lý vụ án.
  5. Ngày 22­08­2002, Toà án nhân dân huyện Chí Linh đã ra Quyết định số  02/QĐ­HC đình chỉ việc giải quyết vụ án vì không thuộc thẩm quyền giải quyết  của Toà án nhân dân.  Ông Quân và bà Hạnh kháng cáo quyết định đình chỉ nói trên. Tại Quyết định phúc thẩm số  01/QĐ­PT­HC ngày 22­08­2002 Toà án nhân  dân tỉnh Hải Dương đã huỷ Quyết định sơ thẩm số 02/QĐ­HC ngày 22­08­2002  của Toà án nhân dân huyện Chí Linh và chuyển hồ sơ vụ án về Toà án nhân dân  huyện Chí Linh để  giải quyết lại với lý do: Toà án cấp sơ  thẩm đã không xác  định tư  cách tham gia tố  tụng của đương sự  ...; lý do để  ra quyết định đình chỉ  việc giải quyết không rõ ràng;  việc thu thập chứng cứ không đúng nguyên tắc... Ngày 28­11­2002, Tào án nhân dân huyện Chí Linh ra Quyết định số 03/QĐ­ ĐC­HC đình chỉ  việc giải quyết vụ  án vì Quyết định số  01//2002/QĐ­HC ngày  02­01­2002 không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân.  Ông Quân và bà Hạnh Kháng cáo. Tại Quyết định phúc thẩm số  01/QĐ­PT­HC ngày 02­01­2003 Toà án nhân  dân tỉnh Hải Dương giữ  lại quyết định sơ  thẩm số  03/QĐ­ĐC­HC nagỳ  28­11­ 2002 của Toà án nhân dân huyện Chí Linh về  phần đình chỉ  việc giải quyết vụ  án hành chính với lý do: “Quyết định số  01/2002/QĐ­UB của Uỷ  ban nhân dân  huyện Chí Linh bị  khởi kiện không phải là loại quyết định thuộc thẩm quyền  giải quyết của Toà án”. Ngoài ra, tại quyết định số  01/QĐ­PT­HC ngày 02­01­ 2003 Toà án nhân dân Tỉnh Hải Dương còn sửa lại quyết định của Toà án cấp sơ  thẩm về án phí đối với Ông Quân và bà Hạnh. Tại Quyết định số  03/KN­AHC ngày 30­06­2003, Viện trưởng Viện kiểm   sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định phúc thẩm số 01/QĐ­PT­HC ngày  02­01­2003 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương và đề nghị Toà Hành chính toà   án nhân dân tối cao xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm  theo hướng huỷ  Quyết   định sơ thẩm số 03/QĐ­ĐC­HC ngày 28­11­2002 của Toà án nhân dân huyện Chí 
  6. Linh, Quyết định phúc thẩm số 01/QĐ­PT­HC ngày 02­01­2003 của Toà án nhân  dân tỉnh Hải Dương, chuyển hồ sơ vụ kiện về cấp sơ thẩm xét xử  từ  đầu theo  thủ tục chung” với các lý do chính sau:  Quan hệ  tài chính giữa nhân dân hai xã trong việc liên hệ  xây dựng đường  dây điện với Ban điện là quan hệ  dân sự; trường hợp nhân dân tự  nguyện đóng  góp để liên hệ làm đường điện sinh hoạt của nhân dân hai xã Đa Lợi và An Lĩnh   là việc làm tự nguyện của dân, các hộ không yêu cầu Ông Quân và bà Hạnh phải   nộp lại số  tiền đã chi phí. Do vậy,  ủa ban nhân dân căn cứ  vào Nghị  định số  24/1999/NĐ­CP   ngày   06­04­1999   của   Chính   Phủ   để   ra   Quyết   định   số  01/2002/QĐ­UB nagỳ  02­01­2002 để  thu hồi vào ngân sách huyện khoản tiền  19.750.000đồng mà Ông Quân và bà Hạnh chi không có hoá đơn chứng từ  là  không đúng pháp luật, cần xem xét huỷ quyết định trên. Quyết   định   số   01/2002/QĐ­UB   ngày   02­01­2002   của   Uỷ   ban   nhân   dân   huyện Chí Linh là thu hồi tài sản. Tuy về từ ngữ trong quyết định hành chính và   điều luật có khác nhau nhưng về  