intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Tiểu luận Triết học số 7 - Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó vào nền kinh tế Việt Nam trước và sau mười năm đổi mới đến nay

Chia sẻ: Phuc Nguyen | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

0
99
lượt xem
28
download

Tiểu luận Triết học số 7 - Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó vào nền kinh tế Việt Nam trước và sau mười năm đổi mới đến nay

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tiểu luận cung cấp cho người học các kiến thức: Tiểu luận triết học, triết học Mac Lenin, lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó vào nền kinh tế Việt Nam trước và sau mười năm đổi mới đến nay,... Hi vọng đây sẽ là một tài liệu hữu ích dành cho các bạn sinh viên đang theo học môn dùng làm tài liệu học tập và nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo chi tiết nội dung tài liệu.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận Triết học số 7 - Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó vào nền kinh tế Việt Nam trước và sau mười năm đổi mới đến nay

  1. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  LỜI MỞ ĐẦU Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế  nhiều thành phần, vận   hành theo cơ chế  thị trường, có sự  quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội   chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, lý luận nhận thức, vấn đề cải tạo thực tiễn nền kinh   tế luôn thu hút sự quan tâm của nhiều đối tượng.      Ngày nay, triết học là một bộ  phận không thể  tách rời với sự  phát triển của  bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề  triết học về lý luận nhận thức và thực   tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho hoạt   động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội. Nếu xuất phát từ  một lập trường   triết học đúng đắn, con người có thể  có được những cách giải quyết phù hợp với   các vấn dề  do cuộc sống đặt ra. Việc chấp nhận hay không chấp nhận một lập   trường triết học nào đó sẽ không chỉ đơn thuần là sự chấp nhận một thế giới quan   nhất định, một cách lý giải nhất định về thế giới, mà còn là sự chấp nhận một cơ sở  phương pháp luận nhất định chỉ đạo cho hoạt động. Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa   Mác. Lênin đã chỉ  rõ rằng chủ  nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của   chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên  cơ sở  nền tảng triết học Mác ­ Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu   tư  tưởng tiến bộ, đề  ra những mục tiêu, phương   hướng chỉ  đạo chính xác, đúng  đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có   những khiếm khuyết không thể  tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong   cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các   nước trong khu vực và thế  giới về  mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng   chủ nghĩa xã hội và qua mười năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu   trên. Hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự  nắm bắt các quy luật   khách quan trong vận hành nền kinh tế  ở nước ta là một vấn ềề còn nhiều xem xét  Trang 1
  2. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.Vì vậy, em quyết định chọn đề  tài “Lý luận nhận thức, vận dụng quan điểm đó vào nền kinh tế  Việt Nam  trước và sau mười năm đổi mới đến nay”. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI I, TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI Sự  tất thắng của chủ  nghĩa cộng sản, sự  thay thế  xã hội tư  bản chủ  nghĩa  bằng xã hội cộng sản chủ  nghĩa trong tiến trình lịch sử  của nhân loại là một quy   luật khách quan. Việt Nam hiện nay đang ở vào thời kỳ quá độ, chúng ta đã bỏ  qua   giai đoạn tư bản chủ nghĩa, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy trong quá trình  phát triển, luôn luôn nảy sinh những mâu thuẫn cần giải quyết. Với sự  lãnh đạo  đúng đắn của Đảng và Chính phủ, chúng ta đã có những chiến lược và sách lược  đúng đắn. Trên cơ sở  nền tảng của chủ nghĩa Mác­ Lênin, đặc biệt là lý luận triết học  Mác­ Lênin, chúng ta đã vạch rõ được con đường phát triển kinh tế đúng đắn đó là:  ”luôn   luôn   xuất   phát   từ   thực   tiễn,   tôn   trọng   và   hoạt   động   theo   quy   luật   khách   quan.’(Trích’Văn kiện đại hội  đại biểu toàn quốc lần thứ  VI”).   Từ  năm 1986,  chúng ta đã tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu để  đổi mới và cải   cách kinh tế. Xây dựng một nền kinh tế  thị  trường, một nền kinh tế  nhiều thành  phần, lành mạnh chính là sự  vận dụng sáng tạo quan điểm chỉ  đạo của Đảng vào   thực tiễn hoàn cảnh trong nước và trên thế giới. Những quan điểm đổi mới, tiến bộ  đó là sự tôn trọng hoàn toàn những lý luận nhận thức và thực tiễn chi phối nền kinh   tế. Đứng trên quan điểm triết học Mác­ Lênin, ta càng có cơ  sở  để  khẳng định   những khởi sắc trong mười năm đổi mới cho dến nay từ sau Đại hội Đảng lần  thứ  VI là những thành công mang tính tất yếu do chúng ta đã vận dụng đúng đắn các quy  luật khách quan vào cải tạo thực tiễn. Chúng ta đã tôn trọng những bước phát triển  có tính quy luật của lịch sử, không đi ngược lại “guồng quay” của lịch sử. Trang 2
  3. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  II, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI  Luôn luôn gắn lý thuyết với thực hành, nắm vững kiến thức thông qua sự  hiểu biết sâu rộngvấn đề  là một phương châm hành động của sinh viên trong thời   đại mới. Nghiên cứu lý luận nhận thức và thực tiễn là một sự  nghiên cứu sâu rộng  của triết học trong mối liên quan với phát triển kinh tế và phát triển xã hội. Hơn thế nữa, đứng trước ngưỡng cửa thế kỷ 21, khi mà xu thé hội nhập đang  tăng cao, nền kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ thì các hành động đều xuất phát   từ  quá trình nhận thức và cải tạo thực tiễn là phương châm chỉ  đạo và hoạt động   của Đảng, Nhà nước ta. Muốn phát triển kinh tế vững mạnh thì phải luôn đặt nó với mối quan hệ với  những khoa học khác, đặc biệt là triết học. Sự  thành công hay thất bại, phát triển  hay lạc hậu của bất cứ nền kinh tế nào là do có lập trường triết học đúng đắn. Bởi   vì xuất phát từ một lập trường triết học đúng đắn, con người có thể  có được cách   giải quyết phù hợp với những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Còn ngược lại, xuất phát   từ một lập trường triết học sai lầm, con ngưòi khó có thể tránh khỏi hành động sai   lầm. Trong hoạt dông kinh tế, một lập trường triết học đúng đắn là tối cần thiết.   Chỉ có triết học Mác ­ Lênin mới có được những tính ưu việt này. Đối với một sinh viên ngân hàng nói riêng và những cán bộ kinh tế nói chung,  viếc nắm vững triét học với những quy luật, lý luận, phương pháp của nó là không  thể  thiếu được. Vì khi giải quyết những vấn đề  phức tạp cụ  thể  như: các cán bộ  làm công tác thực tiễn này không thể tìm thấy được ở những cán bộ thuộc lĩnh vực  chuyên ngành triết học một câu trả lời cụ thể về vấn đề đó dược, nhưng trong hoạt   động thực tiễn, những vấn đề phức tạp này lại luôn nảy sinh.      III, PHẠM VI NGHIÊN CỨU        Triết học Mác ­ Lênin về  vật chất, vận động trong không gian, thời gian và  về  sự  thống nhất vật chất của thế giới đã góp phần xác lập thế  giới quan duy vật   khoa học và có ý nghĩa về  phương pháp luận to lớn trong nhận thức khoa học và  Trang 3
  4. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  hoạt động thực tiễn. Triết học không phải là một cái gì quá xa xôi, viển vông,   ngược lại nó gắn bó hết sức chặt chẽ  với cuộc sống, thực tiễn, chỉ  đạo cho con   người hành động. Nắm vững được mọi nội dung của triết học, đặc biệt là lý luận  nhận thức và cải tạo thực tiễn sẽ  làm cho con người làm chủ  thế  giới, chinh phục   thiên nhiên, cải tạo được xã hội, phát triển kinh tế mạnh mẽ. Vấn đề  đã nêu trong văn kiện Đại hội Đảng VI có tác dụng tích cực đối với  sự phát triển của nền kinh tế hiện nay. Sau hơn mười năm đổi mới với những thành  tựu nhất định ta càng thấy rõ sự đúng đắn và cần thiết của bài học kinh nghiệm đó.  Trong bài viết này, chỉ tập trung phân tích vấn đề lý luận nhận thức và cải tạo thực   tiễn của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình phát triển. Cùng với sự tổng kết của   đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI trong văn kiện đã đánh dấu một mốc son lịch sử  của Việt Nam chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế nhiều  thành phần, vận hành theo cơ  chế  thị  trường dưới sự  quản lý của nhà nước, theo   định hướng xã hội chủ nghĩa. Hoạt động xây dựng kinh tế, đổi mới kinh tế  những  năm gần đây và mối liên hệ  của nó với thực tiễn và các quy luật triết học là trung  tâm của nội dung này.  IV, CƠ  SỞ LÝ LUẬN   Đại hội Đảng lần thứ  VI đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá  trình phát triển kinh tế  của Việt Nam. Trước văn kiện này, những bài học kinh  nghiệm đã được rút ra trong triết học Mác ­ Lênin và Đảng ta lấy đó làm “kim chỉ  nam’ cho hoạt động của mình. Triết học là một bộ  phận cấu thành của chủ  nghĩa  Mác­ Lênin đã chỉ rõ; triết học của chủ nghĩa Mác là chủ nghĩa duy vật. Nhưng Mác  không dừng lại ở chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVIII mà những thiếu sót chủ yếu nhất   của nó là máy móc, siêu hình và duy tâm khi xem xét các hiện tượng xã hội. C.Mác   và F.Enghen đã khắc phục những thiếu sót ấy, đẩy triết học tiến lên hơn nữa bằng   cách tiếp thu một cách có phê phán và có chọn lọc những thành quả của triết hoc cổ  điển Đức và nhất là của hệ  thống triết học Hêghen. Trong những thành quả  đó thì  Trang 4
  5. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển dưới hình  thức toàn diện nhất, sâu sắc nhất và thoát hẳn được tính phiến diện. Nhưng phép  biện chứng của Heeghen là phép biện chứng duy tâm nên Mác và Enghen đã cải tạo  nó. Chính trong quá trình cải tạo này, Mác và Enghen  đã gắn phép biện chứng   Hêghen với thực tiễn, phát triển tiếp tục chủ nghĩa duy vật cũ, đẩy nó lên thành chủ  nghĩa duy vật bịên chứng.Vì vậy chính Mác và Enghen đã xây dựng một triết học   mới với thế  giới quan duy vật nhất quán trong việc nhận thức xã hội. Cơ  sở  của   những lí luận trong học thuyết đó là những quy luật khách quan và thực tiễn xã hội   (“Triết học Mác­ Lênin”­ Chương trình cao cấp. Tập I;Tập san triết học). Vậy trong quá trình xây dựng nên triết học Mác, C.Mác và Enghen đã luôn đi   từ  thực  tiễn và những  quy luật khách quan để   định hướng  lý luận nghiên cứu.  Những lý luận đó vì thế  có cơ  sở  khoa học vững chắc, không sa vào siêu hình hay   nhị nguyên luận như các nhà triết học đi trước. Để chỉ đạo hoạt động được đúng đắn, triết học Mác­ Lênin chính là nền tảng   bền vững cho mọi mục tiêu, phương hướng phát triển mọi mặt của Đảng và Nhà  nước ta.        Trang 5
  6. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  CHƯƠNG I MỘT SỐ KHÁI NIỆM  LIÊN QUAN ĐẾN CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU I. THỰC TIỄN 1. Khái niệm Hoạt động con người chia làm hai lĩnh vực cơ  bản. Một trong hai lĩnh vực  quan trọng đó là: hoạt động thực tiễn.  Thực tiễn: (theo quan điểm triết học Mác xít): Là những hoạt động vật chất cảm tính, có mục đích, có tính lịch sử  ­ xã hội   của con người nhằm cải tạo, làm biến đổi tự nhiên và xã hội. 2. Tính vật chất trong hoạt động thực tiễn Đó là hoạt động có mục đích của xã hội, phải sử  dụng những phương tiện   vật chất đề tác động tới đối tượng vật chất nhất định của tự nhiên hay xã hội, làm   biến đổi nó, tạo ra sản phẩm vật chất nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. Chỉ  có thực tiễn mới trực tiếp làm thay đổi thế  giới hiện thực, mới thực sự  mang tính chất phê phán và cách mạng. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của thực   tiễn, là cơ sở đề phân biệt hoạt  động thực tiễn khác với hoạt động lý luận của con   người. 3. Tính chất lịch sử xã hội Ở  những giai đoạn lịch sử  khác nhau, hoạt động thực tiễn diễn ra là khác   nhau, thay đổi về phương thức hoạt động. Thực tiễn là sản phẩm lịch sử  toàn thế  giới, thể  hiện những mối quan hệ  muôn vẻ  và vô tận giữa con người với giới tự  nhiên và con người với con người  Trang 6
  7. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  trong quá trình sản xuất vật chất và tinh thần, là phương thúc cơ bản của sự tồn tại   xã hội của con người. 4. Thực tiễn của con người được tiến hành dưới nhiều hình thức Trong quá trình hoạt động cải tạo thế  giới, con người tạo ra một hiện thực   mới, một ”thiên nhiên thứ  hai”. Đó là thế  giới của văn hóa tinh thần và vật chất,   những điều kiện mới cho sự  tồn tại của con người, những điều kiện này không  được giới tự  nhiên mang lại dưới dạng có sẵn. Đồng thời với quá trình đó, con   người cũng phát triển và hoàn thiện bản thân mình. Chính sự  cải tạo hiện thực   thông qua hoạt động thực tiễn là cơ sở của tất cả những biểu hiện khác có tính tích   cực, sáng tạo của con người. Con người không thích nghi một cách thụ  động mà  thông qua hoạt động của mình, tác động một cách tích cực để  biến đổi và cải tạo  thế giới bên ngoài. Hoạt động đó chính là thực tiễn. a,Hoạt động sản xuất vật chất Là hoạt động thực tiễn quan trọng nhất của xã hội.Thực tiễn sản xuất vật   chất là tiền đề xuất phát để hình thành những mối quan hệ đặc biệt của con người   đối với thế giới, giúp con người vượt ra khỏi khuôn khổ tồn tại của các loài vật. b.Hoạt động chính trị xã hội Là hoạt dộng của con người trong các lĩnh vực chính trị  xã hội nhằm phát   triển và hoàn thiện các thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho   hoạt động sản xuất và tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con   người bằng cách đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. c. Hoạt động thực nghiệm khoa học Là hoạt động thực tiễn đặc biệt vì con người phải tạo ra một thế giới riêng  cho thực nghiệm của khoa học tự nhiên và cả khoa học xã hội. Trang 7
  8. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  II, THỰC TIỄN CÓ VAI TRÒ RẤT TO LỚN ĐỐI VỚI NHẬN THỨC Hoạt động thực tiễn là cơ  sở, là nguồn gốc, là động lực, là mục đích, là tiêu   chuẩn của nhận thức. 1.Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc của nhận thức Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế  giới khách quan, bắt  các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và quy  luật của chúng. Trong quá trình hoạt động thực tiễn luôn luôn nảy sinh các vấn đề  đòi hỏi con người phải giải đáp và do đó nhận thức được hình thành. Như vậy, qua  hoạt động thực tiễn mà con người tự  hoàn thiện và phát triển thế  giới quan( tạo  điều kiện cho nhận thức cao hơn). Qua hoạt động thực tiễn, não bộ con người cũng ngày càng phát triển hơn, các   giác quan ngày càng hoàn thiện hơn. Thực tiễn là nguồn tri thức, đồng thời cũng là đối tượng của nhận thức.   Chính hoạt động thực tiễn đã đặt ra các nhu cầu cho nhận thức, tạo ra các   phương tiện hiện đại giúp con người đi sâu tìm hiểu tự nhiên. 1,Thực tiễn là động lực của nhận thức Ngay từ đầu, nhận thức đã bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Mỗi bước   phát triển của thực tiễn lại luôn luôn đặt ra những vấn đề  mới cho nhận thức, thúc  đẩy nhận thức tiếp tục phát triển. Như  vậy thực tiễn trang bị  những phương tiện   mới, đặt ra những nhu cầu cấp bách hơn, nó rà soát sự nhận thức. Thực tiễn lắp đi  lắp lại nhiều lần, các tài liệu thu thập được phong phú, nhiều vẻ, con người mới  phân biệt được đâu là mối quan hệ  ngẫu nhiên bề  ngoài, đâu là mối liên hệ  bản   chất, những quy luật vận động và phát triển của sự vật. 2,Thực tiễn là mục đích của nhận thức Những tri thức khoa học chỉ  có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực   tiễn. Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là   Trang 8
  9. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  nhằm cải tạo hiện thức khách quan, đáp  ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần   xã hội. Sự hình thành và phát triển của nhận thức là bắt nguồn từ thực tiễn, do yêu  cầu của thực tiễn.  Nhận thức chỉ  trở  về  hoàn thành chức năng của mình khi nó chỉ  đạo hoạt   động thực tiễn, giúp cho hoạt động thực tiễn có hiệu quả  hơn. Chỉ  có thông qua  hoạt động thực tiễn, thì tri thức con người mới thể hiện được sức mạnh của mình,  sự hiểu biết của con người mới có ý nghĩa. 3,Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức Bằng thực tiễn mà kiểm chứng nhận thức đúng hay sai. Khi nhận thức đúng thì nó   phục vụ thực tiễn phát triển và ngược lại. 4,Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý a.Chân lý Là những tri thức phản ánh đúng đắn thế  giới khách quan được thực tiễn   khẳng định ( nội dung khách quan, có ý nghĩa giá trị đối với đời sống con người) Chân lý mang tính khách quan, nó không phụ thuộc vào số đông (ví dụ: chân lý   tôn giáo). Chân lý mang tính hai mặt ( tuyệt đối và tương đối ) vì tính hai mặt trong quá  trình nhận thức của nhân loại. b.Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Theo quan điểm của chủ  nghĩa duy vật biện chứng, tiêu chuẩn để  kiểm tra  chân lý không phải là ý thức tư  tưởng, tư  duy mà là thực tiễn. Bởi vì chỉ  có thông   qua hoạt động thực tiễn, tri thức mới trở lại tác động vào thế  giới vật chất, qua đó  nó được ”hiện thực hoá”, “vật chất hơn” thành các khách thể cảm tính. Từ đó mới   có căn cứ để đánh giá nhận thức của con người đúng hay sai, có đạt tới chân lý hay   không. Trang 9
  10. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  Thực tiễn có rất nhiều hình thức khác nhau, nên nhận thức của con người cũng   được kiểm tra thông qua rất nhiều hình thức khác nhau. +Thực tiễn của xã hội luôn luôn vận động và phát triển. +Thực tiễn trong mỗi giai đoạn lịch sử đều có giới hạn. Nó không thể chứng  minh hay bác bỏ hoàn toàn một tri thức nào đó của con người mà nó được thực tiễn  tiếp theo chứng minh, bổ sung thêm.  Như  vậy tiêu chuẩn thực tiễn cũng mang tính chất biện chứng và như  vậy   mới có khả  năng kiểm tra một cách chính xác sự  phát triển biện chứng của nhận  thức.  c.Ý nghĩa: Thực tiễn lớn nhất  ở nước ta hiện nay là thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị  trường mới, nền văn hoá mới đậm đà bản sắc dân tộc và chế  độ  xã hội mới: công   bằng, bình đẳng, tién bộ. Trong lĩnh vực kinh tế, đường lối, chính sách hay các giải pháp kinh tế cụ thể  muốn biết đúng hay sai đều phải thông qua vận dụng chúng trong sản xuất, kinh  doanh cũng như  quản lý các quá trình đó. Đường lối chính  sách cũng như  các giải  pháp kinh tế chỉ đúng khi chúng mang lại hiệu quả kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát   triển, nâng cao năng suất lao động, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,  văn minh.  Công cuộc xây dựng chủ  nghĩa xã hội sau những bước tiến và những thành  tựu to lớn mang lại ý nghĩa lịch sử, giờ đây lại đặt ra nhiều vấn đề  cần giải quyết.   Những hoạt động nghiên cứu lý luận chính là nhằm tìm ra lời giải đáp cho những   vấn đề  của giai đoạn cách mạng hiện nay. Công cuộc đổi mới  ở  nước ta vừa là   mục tiêu, vừa là động lực mạnh mẽ  thúc đẩy hoạt động nhận thức nói chung và  công tác lý luận nói riêng, nhất định sẽ  đem lại cho chúng ta những hiểu biết mới,   phong phú hơn và cụ thể hơn về mô hình chủ nghĩa xã hội, về con đường đi lên chủ  nghĩa xã hội ở nước ta.  Trang 10
  11. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  III.  MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lý luận a. Khái niệm Là một hệ  thống những tri thức được khái quát từ  thực tiễn. Nó phản ánh  những quy luật, của từng lĩnh vực trong hiện thực khách quan. b. Đặc điểm Lý luận mang tính hệ thống, nó ra đời trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của xã hội  nên bất kỳ một lý luận nào cũng mang tính mục đích và ứng dụng. Nó mang tính hệ thống cao, tổ chức có khoa học. 2. Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn Được thể hiện bằng mối quan hệ giữa nhận thức và thực tiễn. GIữa lý luận  và thực tiễn thống nhất biện chứng với nhau. Sự thống nhất đó bắt nguồn từ  chỗ:   chúng đều là hoạt động của con người, đều nhằm mục đích cải tạo tự nhiên và cải   tạo xã hội để thoả mãn nhu cầu của con người. a. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn Lý luận dựa trên nhu cầu của thực tiễn và lấy được chất liệu của thực tiễn.   Thực tiễn là hoạt động cơ  bản nhất của con người, quyết định sự  tồn tại và phát  triển xã hội. Lý luận không có mục đích tự  nó mà mục đích cuối cùng là phục vụ  thực tiễn. Sức sống của lý luận chính là luôn luôn gắn liền với thực tiễn, phục vụ  cho yêu cầu của thực tiến.  b. Lý luận mở đường và hướng dẫn hoạt động của thực tiễn Ví dụ: lý luận Mác ­ Lênin hướng dẫn con đường đấu tranh của giai cấp vô   sản. Sự thành công hay thất bại của hoạt động thực tiễn là tuỳ thuộc vào nó được   hướng dẫn bởi lý luận nào, có khoa học hay không? Sự phát triển của lý luận là do   yêu cầu của thực tiễn, điều đó cũng nói lên thực tiễn không tách rời lý luận, không  thể thiếu sự hướng dẫn của lý luận. Trang 11
  12. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  Vai trò của lý luận khoa học là  ở  chỗ: nó đưa lại cho thực tiễn các tri thức  đúng đắn về các quy luật vận động, phát triển của hiện thực khách quan, từ đó mới   có cơ sở để định ra mục tiêu và phương pháp đúng đắn cho hoạt động thực tiễn. Quan hệ  lý luận và thực tiễn mang tính chất phức tạp, quan hệ  đó có thể  là  thống nhất hoặc mâu thuẫn đối lập. c. Lý luận và thực tiễn là thống nhất Lý luận và thực tiễn thống nhất khi giai cấp thống trị còn mang tinh thần tiến   bộ và còn giữ sứ mệnh lịch sử. Khi lý luận và thực tiễn thống nhất thì chúng sẽ tăng  cường lẫn nhau và phát huy vai trò của nhau. Sự thống nhất đó là một trong những   nguyên lý căn bản của triết học Mác­ Lênin. d. Sự mâu thuẫn của lý luận và thực tiễn Xảy ra khi giai cấp thống trị  trở nên phản động, lỗi thời, lạc hậu. Khi mâu   thuẫn nảy sinh, chúng sẽ  làm giảm  ảnh hưởng của nhau. Điều đó dẫn đến mọi  đường lối, chính sách xã hội trở nên lạc hậu và phản động. *Ý nghĩa: Cần phải tăng cường, phát huy vai trò của lý luận đối với xã hội, đặc biệt là  lý luận xã hội mà quan trọng là lý luận Mác ­ Lênin và các lý luận về kinh tế. Trước chủ  nghĩa Mác, trong lý luận nhận thức, phạm trù thực tiễn hầu như  không có chỗ  đứng nào. Nhiều người còn hình dung thực tiễn với bộ  mặt xấu xí   của con buôn (Phơ­Bách). Trong “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê  phán”, sau khi phê phán E. Ma Khơ  và một số  ngươi khác đã ”cố  gạt thực tiễn ra   khỏi lý luận nhận thức, coi thực tiễn như một cái gì không đáng nghiên cứu về mặt   nhận thức luận, đã ”đem cái tiêu chuẩn thực tiễn là cái giúp cho mỗi người phân   biệt được ảo tưởng với hiện thực đặt ra ngoài giới hạn của khoa học, của lý luận   nhận thức... để dọn chỗ cho chủ nghĩa duy tâm và thuyết bất khả tri”.  Trang 12
  13. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  V.I.Lênin đã khẳng định: quan điểm về  đời sống, về  thực tiễn phải là quan   điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức. (“V.I.Lênin toàn tập” – 1980) Chính vì sự quan trọng của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn nên đối với   nước ta trong giai đoạn này cần đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và hoạt động.  Hiện nay, nước ta đang tiến hành đổi mới một cách toàn diện các mặt của đời sống   xã hội, mà trong đó đổi mới kinh tế là trung tâm. Đổi mới từ nền kinh tế tập trung   quan liêu sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là một vấn đề hết   sức mới mẻ chưa có lời giải đáp sẵn. Và chúng ta cũng không bao giờ có thể có một   lời giải sẵn sau đó mới đi vào tiến hành đổi mới. Quá trình đổi mới nói chung, đổi   mới kinh tế  nói riêng và việc nhận thức quá trình đổi mới đó không tách rời nhau,   tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển. Vậy trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ thực tế khách   quan, phải lấy hiện thực khách quan làm cơ  sở  cho hoạt động của mình. Gắn lý  luận vào thực tiễn để  hoạt động trở  nên khoa học, có cơ  sở  vững chắc. Tinh thần  ấy chính là vấn đề cần nghiên cứu trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI. e. Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của   chủ nghĩa Mác­ Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng đẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận  mà không liên hệ  với thực tiễn là lý luận suông. Vì vậy cho nên trong khi nhấn  mạnh sự quan trọng của lý luận, đã nhiều lần Lênin nhắc đi nhắc lại rằng lý luận   cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nang cho hành động cách mạng, và   lý luận không phải là một cái gì cứng nhắc, nó đầy tính sáng tạo. Lý luận luôn luôn   cần được bổ  sung bằng những kết luận mới rút ra từ  trong thực tiễn sinh động.  Những người cộng sản các nước phải cụ thể hoá chủ  nghĩa Mác _ Lênin cho thích   hợp với điều kiện, hoàn cảnh từng lúc và từng nơi (“Hồ Chí Minh: toàn tập”­1996) *Con đường biện chứng của sự nhận thức: Trang 13
  14. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  Nhận thức của con người diễn ra trên cơ  sở  thực tiễn và không ngừng vận   động, phát triển. Sự  vận động và phát triển của nhận thức diễn ra một cách biện  chứng: ­ “Từ trực quan sinh động đến tư  duy trìu tượng và từ  tư  duy trìu tượng đến  thực tiễn ­ đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức   thực tại khách quan”. +Trực quan sinh động (hay nhận thức cảm tính) là giai đoạn đầu của quá trình  nhận thức, được hình thành trong quá trình thực tiễn.Giai đoạn này được hình thành   thông qua các hình thức cơ bản nối tiếp nhau: cảm giác, tri giác, biểu tượng... +Tư duy trì tượng (hay nhận thức lý tính) là giai đoạn cao của quá trình nhận  thức dựa trên cơ sở những tài liệu do giai đoạn trực quan sinh động mang lại. ­ Nhận thức của con người phát triển đến giai đoạn tư  duy trìu tượng chưa  phải là chấm dứt, mà nó lại tiếp tục vận động trở về với thực tiễn. Nhận thức phải   trở về với thực tiễn vì: + Mục đích của nhận thức là phục vụ hoạt động thực tiễn. Vì vậy nó phải trở  về chỉ đạo hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới.  +Đến giai đoạn tư duy trìu tượng vẫn có khả năng phản ánh sai lạc hiện thực.  Vì vậy, nhận thức phải quay trở về thực tiễn để  kiểm tra kết quả nhận thức, phân  biệt đâu là nhận thức đúng, đâu là nhận thức sai lầm. +Thực tiễn luôn luôn vận động, phát triển. Vì vậy nhận thức phải trở về với   thực tiễn để trên cơ sở thực tiễn mới tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức. ­ Từ  trực quan sinh động dến tư  duy trìu tượng, và từ  tư  duy trìu tượng đến  thực tiễn là một vòng khâu của quá trình nhận thức. Nó cứ  lặp đi lặp lại làm cho  nhận thức của con người phát triển không ngừng, ngày càng phản ánh sâu sắc bản  chất, quy luật của thế giới khách quan.         Trang 14
  15. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  CHƯƠNG II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM I,VỊ TRÍ ĐỊA LÝ ­Việt Nam nằm  ở  phía đông của bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông  Nam Á, có một vùng biển rộng, giàu tiềm năng.  ­Vị trí tiếp giáp trên đất liền và trên biển tạo điều kiện cho nước ta có thể dễ  dàng giao lưu với các nước trên thế giới. +Trên đất liền, nước ta giáp Trung Quốc, Lào, Campuchia. Thông qua các   tuyến giao thông (đường bộ, đường sắt...) với các cửa khẩu quan trọng, Việt Nam   có thể liên hệ với nhiều nước trên thế giới. + Nước ta nằm gần các tuyến đường biển quốc tế. Thông qua đường biển, có  thể quan hệ với nhiều quốc gia. +Vùng biển rộng lớn, giàu tiềm năng cho phép phát triển kinh tế biển. ­Việt Nam là nơi giao thoa của các nền văn hoá khác nhau. Điều đó góp phần   làm giàu bản sắc văn hoá.  ­Việt Nam nằm  ở  khu vực đang diễn ra những hoạt động kinh tế  sôi động   của thế  giới. Từ đó cho phép nước ta có thể  dễ  dàng hội nhập với các nước trong  khu vực và trên thế giới. Ta có thể tiếp thu và chọn lọc những bài học, kinh nghiệm   thành công cũng như thất bại về  phát triển kinh tế  của các nước và vận dụng vào  điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta.  II, QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 1.Tình hình: Trang 15
  16. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  ­ Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước  xã hội chủ  nghĩa lúc đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế  kế  hoạch  hoá tập trung dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Các hình thức tổ chức   sản xuất và dịch vụ  quốc doanh được phát triển. Cùng với quốc doanh, hợp tác xã  được tổ chức rộng rãi ở nông thôn và thành thị. Với hai hình thức sở hữu toàn dân và   tập thể, sở hữu tư nhân bị thu hẹp lại, không còn cơ sở cho tư nhân phát triển. Cùng  với quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộng rãi vì ta đã học tập được mô hình tổ  chức kinh tế  của Liên Xô cũ. Với sự  nỗ  lực cao độ  của nhân dân ta, cùng với sự  giúp đỡ  tận tình của các nước xã hội chủ  nghĩa lúc đó, mô hình kế  hoạch hoá tập  trung đã phát huy được những tính ưu việt đó. ­ Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công  cụ  kế  hoạch hóa, ta đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan   trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy   móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế. Vào những năm sau của thập niên 60, ở  Miền Bắc đã có những chuyền biến  về  kinh tế, xã hội. Trong thời kỳ  đầu, nền kinh tế  tập trung bao cấp đã tỏ  ra phù   hợp với nền kinh tế tự cung, tự cấp, phù hợp với điều kiện hai nhiệm vụ sản xuất  và chiến đấu trong chiến tranh lúc đó. ­ Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện trạng   kinh tế  Việt Nam đã  thay đổi. Đó là sự  duy trì một nền kinh tế  tồn tại cả  ba loại  hình: +Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp) +Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc) +Kinh tế thị trường  (đặc trưng ở miền Nam). Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta vẫn tiếp   tục xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hoá trên phạm vi cả nước.  Đó là sự áp đặt rất bất lợi. Trang 16
  17. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  2. Hậu quả:  Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được hiệu quả  các nguồn lực dẫn tới việc sử  dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn lực của đất   nước. ­ Tài nguyên bị  phá hoại, sử  dụng khai thác không hợp lý, môi trường bị  ô  nhiễm.  ­ Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ  phổ  biến gây hậu quả  nghiệm trọng   cho nền kinh tế. + Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng kinh tế trên lý thuyết, giấy tờ. +Hàng hoá, sản phẩm trở nên khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu trong   nước. +Ngân sách thâm hụt nặng nề. Vốn nợ  đọng nước ngoài ngày càng tăng và   không có khả năng cho chi trả. +Thu nhập từ  nền kinh tế  quốc dân không đủ  chi dùng, tích luỹ  hầu như  không có. +Vốn đầu tư  cho sản xuất và xây dựng chủ  yếu là dựa vào vay và viện trợ  nước ngoài. ­ Cùng với đó là sự thoái hoá về mặt con người và xã hội. ­ Đến năm 1979, nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân   khó khăn, nguồn trợ giúp từ bên ngoài giảm mạnh. ­ Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá thể bị  tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm năng to lớn  của các thành phần kinh tế  này không được khai thác và phục vụ  cho mục tiêu  chung của nền kinh tế. Ngược lại, thành phần kinh tế quốc doanh đã phát triển ồ ạt,  tràn lan trên mọi lĩnh vực trở  thành địa vị  đọc tôn trong hầu hết các ngành công   nghiệp, xây dựng, dịch vụ  (trừ  ngành nông nghiệp, thành phần kinh tế  tập thể  là  Trang 17
  18. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  chủ  yếu).Thời điểm cao nhất, thànhphần kinh tế  quốc doanhđã cõ gần 13 nghìn  doanh nghiệp với số  tài sản cố  định chiếm 70% tổng số  tài sản cố  định của nền  kinh tế. Thời kỳ này, kinh tế nước ta tuy có đạt được tốc độ  tăng trưởng nhất định   nhưng sự tăng trưởng đó không có cơ  sở để  phát triển vì đã dựa vào điều kiện bao  cấp, bội chi ngân sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài. ­ Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ  chế  bao cấp, kế  hoạch hoá tập   trung nên nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh  nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản   xuất không được giải phóng, nền kinh tế  lâm vào tình trạng khủng hoảng và tụt  hậu. 3.Nguyên nhân Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận  cơ  cấu kinh tế  nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa   nắm vững và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước ta. Đến năm 1986, cơ  chế  tập trung quan liêu, bao cấp về  căn bản vẫn chưa bị  xoá bỏ. Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời  chưa được thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện  tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến. Việc đổi mới cơ chế  và bộ  máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là  những nguyên nhân quan trọng dẫn  tới hành động không thống nhất từ trên xuống   dưới. Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức,  bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề  chưa giải quyết được thoả  đáng cả  về lý luận và thực tiễn. 4. Tư tưởng chỉ đạo Trang 18
  19. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­   Ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ:”Khuynh  hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những chính sách kinh tế  là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo  nguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt nam ­ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn   quốc lần thứ VI­1986).  Chúng ta đã có những thành kiến không đúng, trên thực tế,  chưa thừa nhận thật sự  những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách   quan. Chúng ta đã  ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu  quả  kinh tế  phát triển chậm. Hơn thế  nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất   nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. ­ Bên cạnh đó, sự  tan rã của hệ  thống các nước xã hội chủ  nghĩa vào những   năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 làm cho chúng ta mất đi một thị trường truyền   thống, nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với sản xuất và đời sống. ­ Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự  thù địch của các thế  lực phản  động cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế ­ xã hội của đất nước. Tất cả  những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp vào  những năm 1979 ­ 1980 đã đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng, công nghiệp chỉ  tăng 0,6%, nông nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát  ở  mức siêu cấp năm 1986 :   74% Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm được rút ra trong “ Văn kiện Đại hội Đại   biểu toàn quốc lần thứ  VI về  phát triển kinh tế  phải xuất phát từ  thực tiễn, tôn  trọng và hoạt động theo quy luật khách quan là hoàn toàn đúng đắn. Chính từ những   khó khăn trên đòi hỏi phải đổi mới nền kinh tế,  xã hội. Đại hội Đảng toàn quốc lần   thứ VI đã đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong quá trình phát triển của đất  nước. Trang 19
  20. TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC ­  III. BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT TÌNH HÌNH ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ  Để  khắc phục khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết  phải thay đổi nhận thức , đổi mới tư  duy. Phải nhận thức và hành động đúng đắn,  đề  ra những chủ  trương, chính sách phù hợp với hệ  thống quy luật khách quan,  trong đó các quy luật đặc thù của chủ  nghĩa xã hội ngày càng chi phối mạnh mẽ  phương hướng phát triển chung của xã hội. Mọi chủ trương, chính sách, biện pháp  kinh tế  gây tác động ngược lại đều biểu hiện sự  vận dụng không đúng quy luật   khách quan, phải được sửa đổi hoặc huỷ bỏ. ­ Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật đang  tác động lên nền kinh tế. Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh tế  cơ bản  cùng với các quy luật đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng phát huy vai trò  chủ  đạo, được vận dụng trong một thể  thống nhất với các quy luật của sản xuất   hàng hoá, đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cùng cầu, quy luật cạnh tranh... Kế  hoạch hoá phải luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bảy kinh tế. ­ Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Những quan điểm,  đường lối do Đại hội VI vạch ra là sự  vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ  nghĩa   Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nước . Công cuộc đổi mới  của Đảng từ  sau Đại hội VI đến nay  ở  nước ta không nằm ngoài những quy luật   phổ  biến của phép biện chứng, Đảng ta đã vận dụng phép biện chứng vào nhận   thức hiện thực xã hội, phân tích các mối liên hệ biện chứng của đời sống hiện thực,   tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động lực mạnh mẽ  cho quá trình đổi mới vững   chắc. Vì trước đây, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội với nhiều khó   khăn phức tạp, gay gắt, lạm phát phi mã do tư duy lý luận bị  lạc hậu, giữa lý luận   và thực tiễn có khoảng cách xa. Tư  duy cũ về  chủ  nghĩa xã hội theo mô hình tập  trung quan liêu bao cấp đã cản trở sự phát triển của thực tiễn sản xuất. Bị chi phối   Trang 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản