
GVHD: Bùi Văn Trịnh Chương 6: Quan hệ thị trường theo thời gian
Nhóm 1.6 Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƯƠNG 6:
QUAN HỆ THỊ TRƯỜNG THEO THỜI
GIAN.
Giáo viên hướng dẫn: Nhóm thự hiện 1.6
Bùi Văn Trịnh
Cần Thơ 9/2010

GVHD: Bùi Văn Trịnh Chương 6: Quan hệ thị trường theo thời gian
Nhóm 1.6 Trang 2
Chương 6
QUAN HỆ THỊ TRƯỜNG THEO THỜI GIAN
6.1 Lý do chọn đề tài:
Trong thực tế sản xuất và tiêu thụ thường không diễn ra đồng thời với nhau mà
có một khoảng cách nào đó. Nhất là đối với sản phẩm nông nghiệp.Đa số các sản
phẩm này đều thu hoạch trong khoảng thời gian ngắn nhưng lại được tiêu thụ tương
đối đều đặn trong năm. Chính điều này tạo ra tính hữu dụng về mặt thời gian thông
qua hoạt động tồn trữ. Tuy nhiên để tiến hành hoạt động tồn trữ cũng phát sinh một số
chi phí. Các chi phí này thường là chi phí trang thiết bị tồn trữ và chi phí cho hoạt
động tồn trữ. Do đó việc tiêu thụ có thể phân bố theo những lựa chọn khác nhau sao
cho hoạt động tồn trữ mang lại lợi nhuận nhiều nhất. Thật vậy, trong khi tồn trữ các
sản phẩm nông nghiệp có thể bị giảm chất lượng, thậm chí còn hao hụt về trọng
lượng do mất nước, giảm số lượng do côn trùng gây ra. Chi phí này được gọi là chi
phí dưới hình thức giá trị của sản phẩm giảm dần. Nếu tồn trữ càng lâu thì giá trị thị
trường của sản phẩm càng giảm. Chính điều này đòi hỏi chúng ta cần phải biết lựa
chọn thời điểm tiêu thụ sản phẩm thích hợp để giảm bớt chi phí nói trên. Đồng thời
định mức giá phù hợp với từng thời điểm. Chẳng hạn như trong tương lai ta có được
thông tin dự báo đúng đắn rằng giá cả sẽ tăng cao thì lúc này sản phẩm sẽ được đưa
vào dự trữ. Điều này khiến cung hiện tại giảm và giá hiện tại tăng lên, trong đó khả
năng cung ứng trong tương lai tăng và giá cả trong tương lai sẽ giảm. Các hoạt động
tích trữ sẽ tiếp tục diễn ra khi chênh lệch giữa giá tương lai và giá cả hiện tại lớn hơn
chi phí tồn trữ, vì lúc này hoạt động tích trữ có khả năng mang lại lợi nhuận. Đồng
thời để xem xét sự biến đổi của giá cả qua các thời kỳ sản xuất và từ đó tìm ra mối
quan hệ giữa các thời kỳ. Chính vì những lí do trên nên việc “Tìm hiểu thị trường
theo thời gian” là vô cùng quan trọng, giúp chúng ta xác định được mức giá phù hợp
để đảm bảo sự cân bằng giữa cung và cầu qua các thời kỳ khác nhau. Đồng thời làm
cách nào để việc tồn trữ mang lại lợi nhuận.
6.2 Mục tiêu nghiên cứu:

GVHD: Bùi Văn Trịnh Chương 6: Quan hệ thị trường theo thời gian
Nhóm 1.6 Trang 3
6.2.1 Mục tiêu chung:
Đề ra mối quan hệ chung trong thị trưởng theo thời gian.
6.2.2 Mục tiêu cụ thể:
Tìm hiểu mối quan hệ giữa chi phí tồn tại với giá.
Tìm hiểu sự biến động của giá theo thời vụ.
Tìm hiểu sự ảnh hưởng của xu hướng đến giá.
6.3 Phân tích mối quan hệ của thời gian và tồn trữ đối với giá
6.3.1 Một số mô hình về tồn trữ
6.3.1.1 Mô hình 2 giai đoạn (không xét chi phí tồn trữ):
Đặt vấn đề:
Một sản phẩm được thu hoạch vào một thời điểm nhất định nhưng lại
được tiêu thụ theo hai thời kì (I,II) khác nhau. Vấn đề đặt ra là làm sao xác định
được mức giá P1 phù hợp để đảm bảo được sự cân bằng giữa cung và cầu của hai
thời kì này.
Giải quyết vấn đề:
Để xác định được mức giá Pcb phù hợp đảm bảo sự cân bằng giữa cung
và cầu cho hai thời kì I và II, chúng ta sẽ sử dụng dạng đồ thị đặc biệt được gọi là đồ
thị ghép. Đồ thị này thể hiện cân bằng tiêu thụ sản phẩm qua 2 thời kì I và II;
Hai đồ thị này có cùng trục tung là trục đơn giá sản phẩm P (đồng/đơn vị). Trục
hoành của cả hai thời kì I và II đều thể hiện số lượng sản phẩm Q. Chiều của đồ thi I
là từ trái sang phải và thời kì II là từ phải sang trái, nghĩa là theo số lượng sản phẩm
tăng dần. Đồ thị 1 mô tả thời kì thứ I có đường cung S cố định và đường cầu là D1,
đồ thị 2 mô tả thời kì II có đường cầu là D2;
Chúng ta biết rằng toàn bộ sản phẩm để cung ứng cho thị trường qua thời kì đều
được thu hoạch vào cùng một thời điểm trong thời kì I, do đó cung sản phẩm được
thể hiện là một đường cung không co giãn có dạng là một đường thẳng S song song
với trục tung.Với đường cung S không đổi này đã cho ta một lượng sản phẩm không
đổi là Od.

GVHD: Bùi Văn Trịnh Chương 6: Quan hệ thị trường theo thời gian
Nhóm 1.6 Trang 4
P’
P1
d’
P2
c’
Hình 1. Sự cân bằng của thị trường qua 2 thời kì (chi phí tồn trữ =0)
Đường cung sản phẩm S và đường cầu D1 cắt nhau ở điểm tương ứng với mức
giá P0. Ở mức giá P0 thì toàn bộ sản phẩm Od được tiêu thụ ở thời kỳ I. Như thế sẽ
không còn sản phẩm để cung ứng cho thời kỳ II.
Để có được một số sản phẩm thặng dư cung ứng cho thời kỳ II thì phải đặt ra
mức giá P’ cao hơn P0 ở dưới thời kỳ I. Ở mức giá P’, lượng sản phẩm tiêu thụ ở thời
kỳ O là Oe còn lại một lượng sản phẩm tương ứng ở giai đoạn ed sao cho điểm e
trùng với gốc tọa độ O thì ta có đoạn Oc bằng đúng với đoạn ed. Số lượng Oc cũng
bằng khoảng cách P’c’, điều này thể hiện ý nghĩa là ở mức giá P’ thì lượng sản phẩm
còn lại chuyển sang tiêu thụ trong thời kỳ II là số lượng tương ứng với khoảng cách
P’c’. Theo cách tương tự trong có thể xác định được số lượng sản phẩm còn lại được
chuyển sang tiêu thụ ở thời kỳ II tương ứng với những mức giá khác cao hơn P0.
Đáng chú ý là ở mức giá P2 thì không có sản phẩm nào được tiêu thụ ở thời kỳ
I và toàn bộ lượng cung sản phẩm đều được tiêu thụ ở thời kỳ II. Trong hình sản
lượng Od cũng có thể được thể hiện bằng khoảng cách P2d’. Đường nối các điểm P0,
c’, d’ tạo thành đường ES (đường cung thặng dư ).
Đường ES thể hiện các mức sản lượng sản phẩm thặng dư của cung so với cầu
ở thời kỳ I tương ứng với những mức giá khác nhau. Lượng sản phẩm thặng dư này
chuyển sang tiêu thụ ở thời kỳ II. Giả định rằng chi phí tồn trữ bảo quản từ thời kỳ I
P
Q
Q
O
a
c
d
e
D1 D2
ES’
ES
P0
S
b
Thời kỳ II Thời kỳ I

GVHD: Bùi Văn Trịnh Chương 6: Quan hệ thị trường theo thời gian
Nhóm 1.6 Trang 5
sang thời kỳ II là không đáng kể. Đường ES’ được vẽ đối xứng với đường ES qua
trục giá, chính là đường cung sản phẩm có được ở thời kỳ II sau khi tổng sản lượng
sản phẩm Od được tiêu thụ một phần ở thời kỳ I ở những mức tiêu thụ khác nhau
(>P0). Giao điểm của ES’ và D2 tương ứng với mức giá P1. Đây chính là mức giá cân
bằng cho cả 2 thời kỳ. Ở mức giá P1, số lượng sản phẩm được tiêu thụ ở thời kỳ I là
Oa và số lượng sản phẩm được tiêu thụ ở thời kỳ II là Ob. Tổng số sản phẩm tiêu thụ
của 2 thời kỳ:
Oa + Ob = bằng với tổng sản lượng cung ứng Od.
Ta có: Oa + Ob = Od.
Ví dụ : Cho hàm cầu ở thời kì I Qd1=6000-2P, ở lượng cung không đổi S=5000sp
và hàm cầu ở thời kì II Qd2=2200-2P. Ta có :
Mức giá lí tưởng P0 mà tại đây sản lượng được bán hết ở thời kì I là
Qd1=S nghĩa là 6000-2p=5000 =>P0=500
Khi P0=500 thì sản lượng được bán hết ở thời kì I nên để có sản phẩm bán cho
thời kì II thí mức giá được bán phải cao hơn P0
Giả sử mức giá chọn là P’ =700 ta có sản lượng bán ở thời kì I là :
Q1 =6000-2*700=4600sp
Nhận xét cầu thời kì I giảm 400 sản phẩm.lượng sản phẩm dư này sẽ được bán ở
thời kì II.Nhưng mức giá 700 chưa là mức giá lí tưởng cho cả hai thời kì.
Chọn P2=3000 sẽ không còn sản phẩm nào được mua ở thời kì I nữa mà chuyển
qua mua ở thời kì II.
Ta có phương trình hàm cung thặng dư ES=2P-1000, đây cũng chính là đường
cung cho thời kì II tương ứng là ES’.
Ta có cầu thời kì II gặp cung thời kì II tại 2200-2P=2P-1000 =>mức giá P1=800.
Đây là mức giá làm cân bằng cung và cầu giữa hai thời kì.
=>Q2=600 ;Q1=4400=>Q1+Q2=600+4400=5000sp= QS
Một thực tế như sau :
Tình hình giá tiêu thụ cafe trong quí IV niên vụ 06/07 như sau:
Thời kỳ I (quí IV niên vụ 06/07) P0 = 1351 USD/tấn Od = 221 ngàn tấn => không còn
sản phẩm để cung ứng cho thời kỳ II. Để có được một số sản phẩm thặng dư cung
ứng cho thời kỳ II thì giá sản phẩm ở dưới thời kỳ I phải cao hơn P0.