nội dung của việc thu hồi sung ngân sách   huyện là giống nhau. Vì chỉ có tịch thu tài sản mới sung công quỹ. Do vậy quyết   định của Uỷ ban nhân dân về thu hồi số tiền 19.750.000đồng là mà Ông Quân và  bà Hạnh chi phí là quyết định hành chính thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân  theo quy định tại (khoản 7 Điều 11 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành  chính). Toà án nhân dân Tỉnh Hải Dương  ra Quyết định phúc thẩm số  01/ QĐ­ PT­HC ngày 02­01­2003 giữ  nguyên quyết định sơ  thẩm trên vì cả  hai cấp đều  cho rằng quyết định hành chính số 01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002 của Uỷ ban   nhân dân huyện không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân là không đúng   pháp luật. Tại quyết định số 01/GĐT­HC ngày 06­08­2003 Hội đồng xét xử giám đốc   thẩm của Toà hành chính tối cao đã quyết định: Bác kháng nghị  số 03/KN­AHC   ngày 30­06­2003 của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và giữ nguyên 
  7. Quyết  định hành chính phúc thẩm số  01/QĐ­PT­HC ngày 02­01­2003 của  án  nhân dân tỉnh Hải Dương. Tại Quyết định số  09/KH­AHC ngày 25­11­20003 Viện trưởng Viện kiểm   sát nhân dân tối cao đã kháng nghị Quyết định số 01/QĐ­PT­HC ngaỳ 06­08­2003   của Hội đồng xét xử  Toà án nhân dân tối cao và đề  nghị  Hội đồng thẩm phán   Toà án nhân dân tối cao xét xử huỷ các quyết định của cấp xét xử  cơ  thẩm, xét   xử phúc thẩm và quyết định giám đốc thẩm nêu trên của Hội đồng xét xử Toà án  nhân dân tối cao để chuyển hồ sơ vụ án về cấp sơ  thẩm để  xét xử  lại theo thủ  tục chung với các lý do chính như sau: Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh áp dụng Nghị  định số  24/1999/NĐ­CP  ngày 16­04­1999 của Chính Phủ  để  ra Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­ 02­2002 để thu hồi 19.750.000 đồng sung vào ngân sách của huyện Chí Linh mà  Ông Quân và bà Hạnh đã chi không đúng pháp luật và can thiệp quá sâu vào vào   quan hệ dân sự giữa Ban điện và các hộ dân. Xét về  thẩm quyền: Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002 của  Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh là thu hồi tài sản. Tuy về  từ  ngữ  dùng trong  quyết định hành chính trên đều có và điều luật có khác nhau nhưng về nội dung   của việc thu hồi lại sung ngân sách huyện là tịch thu tài sản. Vì trong thực tế có  tivhj thu tài sản mới có sung công quỹ, còn thu hồi tài sản thì phải trả cho người   có quyền sở  hữu. Trong trường hợp vụ  việc này, Uỷ  ban nhân dân Chí Linh   không đầu tư  bằng nguồn ngân sách cho nhân dân liên hệ  xin đường điện, mà  nhân dân tự  nguyện đóng góp nên. Do đó, chính các hộ  dân mới là người định   đoạt số tiền mà họ đã giao cho Ban điện chứ không phải Uỷ ban nhân dân huyện   Chí Linh. Vậy Quyết định số 01/2002/QĐ­UB ngày 02­02­2002 của Uỷ ban nhân  dân huyện Chí Linh thực chất là quyết định tịch thu tài sản của ông Quân và bà   Hạnh  có   được   từ   việc   thảo  thuận  của   các   hộ   dân.   Do  vậy,   Quyết  định   số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­02­2002 của Uỷ ban nhân dân huyện Chí Linh là quyết 
  8. định hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy  định tại  khoản 7 điều 11, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tại quyết định số 02/2004/HĐTP­HC ngày 27­03­2004 của Hội đồng xét xử  giám đốc thẩm của Toà án nhân dân tối cao đã quyết định: bác kháng nghị  số  09/KN­AHC của Viện trưởng Viện liểm sát nhân dân tối cao và giữ  nguyên  quyết định giám đốc thẩm số 01/GĐT­HC ngày 06­08­2003 của Toà Hành chính. II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG: 1. Phân tích xử lý tình huống: Theo Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002 của Uỷ  ban nhân  dân huyện Chí Linh là quyết định hành chính của cơ  quan nhà nước có thẩm   quyền. Tuy nhiên, xét về hình thức (tiêu đề) của Quyết định số 01/2002/QĐ­UB   ngày 02­01­2002 của Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh thì đây là quyết định về  việc thu hồi tiền đóng góp làm đường điện cho hai xã Đa Lợi và An Nĩnh chi sai   mục đích sung vào ngân sách huyện Chí Linh” Còn nội dung của quyết định là  “thu hồi sung vào ngân sách huyện khoản tiền mà Ông Quân và bà Hạnh chi sai  mục đích không có chứng từ hợp pháp (từ nguồn đóng góp xây dựng đường điện   của nhân dân xã Đa Lợi và xa An Nĩnh) là 19.750.000 đồng để đầu tư xây dựng   một số công trình phúc lợi tập thể theo đề nghị của hai xã nói trên. Như vậy xét   về cả hình thức và nội dung thì Quyết định số 01/2002/QĐ­UB ngày 02­02­2002  của Uỷ ban nhân dân huyện Chí Linh không phải quyết định tịch thu tài sản (của   ông Quân và bà Hạnh) nên việc khiếu kiện không thuộc thẩm  quyền giải quyết   của Toà án bằng vụ  án hành chính. Số  tiền trên không phải là tài sản riêng của  Ông Quân và bà Hạnh   mà là tiền của nhân dân hai xã đóng góp mà có và tự  nguyện  giao cho Ban điện để  liên hệ làm đường điện cho hai xã  nói trên. Ông   Quân và bà Hạnh chỉ được giao quản lý, sử  dụng số  tiền tiền này. Vì vậy, nếu   người có thẩm  quyền đã có đủ  căn cứ  để  xác định Ông Quân và bà Hạnh chi  tiêu số tiền trên không đủ chứng từ hợp pháp thì có quyền buộc các ông này nộp 
  9. lại (thu hồi lại), số tiền trên. Trong trường hợp này, Uỷ ban nhân dân huyện Chí   Linh đã quyết định thu hồi lại số  tiền 19.750.000 đồng, mà Uỷ  ban nhân dân  huyện cho rằng Ông Quân và bà Hạnh chi không đủ  chứng từ  hợp pháp, sung  vào ngân sách huyện để đầu tư xây dựng một số công trình phúc lợi tập thể theo   yêu câud của hai xã nói trên. Vì vậy không thể  đồng nhất khái niệm thu hồi tài  sản với khái niệm tịch thu tài sản đối với số tiền nói trên với lý do “thu hồi sung   vào ngân sách huyện” có nghĩa là tịch thu tài sản. Toà án nhân dân huyện Chí Linh (tại quyết định hành chính sơ  thẩm số  03/QĐ­ĐC­HC ngày 28­11­2002); Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương (tại quyết  định hành chính phúc thẩm  số  01/QĐ­PT­HC  ngày 02­01­2003)  và Toà Hành  chính Toà án nhân dân tối cao (tại Quyết định số  01/GĐT­HC ngày 06­08­2003)   đã căn cứ vào điểm g, khoản 1 Điều 41 Pháp lênh Thủ tục giải quyết các vụ án  để  ra quyết định đình chỉ  việc giải quyết vụ  án với lý do việc khiếu kiện của   Ông Quân và bà Hạnh đối với Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002   Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà   bằng vụ án hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật. Như  vậy, Ông Quân và bà Hạnh chỉ  là những người được giao quản lý và  sử dụng tiền. Do đó nếu người có thẩm quyền đã có đủ căn cứ để xác định Ông   Quân và Bà Hạnh chi tiêu số  tiền này mà không đủ  chứng từ  hợp pháp thì có   quyền buộc ông Quân và bà Hạnh nộp lại số tiền trên. Việc Toà Hành chính Toà án nhân dân tối cao đã ra quyết định số  01/GĐT­ HC ngày 06­08­2003 đình chỉ  việc giải quyết vụ  án với lý do việc khiếu kiện   của Ông Quân và bà Hạnh không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bằng  vụ án hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật. 2. Cơ sở lý luận:  Trước sự  phát triển của lực lượng sản xuất, của quá trình nhận thức tự  nhiên của con người dẫn đến sự  phân công lao động xã hội theo hướng chuyên 
  10. môn hoá. Xã hội phát triển, mâu thuẫn xã hội nảy sinh đến mức không thể  giải   quyết được, nhà nước ra đời là kết quả  của sự  phát triển nội tại xã hội. Cùng  với sự ra đời của nhà nước là sự  ra đời của pháp luật, pháp luật ra đời để  điều  hoà các mâu thuẫn giai cấp và là công cụ  điều hành của giai cấp thống trị  đối   với xã hội. Nhà nước, xét về mặt bản chất, là tổ chức quyền lực chính trị, có tính giai   cấp, thực hiện chức năng giai cấp. Thông qua nhà nước, ý chí của giai cấp thống  trị được hợp pháp hoá thành ý chí nhà nước. Thông qua nhà nước, giai cấp hoặc  liên minh giai cấp thực hiện sự thống trị xã hội trên các mặt kinh tế, chính trị, tư  tưởng.Bản chất giai cấp của nhà nước cũng được thể  hiện thông qua các quan  hệ đối ngoại. Bản chất nhà nước Xã hội chủ  nghĩa Việt nam là biểu hiện cụ  thể  bản   chất nhà nước xã hội chủ  nghĩa. Thể  hiện tính giai cấp, tính dân tộc, tính nhân   dân và tính thời đại: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ  nghĩa Việt nam  mang tính   giai cấp công nhân dựa trên nền tảng liên minh giữa giai cấp nông dân với giai  cấp công nhân và đội ngũ trí thức, được dẫn dắt bởi chủ  nghĩa Mác­ Lênin tư  tưởng Hồ Chí Minh. Nhà nước Việt Nam  dưới sự lãnh đạo của Đảng công sản   Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, tổ  chức phát huy đầy đủ  quyền làm chủ  trong mọi lĩnh vực cuộc sống. Trong mọi hoạt động của nhà  nước đều phấn đấu nhằm đạt mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng   dân chủ và văn minh. Hình thức nhà nước Cộng hoà xã hội chủ  nghĩa Việt nam  là nhà nước đơn nhất. Chế  độ  chính trị  của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ  nghĩa Việt nam phản ánh bản chất dân chủ của nhà nước, thể hiện ở quyền làm  chủ của nhân dân trong việc thiết lập lên các cơ quan quyền lực nhà nước, tham  gia giải quyết các công việc của nhà nước, xã hội theo phương châm: “dân biết,  dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Mục đích cuối cùng của Nhà nước là phục vụ  cho lợi ích nhân dân, của dân tộc, của quốc gia.
  11. Bộ  máy nhà nước ta là hệ  thống, thống nhất các cơ  quan quyền lực nhà  nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những nguyên tắc chung thống nhất,   nhằm thực hiện chức năng, niệm vụ  chung của nhà nước. Bộ  máy nhà nước   Cộng hoà xã hội chủ  nghĩa Việt nam được tổ  chức theo nguyên tắc tập trung,  quyền lực nhà nước là thống nhất có sự  phân công, phân nhiệm, phối hợp giữa   các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm  tránh sự chồng  chéo, mâu thuẫn, lẫn lộn chức năng giữa chúng. Pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự ) có  tính bắt buộc chung và thực hiện lâu dài, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do  nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận), thể hiện bởi các biện pháp tổ  chức, giáo  dục, thuyết phục, cưỡng chế  bằng bộ  máy nhà nước. Pháp luật là công cụ  để  thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ  sở  pháp lý cho đời sống xã hội có nhà  nước. Ở nước ta hiện nay, pháp luật có vai trò hết sức quan trọng đối với kinh   tế, xã hội, hệ  thống chính trị, đạo đức và tư  tưởng... phù hợp với kinh nghiệm   lịch sử và chủ nghĩa Mác – Lê nin và quan điểm của Đảng ta. Nguồn quan trọng   và cơ  bản nhất của pháp luật nước ta hiện nay là các văn bản quy phạm pháp   luật. Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản   lý công việc của Nhà nước. Trong quản lý nhà nước, hoạt động quản lý hành   chính là hoạt động đa dạng trung tâm, chủ yếu; vì hoạt động hành chính là hoạt  động tổ  chức và điều hành để  thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý xã  hội. Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của  nhà nước tức là hoạt động chấp hành và điều hành. Chủ thể quản lý hành chính  nhà nước là các cơ quan, cán bộ. công chức hành chính nhà nước trong hệ thống  Chính Phủ từ Trung ương đến cơ sở. Do đó quản lý nhà nước là hoạt động thực   thi quyền hành pháp của nhà nước, đó là sự  tác động có tổ  chức và điều chỉnh   bằng quyền lực pháp luật Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt 
  12. động của con người do các cơ  quan trong hệ  thống Chính phủ  từ  Trung  ương  đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước,  nhằm duy trì phát triển cao các mối quan hệ  xã hội và trật tự  pháp luật, thoả  mãn nhu cầu hợp pháp của con người trong công cuộc xây dựng và bảo vệ  tổ  quốc.    Hệ thống hành chính nhà nước là tổng thể các cơ  cấu tổ chức và định chế  nhà nước có chức năng thực thi quyền hành pháp, quản lý công việc hàng ngày  của nhà nước. Nó được tạo thành bởi  một hệ thống các pháp nhân có quyền lập   quy, có thẩm quyền ra những quyết định hành chính và quản lý điều hành, tổ  chức, kiểm tra các tổ chức và các hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước  và của công dân. Xét về nội dung công việc của hành chính nhà nước.  Hành chính điều hành thực hiện chức năng quản lý hàng ngày dựa trên các  nghị quyết của Đảng, nghị  quyết của Quốc hội, có nhiệm vụ  và quyền hạn dự  đoán tình hình, ra quyết định về mặt (kế hoạch, chính sách cụ thể,  chủ trương,   biện pháp, ...), tổ  chức chỉ  đạo, phối hợp, kiểm tra. Về  mặt pháp luật, đó là  những văn bản dưới luật để  thực hiện chức năng quản lý. Về  mặt chính trị  là  phục tùng và phục vụ chính trị, chấp hành và thực hiện những quyết định mang  ý nghĩa chính trị  của cơ  quan có thẩm quyền. Trong việc thực hiện các chức   năng quản lý đó, hành chính điều hành phải thể  hiện, giữ  gìn, phát huy đầy đủ  bản chất của một nhà nước dân chủ, pháp quyền, tôn trọng các quyền con người  và quyền công dân đã được quy định trong pháp luật. Mọi sự vi phạm quyền con  người và quyền công dân, dưới dạng hành động thực tế, trái với pháp luật nói  chung và luật hành chính nói riêng đều xem là hành vi bất hợp pháp. Pháp luật công nói chung và luật hành chính nói riêng mang tính một chiều,   không bình đẳng giữa hai bên: một bên là cơ quan nhà nước hay chức trách nắm  công quyền và một bên là công dân, có quyền và nghĩa vụ  được ghi trong Hiến   Pháp và pháp luật, phải tuân thủ pháp luật và chịu sự  quản lý của cơ  quan hành 
  13. chính nhà nước. Về  mặt pháp lý, quan hệ  giữa cơ  quan nhà nước với công dân   cũng như  giữa cơ  quan nhà nước cấp trên với cơ  quan nhà nước cấp dưới là  quan hệ không bình đẳng, là quan hệ quyền uy, phụ thuộc, phục tùng. Mặt khác,   cơ quan hành chính nhà nước sinh ra để phục vụ dân, chịu sự giám sát của nhân  dân. Nhiệm vụ của các cơ quan hành chính là phục vụ nhân dân một cách vô tư,  đúng pháp luật, liên tục, hàng ngày, không cửa quyền, lạm quyền, trì trệ và tham   nhũng. Để  đảm bảo tính dân chủ  cao của nền hành chính và xét xử  kịp thời   những vi phạm pháp luật hành chính của các cơ quan, các công chức hành chính   đối với công dân, sự  ra đời của tài phán hành chính chính là một tất yếu khách   quan. Hành chính tài phán có chức năng giải quyết các khiếu kiện hành chính của  công dân đối với các quyết định và hành vi hành chính của cơ  quan hành chính   nhà nước theo trình tự tố tụng tư pháp. Hành chính tài phán cần phải có một cơ  quan chứcnăng có thẩm quyền xét xử  những hành vi vi phạm pháp luật hành  chính theo trình tự tố tụng xét xử của toà án, không phải theo kiểu xử lý nội bộ  hoặc xử lý giữa các cơ quan hành chính với nhau. Tài phán hành chính  ở  nước ta hiện nay có những đặc điểm của tài phán  hành chính nói chung vừa phản ánh những nét đặc thù phù hợp với bản chất và  đặc tính của nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt nam: ­ Tài phán hành chính là tổ chức hoạt động xét xử các tranh chấp hành chính  phát sinh khi có đơn khởi kiện vụ  án hành chính giữa cơ  quan công quyền và   công dân, tổ chức. ­ Hoạt động tài phán hành chính phải tuân theo trình tự thủ tục do pháp luật   tố tụng hành chính quy định chứ không phải tuân theo thủ tục hành chính.   ­ Cơ  quan tài phán hành chính  ở  nước ta là Toà hành chính thuộc hệ  thống  tào án nhân dân.
  14. ­ Đối tượng của tài phán hành chính ở nước ta là các quyết định hành chính   bị  công dân khởi kiện sau khi được cơ  quan hành chính có thẩm   quyền giải   quyết theo thủ tục hành chính nhưng không thoả mãn yêu cầu của họ. ­ Bên bị  khởi kiện trong vụ  án hành chính luôn là cơ  quan nhà nước hoặc   cán bộ công chức nhà nước.  Thẩm quyền xét xử  hành chính của toà án: Tại Điều 11 Pháp lệnh thủ  tục   giải quyết các vụ  án hành chính được sửa đổi bổ  sung thì thẩm quyền giải   quyết các vúan hành chính như sau:  ­ Khiếu kiện quyết định xử phạt hành chính; ­ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng   biện pháp tháo dỡ nhà ở, công trình, vật liệu kiến trúc kiên cố khác; ­ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc áp dụng   hoặc thi hành biện pháp xử lý hành chính với một trong các hình thức: Giáo dục  tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng; cơ sở giáo dục ... ­ Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ công chức giữ chức   vụ từ vụ trưởng và tương đương trở xuống. ­ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản   lý đất đai.  ­ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc cấp giấy  phép về xây dựng cơ bản, sản xuất kinh doanh. ­ Khiếu kiện hành chính, hành vi hành chính trong việc trưng dụng, trưng  thu, trưng mua, tịch thu tài sản; ­ Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong việc thu phí,   lệ phí;  ­ Các khiếu kiện khác theo quy định pháp luật. Như  vậy,  áp  dụng vào  tình huống nêu trên ta thấy: Quyết  định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002 của Uỷ ban nhân dân huyện Chí Linh là quyết 
  15. định hành chính của cơ  quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, xét về  hình  thức (tiêu đề) của Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002 của Uỷ  ban  nhân dân huyện Chí Linh thì đây là quyết định về việc thu hồi tiền đóng góp làm  đường điện cho hai xã Đa Lợi và An Nĩnh chi sai mục đích sung vào ngân sách  huyện Chí Linh” Còn nội dung của quýêt định là “thu hồi sung vào ngân sách  huyện khoản tiền mà Ông Quân và bà Hạnh chi sai mục đích không có chứng từ  hợp pháp (từ  nguồn đóng góp xây dựng đường điện của nhân dân xã Đa Lợi và  xa An Nĩnh) là 19.750.000 đồng để  đầu tư  xây dựng một số  công trình phúc lợi  tập thể  theo đề  nghị  của hai xã nói trên. Như  vậy xét về  cả  hình thức và nội   dung thì Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­02­2002 của Uỷ  ban nhân dân  huyện Chí Linh không phải quyết  định tịch thu tài sản (của ông Quân và bà  Hạnh) nên việc khiếu kiện không thuộc thẩm   quyền giải quyết của Toà án  bằng vụ án hành chính. Số tiền trên không phải là tài sản riêng của Ông Quân và  bà Hạnh  mà là tiền của nhân dân hai xã đóng góp mà có và tự nguyện  giao cho   Ban điện để liên hệ làm đường điện cho hai xã  nói trên. Ông Quân và bà Hạnh  chỉ  được giao quản lý, sử  dụng số  tiền tiền này. Vì vậy, nếu người có thẩm  quyền đã có đủ  căn cứ  để  xác định Ông Quân và bà Hạnh chi tiêu số  tiền trên   không đủ chứng từ hợp pháp thì có quyền buộc các ông này nộp lại (thu hồi lại),  số  tiền trên. Trong trường hợp này, Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh đã quyết   định thu hồi lại số  tiền 19.750.000 đồng, mà Uỷ  ban nhân dân huyện cho rằng   Ông Quân và bà Hạnh chi không đủ  chứng từ  hợp pháp, sung vào ngân sách  huyện để đầu tư xây dựng một số công trình phúc lợi tập thể theo yêu câud của   hai xã nói trên. Vì vậy không thể  đồng nhất khái niệm thu hồi tài sản với khái  niệm tịch thu tài sản đối với số  tiền nói trên với lý do “thu hồi sung vào ngân  sách huyện” có nghĩa là tịch thu tài sản. Toà án nhân dân huyện Chí Linh (tại quyết định hành chính sơ  thẩm số  03/QĐ­ĐC­HC ngày 28­11­2002); Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương (tại quyết 
  16. định hành chính phúc thẩm  số  01/QĐ­PT­HC  ngày 02­01­2003)  và Toà Hành  chính Toà án nhân dân tối cao (tại Quyết định số  01/GĐT­HC ngày 06­08­2003)   đã căn cứ vào điểm g, khoản 1 Điều 41 Pháp lênh Thủ  tục gải quyết các vụ  án   để  ra quyết định đình chỉ  việc giải quyết vụ  án với lý do việc khiếu kiện của   Ông Quân và bà Hạnh đối với Quyết định số  01/2002/QĐ­UB ngày 02­01­2002   Uỷ  ban nhân dân huyện Chí Linh không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà   bằng vụ án hành chính là có căn cứ và đúng pháp luật. III. NHỮNG KIẾN NGHỊ Trong giai đoạn vừa qua cải cách hành chính đã thu được những thành công   nhất định, tạo ra những bước chuyển cơ bản hoạt động quản lý hành chính nhà  nước ở  nước ta. Tuy nhiên nền hành chính của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế  như: Chức năng nhiệm vụ quản lý của bộ  máy hành chính trong nền kinh tế thị  trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa được xác định rõ và phù hợp, hệ thống  thể chế  hành chính chưa đồng bộ, còn chồng chéo và thiếu thống nhất, tổ chức   bộ  máy con cồng kềnh, nhiều tầng nấc, phân tán, chưa thông suốt, đội ngũ cán  bộ  công chức còn nhiều điểm yếu về  phẩm chất, tinh thần trách nhiệm, năng   lực chuyên môn, kỹ năng hành chính, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân,  bộ  máy hành chính  ở  địa phương và cơ  sở  chưa thực sự  gắn bó với dân, không  nắm chắc những vấn đề  nổi cộm trên địa bàn, lúng túng, bị  động khi xử  lý các  tình huống phức tạp. Để  khắc phục những hạn chế  nêu trên, tôi xin được đưa ra một số  kiến   nghị  nhằm góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững   mạnh,   chuyên   nghiệp,   hiện   đại   hoá,   hoạt   động   có   hiệu   lực,   hiệu   quả   theo  nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa dưới sự  lãnh đạo của   Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp  ứng   yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước:
  17. 1.  Hoàn thiện hơn hệ thống thể chế hành chính, cơ chế chính sách phù hợp   với thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước hết là các thể chế về  kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính. 2.  Xoá bỏ về cơ bản các thủ tục mang tính rườm rà, quan liêu, gây phiền hà  cho  doanh  nghiệp  và  nhân   dân;  hoàn  thiện  các  thủ   tục  hành  chính  mới   theo   hướng công khai, đơn giản và thuận tiện cho dân. 3.  Xác định và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý hành  chính giữa Nhà nước giữa Trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền  địa phương. 4. Đào tạo, lựa chọn, sử dụng đội ngũ công chức có chất lượng, cơ cấu hợp  lý chuyên nghiệp, hiện đại. Cán bộ, công chức phải có phẩm chất tốt và đủ năng  lực thi hành công vụ, tận tuỵ phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ  nhân dân. 5.  Nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động tài phán hành chính để bảo vệ  hoặc phục hồi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ  quan nhà nước và tổ  chức, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước.
  18. KẾT LUẬN Nền hành chính nhà nước là bộ phận trọng yếu của hệ thống chính trị của  giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức trong xã hội. Quản lý hành  chính nhà nước là biểu hiện quan trọng và tập trung nhất của toàn bộ hoạt động  của nhà nước trong qua trình phát triển kinh tế  và đời sống xã hội. Đối tượng   quản lý hành chính nhà nước là toàn dân, hoạt động trên tất cả các lĩnh vực khác  nhau trong đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc   phòng, tinh thần, tư tưởng,... Chính vì tầm quan trọng đó đã đòi hỏi phải cải cách nền hành chính nhà   nước. Đó không chỉ là sự đòi hỏi từ bên ngoài đối với nền hành chính nhà nước   mà còn là sự đòi hỏi của chính bản thân nền hành chính. Đó cũng chính là cách   thức làm cho bộ  máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả, nhằm xây   dựng nền hành chính đáp  ứng đòi hỏi  của xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển   bền vững với các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và  văn minh”.  Chương trình cải cách tổng thể  cải cách hành chính giai đoạn 2001­2010  ban hành kèm theo Quyết định số 136/QĐ­TTG ngày 17­09­2001 của Thủ tướng   Chính Phủ đã đưa ra mục tiêu chung là: xây dựng một nền hành chính dân chủ,  
  19. trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, hoạt động có hiệu lực,   hiệu quả  theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ  nghĩa dưới sự  lãnh đạo cuả Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực  đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Theo quyết định   số  94/2006/QĐ­TTg của Thủ  tướng Chính phủ  ngày 27 tháng 4 năm 2006 phê  duyệt Kế  hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2006­2010 cũng có nội dung cải  cách như: cải cách về  thể  chế, cải cách về  tổ  chức, xây dựng và nâng cao chất  lượng đội ngũ cán bộ, công chức, cải cách tài chính công, hiện đại hoá nền hành  chính nhà nước... Tuy nhiên, dù bằng bất cứ hình thức hay phương pháp nào cũng đều nhằm   mục đích làm cho bộ  máy hành chính nhà nước hoạt động có hiệu quả, nhằm   xây dựng nền hành chính đáp  ứng đòi hỏi của xã hội và thúc đẩy xã hội phát   triển bền vững với các mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân  chủ và văn minh”.  Do phạm vi của tiểu luận rất rộng lớn và phức tạp, trình độ  nhận thức   cũng như về thời gian còn hạn chế, mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể  tránh khỏi những thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự đóng góp và nhận   xét chân thành quý báu của các Thầy Cô và các bạn học viên, tiểu luận này hoàn  thiện hơn. Cũng thông qua tiểu luận luận này, xin được bày tỏ  lòng biết  ơn chân  thành đến các Thày cô, các bộ  phận quản lý đào tạo của Học Viện Hành chính  Quốc gia cũng như của Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ  chúng tôi hoàn  thành khoá học.   
  20.   HỒ SƠ BÀN GIAO SÁCH           

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản