Tìm hiểu bệnh trầm cảm
Bệnh trầm cảm không có min trừ với bất cứ ai, có thể gặp ở trẻ em, v
thành niên, người trưởng thành, phụ nữ sau đẻ và cngưituổi.
Trầm cảm là cảm giác buồn sâu sắc, có thể xảy ra sau một chuyện buồn hay
do các sự cố không vui nhưng mức độ buồn và kéo dài qmức tng
thường, không tươngng với sự cố. Thời gian gần đây, Tổ chức Y tế Thế
giới đã cnh báo về sự phổ biến bệnh trầm cảmcon người. Tỷ lệ này
vào khong 4%, tức có khoảng 250 triệu người trên trái đất mắc phải. Ở Việt
Nam, tỷ lệ này cũng lên đến 2 5%.
Đối với những bệnh nhân trầm cảm, nếu phải sống trong những yếu tố môi
trường không thuận li, nhất là lại gặp sự cố về kinh tế, xã hội thì tỷ lệ dẫn
đến tự sát rất cao: lên đến 20 – 30%.
Trầm cảm ở nam: Thường bị bỏ qua, không được chẩn đoán. Thông thường,
dễ bị trầm cảm sau khi bị stress (căng thẳng trong công việc, hôn nhân tan
vỡ, người thân chết, thay đổi chỗ ở hay có vấn đề về kinh tế…). Nam cũng
nhạy cảm hơn nữ với những biến đổi về kinh tế, xã hi, chính trnh
hưởng vai trò truyn thống của namgia đình và nơi làm việc và từ đó tăng
nguy cơ bị trầm cảm và các bệnh tâm trí khác. Ngưi ta nhận thấy vào thập
kỷ 30 thế kỷ trước, thời kỳ suy thoái toàn cầu, tỷ lnam gii tự tử đã tăng
lên vì nhiu người thất nghiệp.
Trầm cảm làm cho người ta tối tăm trong tư duy, xói mòn cuộc sống và ngh
nghiệp ca cá thể và tăng nguy cơ b nhiều bệnh khác. Nguy hi nhất là nguy
tự sát khi nam gii bị trầm cm, nhiu hơn nữ gấp 4 lần.
Mỗi khi đi khám bệnh, nam giới cũng có xu hướng chi cãi mình có vấn đề
về tâm trí, một phn là do không mun mang tiếng bị bệnh tinh thần, sợ ảnh
hưởng đến nghề nghiệp, mất uy tín trước bạn bè và gia đình… Nam giới vẫn
thường phải chịu áp lực về sự thành đạt trong đời; nếu không làm được điều
này (blép vế trong gia đình hay ở cơ quan) thì nhiu người đã ôm nỗi buồn
đó một cách lng lẽ và không muốn ngỏ cùng ai. Điều này trái vi nữ, họ
m bộc lộ, chia sẻ với thy thuốc những phin não của mình cho nên ngưi
ta mới thường cho là trm cảm chủ yếu thấy ở nữ. Với cả hai giới, các dấu
hiệu và triu chứng thường thấy là cm giác mình là người vô tích sự (đồ
bỏ), ít ngủ, buồn, mặc cm phạm tội.
Những nhà nghiên cứu Thụy Điển đã mô tả “hội chứng trầm cảmnam
bao gồm các dấu hiệu và triệu chứng như: Dễ bị stress,những cơn giận
dữ đột ngột, giảm khả năng kiểm soát bản thân, hành vi chống xã hội, không
thể quyết định được việc gì, cm giác luôn sốt ruột và trng rỗng.
Trầm cảm phụ nữ: Có những triệu chứng như: Buồn, âu sầu hoặc hay
khóc; thờ ơ, không thấy thích thú gì với những công việc vẫn làm (kể cả
chuyện tình dục); có cm giác phm tội, tuyệt vọng hoặc thấy mình chẳng có
giá trị gì, có ý nghĩ tự tử, ngủ quá nhiều hoặc không ngủ được hoặc ngủ li bì
đánh thức cũng không tỉnh; không có cảm giác thèm ăn và gầy đi hoặc ăn
quá nhiu và béo n; cm giác mi mệt rã rời hoặc uể oải – không tập trung
chú ý được và không quyết định được việc gì; cm thấy trên thân thể đau
đớn mà điều trị cũng không đỡ.
Hậu quả của trầm cảm nếu kng được điều trị
nh hưởng đến nhiều mặt của đời sống. Stress kéo dài gây tn tơng
cho nhiu cơ quan, kể cả tim. Tuổi thọ có thể giảm, trong một thời gian nhất
định, số tử vong ở ngưi trầm cảm gấp đôi so với người không b trầm cảm.
Tỷ lệ ly hôn, tự tử và có hành vi liu lĩnh cũngng… Trongng việc, trầm
cm làm cho nam giới làm việc kémng suất, hạn chế khả năng và có nguy
mất việc.