intTypePromotion=1

Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Chia sẻ: ViKakashi2711 ViKakashi2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
59
lượt xem
2
download

Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết phân tích tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay dựa trên các yếu tố về: Nắm bắt cơ hội kinh Bài viết phân tích tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay dựa trên các yếu tố về: Nắm bắt cơ hội kinh doanh; (ii) Dám chấp nhận rủi ro, (iii) Sáng tạo - đổi mới, (iv) Thành quả bền vững. Từ đó đề xuất một số gợi ý nhằm xây dựng tinh thần doanh nhân khởi nghiệp tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập hiện nay

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập

Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ...<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TINH THẦN DOANH NHÂN KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM<br /> TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP<br /> Lê Thế Phiệt *<br /> <br /> TÓM TẮT doanh; (ii) Dám chấp nhận rủi ro, (iii) Sáng<br /> Kích thích tinh thần khởi nghiệp, hình tạo - đổi mới, (iv) Thành quả bền vững. Từ đó<br /> thành đội ngũ doanh nhân mạnh là con đề xuất một số gợi ý nhằm xây dựng tinh thần<br /> đường để Việt Nam có thể phát triển nhanh doanh nhân khởi nghiệp tại Việt Nam trong<br /> và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế điều kiện hội nhập hiện nay.<br /> sâu rộng. Bài viết phân tích tinh thần doanh Từ khoá: Doanh nhân, Hội nhập, Khởi<br /> nhân khởi nghiệp ở Việt Nam hiện nay dựa nghiệp, Tinh thần doanh nhân.<br /> trên các yếu tố về: Nắm bắt cơ hội kinh<br /> <br /> <br /> BUSINESS ENVIRONMENT IN VIETNAM IN<br /> CONGESTION CONDITIONS<br /> <br /> ABSTRACT of risk adverse, (iii) Creativity - Innovation,<br /> Stimulate entrepreneurship, formed a (iv) Sustainable development. Base on that,<br /> strong team of entrepreneurs is the way we propose a number of solutions in order<br /> to Vietnam can be rapid and sustainable to improve and develop the entrepreneurship<br /> development in the context of intensive in Vietnamese to adapt incoming challenges<br /> international integration. This study from international integration.<br /> analyzes the entrepreneurship in Vietnamese<br /> Keywords: Entrepreneur, Integration,<br /> by focusing on following components: (i)<br /> Startup, Entrepreneurship.<br /> Capturing business opportunities; (ii) level<br /> <br /> <br /> 1. GIỚI THIỆU cách triệt để. Ở Việt Nam, vai trò của doanh<br /> Doanh nhân có vai trò ngày càng quan nhân ngày càng được coi trọng, Nghị quyết<br /> trọng trong việc phát triển kinh tế trong nước Hội nghị lần thứ 5 (khóa 12) đã xác định phát<br /> và đưa đất nước hội nhập với quốc tế. Họ là triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực<br /> người có định hướng rõ ràng cùng với sự nhiệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định<br /> tình sáng tạo để có thể nhìn thấy các cơ hội hướng xã hội chủ nghĩa.<br /> còn tiềm ẩn và nắm bắt tận dụng chúng một Để hội nhập và cạnh tranh trong một nền<br /> <br /> *<br /> TS. GV. Khoa Kinh tế, Trường Đại học Tây Nguyên<br /> <br /> 107<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> kinh tế toàn cầu, Việt Nam phải trở thành nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích<br /> một quốc gia khởi nghiệp. Hiện tại, Việt Nam của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của<br /> hiện có khoảng 1.800 doanh nghiệp khởi doanh nghiệp, phải có đủ điều kiện để sáng<br /> nghiệp, số lượng doanh nghiệp khởi không tạo, không ngừng phát triển doanh nghiệp.<br /> ngừng tăng nhanh so với các năm trước đây. Doanh nhân là người làm kinh doanh, là chủ<br /> Xét theo mật độ, các công ty khởi nghiệp trên thể lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước xã hội<br /> đầu người ở Việt Nam nhiều hơn cả các quốc và pháp luật. Doanh nhân có thể là chủ một<br /> gia như Trung Quốc, Ấn Độ (hiện có 2.100 doanh nghiệp, là người sở hữu và điều hành,<br /> công ty khởi nghiệp tại Indonesia, 2.300 tại Chủ tịch công ty, Giám đốc công ty hoặc cả<br /> Trung Quốc và 7.500 tại Ấn Độ) [3]. Năm hai [1].<br /> 2016 là năm của tinh thần khởi nghiệp, cũng Các định nghĩa như trên cho chúng ta<br /> như tinh thần khởi nghiệp đã được khơi dậy thấy một quan điểm toàn diện hơn về doanh<br /> từ Nghị quyết Đại hội lần thứ 12 của Đảng, nhân. Tuy nhiên, những định nghĩa này vẫn<br /> cũng như Nghị quyết 35 về phát triển doanh bỏ qua một nhóm đối tượng gồm hàng triệu<br /> nghiệp và từ động thái rất tích cực của Chính người hiện đang theo đuổi nghề nghiệp kinh<br /> phủ. Tuy nhiên, việc khởi nghiệp hiện nay doanh ở nước ta là những người kinh doanh<br /> còn gặp nhiều khó khăn. Đó là, đa số doanh cá thể (doanh nhân cá nhân) và những hộ<br /> nghiệp khởi nghiệp thường non trẻ, nguồn tài kinh doanh không lập doanh nghiệp; mà<br /> chính không có nhiều, đội ngũ nhân sự chỉ là chính sự đóng góp của họ với tư cách là các<br /> những người làm chuyên môn. Do đó, những chủ thể kinh doanh đông đảo nhất đã tạo<br /> kiến thức về thủ tục hành chính, pháp lý… nên nét đặc sắc của văn hóa doanh nhân và<br /> đang khiến những doanh nghiệp khởi nghiệp văn hóa kinh doanh Việt Nam. Bởi thế, theo<br /> còn gặp nhiều lúng túng. Do đó, việc nghiên VCCI: “doanh nhân là những người chủ sở<br /> cứu tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ở Việt hữu hoặc đại diện chủ sở hữu trực tiếp quản<br /> Nam trong điều kiện hội nhập có ý nghĩa hết lý, điều hành các hoạt động sản xuất kinh<br /> sức quan trọng. doanh của doanh nghiệp và các loại hình tổ<br /> chức sản xuất kinh doanh khác; sáng tạo,<br /> 2. DOANH NHÂN VÀ TINH THẦN<br /> dám chấp nhận mạo hiểm, có trách nhiệm<br /> DOANH NHÂN<br /> xã hội; là lực lượng chủ yếu tạo lập và phát<br /> 2.1. Doanh nhân triển một mô hình tổ chức kinh doanh mới,<br /> Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, đáp<br /> doanh nhân, tùy thuộc góc độ tiếp cận, lĩnh ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị<br /> vực nghiên cứu. Doanh nhân là nhà đầu tư, là trường hiện đại”.<br /> nhà quản lý, là người chèo lái thuyền doanh<br /> 2.2. Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp<br /> nghiệp mà điểm khác biệt của doanh nhân với<br /> Tinh thần khởi nghiệp (entrepreneurship)<br /> những người khác là ở chỗ họ là người dám<br /> còn được gọi là tinh thần doanh nhân khởi<br /> chấp nhận mạo hiểm, rủi ro khi dấn thân vào<br /> nghiệp, là một thuật ngữ xuất hiện khá lâu<br /> con đường kinh doanh. Nói một cách chặt<br /> trên thế giới và cũng đã xuất hiện nhiều trong<br /> chẽ, doanh nhân là những người chủ doanh<br /> các bài viết ở Việt Nam những năm gần đây.<br /> nghiệp trực tiếp kinh doanh doanh nghiệp<br /> Theo các nhà nghiên cứu thì những doanh<br /> của mình, những người được cử hoặc được<br /> nhân có tinh thần khởi nghiệp thật sự phải là<br /> thuê để quản lý doanh nghiệp, thực hiện<br /> <br /> 108<br /> Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ...<br /> <br /> <br /> những con người mà bản thân họ có hoài bão lại “thành quả bền vững”, và một chu kỳ mới<br /> vượt lên số phận, chấp nhận rủi ro với tinh lại bắt đầu với việc “nắm bắt cơ hội kinh<br /> thần đổi mới và sáng tạo; đồng thời dũng cảm doanh” mới... Đồng thời, các yếu tố này lại<br /> gánh chịu những tai họa nghiêm trọng về vật có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại<br /> chất và tinh thần khi làm ăn thua lỗ. với nhau. Sáng tạo - đổi mới là nền tảng cho<br /> Nhà kinh tế học Mỹ Peter F. Drucker phát hiện, tạo ra cơ hội kinh doanh mới; tính<br /> cho rằng “tinh thần doanh nhân khởi nghiệp dám nghĩ, dám làm, dám chấp nhận rủi ro,<br /> được hiểu là hành động của doanh nhân khởi thực hiện các kế hoạch kinh doanh khi thông<br /> nghiệp - người tiến hành việc biến những cảm tin chưa rõ ràng, nguồn lực chưa đầy đủ sẽ<br /> nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và là định hướng tư duy cho khám phá cơ hội<br /> sự đổi mới thành những sản phẩm hàng hóa kinh doanh. Đi trước đối thủ nhờ nắm bắt cơ<br /> mang tính kinh tế. Kết quả của những hành hội, chấp nhận rủi ro và sáng tạo - đổi mới<br /> động này là tạo nên những tổ chức mới hoặc sẽ mang lại thành quả tốt cho doanh nhân và<br /> góp phần tái tạo những tổ chức đã “già cỗi”. nhờ có thành quả tốt đó doanh nhân lại sử<br /> Hình thức rõ ràng nhất của tinh thần doanh dụng nó làm nền tảng cho tái đầu tư một chu<br /> nhân khởi nghiệp là bắt đầu xây dựng những kỳ kinh doanh mới [3].<br /> doanh nghiệp mới” [2]. 3. THỰC TRẠNG TINH THẦN DOANH<br /> Do vậy, doanh nhân được nhận diện và NHÂN KHỞI NGHIỆP Ở VIỆT NAM<br /> phân biệt với những người làm nghề kinh 3.1. Thực trạng nắm bắt cơ hội kinh doanh<br /> doanh khác như nhà quản trị, thương gia...<br /> Doanh nhân trước hết phải là người có<br /> bởi các yếu tố cốt lõi của tinh thần kinh doanh<br /> định hướng cơ hội. Người có định hướng cơ<br /> là: Khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, sự<br /> hội là người có tư duy hướng ra bên ngoài<br /> khởi nghiệp (new venture startup); thái độ<br /> thay vì hướng vào bên trong; luôn cố gắng<br /> chấp nhận rủi ro (taking risk); tính sáng tạo<br /> thực hiện những điều còn mơ hồ, chưa ai biết<br /> - đổi mới (creative - innovation); đạt những<br /> cách thực hiện, xây dựng những phương án<br /> thành quả có tính bền vững (reward). Các yếu<br /> thực hiện dựa trên nguồn lực và năng lực mà<br /> tố cốt lõi đó của tinh thần kinh doanh có mối<br /> bản thân chưa đủ, chưa có; làm hết sức để<br /> quan hệ biện chứng và chu kỳ: “Nắm bắt cơ<br /> đạt được mục tiêu thay vì tìm cách sử dụng<br /> hội kinh doanh” sẽ dẫn đến “Dám chấp nhận<br /> những gì đang có. Nhận thức về cơ hội khởi<br /> rủi ro” để triển khai cơ hội kinh doanh đó<br /> nghiệp ở Việt Nam được thể hiện ở Bảng 1.<br /> một cách “sáng tạo - đổi mới” từ đó mang<br /> <br /> <br /> Bảng 1: Nhận thức về cơ hội khởi nghiệp ở Việt Nam (Đơn vị tính %)<br /> <br /> 2013 2014 2015<br /> Việt Nam 36,8 39,4 56,8<br /> Philippin 48 45,9 53,8<br /> Indonexia 47 45,5 49,9<br /> Thai lan 45 47,3 41,0<br /> Malaixia 41 43,4 28,2<br /> <br /> <br /> <br /> 109<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> <br /> Các nước dựa trên nguồn lực 61 54,6 53,8<br /> Các nước dựa trên hiệu quả 42 42,4 41,1<br /> Các nước dựa trên đổi mới 33 38,8 39,6<br /> <br /> Nguồn: Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam<br /> <br /> Bảng 1 cho thấy, tỷ lệ người trưởng thành Có nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn<br /> nhận thấy có cơ hội để bắt đầu một việc kinh đề này, tuy nhiên nguyên nhân chính đó là<br /> doanh mới ở Việt Nam trong năm 2013 chỉ những người trưởng thành của Việt Nam đã<br /> đạt 36,8%, nhưng tăng lên 56,8% năm 2015 nhận thấy có đủ kiến thức, kỹ năng và kinh<br /> cao hơn so với mức bình quân 53,8% của nghiệm cần thiết để bắt đầu kinh doanh. Bảng<br /> các nước đang ở trong giai đoạn phát triển 2, thể hiện nhận thức khả năng kinh doanh ở<br /> tương tự như Việt Nam khi mà tăng trưởng Việt Nam.<br /> kinh tế dựa trên các yếu tố đầu vào.<br /> <br /> <br /> Bảng 2: Nhận thức khả năng kinh doanh ở Việt Nam (Đơn vị tính %)<br /> <br /> 2013 2014 2015<br /> Việt Nam 48,7 58,2 56,8<br /> Philippin 68 66,1 69,0<br /> Indonexia 62 60,2 65,3<br /> Thai lan 44 50,1 46,2<br /> Malaixia 28 38,4 27,8<br /> Các nước dựa trên nguồn lực 69 64,7 65,8<br /> Các nước dựa trên hiệu quả 52 54,9 53,0<br /> Các nước dựa trên đổi mới 41 42,0 41,9<br /> <br /> Nguồn: Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam<br /> <br /> <br /> Bảng 2, cho thấy tỷ lệ người Việt Nam tự nhận thức về kinh doanh, tạo kiến thức và<br /> tin về khả năng kinh doanh năm 2014 và 2015 kỹ năng khởi nghiệp và vận hành hoạt động<br /> tăng nhanh so với 2013. Tuy nhiên, so với kinh doanh.<br /> các nước ASEAN Việt nam cao hơn Malaixia<br /> 3.2. Thực trạng dám chấp nhận rủi ro<br /> (thứ 57), Thai lan (thứ 36) nhưng lại thấp hơn<br /> Lo sợ thất bại mặc dù đã nhận biết được<br /> Indonexia (thứ 10) và Philippin (thứ 8). Điều<br /> cơ hội kinh doanh là một trong những yếu<br /> này cho thấy, nhận thức về kinh doanh của<br /> tố tâm lý quan trọng cản trở sự tham gia vào<br /> người Việt Nam, là một trong những trở ngại.<br /> kinh doanh của các doanh nhân.<br /> Do đó, cần quan tâm đến vai trò quan trọng<br /> của giáo dục đào tạo trong việc phát triển<br /> <br /> <br /> <br /> 110<br /> Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ...<br /> <br /> <br /> Bảng 3: Lo sợ thất bại kinh doanh ở Việt Nam (Đơn vị tính %)<br /> <br /> 2013 2014 2015<br /> Việt Nam 56,7 50,1 45,6<br /> Philippin 36 37,7 36,5<br /> Indonexia 35 38,1 39,5<br /> Thai lan 49 42,4 46,6<br /> Malaixia 33 26,8 27,1<br /> Các nước dựa trên nguồn lực 31 31,4 35,1<br /> Các nước dựa trên hiệu quả 34 31,6 33,3<br /> Các nước dựa trên đổi mới 38 37,8 38,7<br /> <br /> Nguồn: Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam<br /> <br /> Thông thường, các nước đang phát triển cũ tương tự. Như vậy sự sáng tạo của doanh<br /> ở giai đoạn đầu có tỷ lệ lo sợ thất bại trong nhân giúp đáp ứng nhu cầu của thị trường<br /> kinh doanh nhỏ hơn tỷ số này của Việt Nam, hiện tại và phát triển nhu cầu trong tương lại.<br /> và những quốc gia càng phát triển, người Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam<br /> dân càng cẩn thận hơn khi tham gia vào năm 2015 cho thấy, có 16,5% hoạt động kinh<br /> hoạt động kinh doanh. Năm 2013 chỉ số lo doanh ở giai đoạn khởi nghiệp Việt Nam<br /> sợ thất bại của Việt Nam rất cao là 56,7%. được coi là có tính sáng tạo, xếp 50/60 nền<br /> Tuy nhiên, đến năm năm 2014 và 2015 nhờ kinh tế, thấp hơn mặt bằng chung các nước<br /> những nỗ lực cải thiện môi trường kinh cùng trình độ phát triển. So với các nước<br /> doanh của chính phủ, chỉ số lo sợ thất bại trong khu vực ASEAN, tính sáng tạo trong<br /> trong kinh doanh của người Việt Nam đã hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam thấp<br /> giảm xuống còn 50,1% năm 2014 và 45,6% hơn Philippin (16/60), Thái lan (42/60) và<br /> năm 2015. Tuy chỉ số này đã giảm nhưng Indonexia (46/60).<br /> vẫn còn ở mức cao, xếp thứ 8/60 nước trong<br /> Bên cạnh đó, Doanh nhân Việt Nam được<br /> năm 2015, vẫn còn ở mức cao so với các<br /> đánh giá là có sự linh hoạt - mềm dẻo, là yếu<br /> quốc gia cùng trình độ phát triển và cao hơn<br /> tố rất thuận lợi trong đàm phán, thương lượng<br /> mức trung bình của các nước phát triển ở<br /> và là nền tảng cho sự tiếp thu cái mới, nền<br /> giai đọan III.<br /> văn hóa, văn minh mới của nhân loại. Tuy<br /> 3.3. Thực trạng hoạt động sáng tạo - nhiên, sự mềm dẻo, linh hoạt theo tính cách<br /> đổi mới của người Việt Nam lại rất dễ dẫn đến tư duy<br /> Tính sáng tạo của doanh nhân thể hiện ở không nhất quán, thiếu nguyên tắc hay thói<br /> khả năng kết hợp đa dạng các yếu tố nguồn quen tùy tiện. Tính linh hoạt của người Việt<br /> lực sản xuất ở các phương án khác nhau nhằm Nam là linh hoạt trong đối phó, ứng xử - đó<br /> tạo nên sức cạnh tranh mới, sản phẩm mới. là linh hoạt bị động. Còn linh hoạt chủ động<br /> Điều này giúp người tiêu dùng có thêm sự là dựa trên kế hoạch chi tiết, cẩn trọng, dựa<br /> lựa chọn về sản phẩm mới thay thế sản phẩm trên nền tảng học vấn vững chắc.<br /> <br /> <br /> 111<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> <br /> Bảng 4: Định hướng đổi mới trong các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam<br /> Đơn vị tính: %<br /> <br /> Giai đoạn Không mới Hơi mới Mới<br /> kinh doanh<br /> Sản Thị Công Sản Thị Công Sản Thị Công<br /> phẩm trường nghệ phẩm trường nghệ phẩm trường nghệ<br /> <br /> Giai đoạn 55 63,4 68,1 40,3 34,4 27,5 4,8 2,2 4,4<br /> khởi nghiệp<br /> Giai đoạn đã 57,7 57,5 88 39,6 40,9 11,5 2,8 1,5 0,5<br /> ổn định<br /> <br /> Nguồn: Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam<br /> <br /> Nhìn vào Bảng 4 ta thấy các hoạt động trọng. Tuy nhiên, với hệ thống thể chế còn<br /> kinh doanh ở Việt Nam đa phần không mang chưa hoàn thiện, tính nghiêm minh của pháp<br /> tính đổi mới, ở cả giai đoạn khởi nghiệp và luật chưa cao, nên việc kinh doanh có đạo<br /> giai đoạn đã ổn định. Trong năm 2015, đối đức và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội đặc<br /> với giai đoạn khởi nghiệp, chỉ có 4,8% hoạt biệt là áp dụng các tiêu chuẩn của thế giới<br /> động kinh doanh các sản phẩm mới, 2,2% được nhìn nhận là chưa mang lại hiệu quả<br /> hoạt động kinh doanh mới đối với thị trường tức thì, phát sinh nhiều chi phí, không thiết<br /> và 4,4% hoạt động kinh doanh sử dụng công thực và thậm chí có nhiều doanh nhân còn<br /> nghệ mới. Ở giai đoạn đã ổn định, tỷ lệ hoạt cho rằng nó làm giảm sức cạnh tranh của sản<br /> động kinh doanh mới lần lượt là: 2,8% về sản phẩm trên thị trường khi tổ chức tuân thủ<br /> phẩm, 1,5% về thị trường và 0,5% về công đúng đạo đức và thực hiện tốt trách nhiệm xã<br /> nghệ. Số liệu Bảng 1 cũng cho thấy có sự hội của mình. Thậm chí chữ -tín trong kinh<br /> khác biệt giữa các hoạt động kinh doanh ở doanh chưa được đáng giá cao trong cộng<br /> giai đoạn đầu và đã phát triển. Các hoạt động đồng các doanh nhân, mặt khác trách nhiệm<br /> kinh doanh ở giai đoạn đầu đã có định hướng xã hội của doanh nhân đang được hiểu một<br /> đổi mới về sản phẩm và công nghệ nhiều cách rất phiến diện. Rất nhiều doanh nhân<br /> hơn so với các hoạt động kinh doanh đã phát đang hiểu và thực hiện trách nhiệm xã hội<br /> triển, nhất là về công nghệ. chủ yếu qua các khía cạnh bề nổi, hình thức,<br /> với mục đích góp phần đánh bóng tên tuổi<br /> 3.4. Thành quả bền vững<br /> mà thiếu các hoạt động mang tính chiều sâu,<br /> Doanh nhân Việt Nam đã bắt đầu nhận<br /> tạo khả năng phát triển bền vững cho tổ chức<br /> thức được việc kinh doanh có đạo đức và<br /> và cho xã hội.<br /> thực hiện trách nhiệm xã hội là rất quan<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 112<br /> Tinh thần doanh nhân khởi nghiệp ...<br /> <br /> <br /> Bảng 5: Hoạt động xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam<br /> Đơn vị tính: %<br /> Giai đoạn Việt Philippin Indonexia Malaixia Trung Hàn Trung bình<br /> kinh doanh Nam quốc quốc thế giới<br /> Giai đoạn 1,1 7,12 1,56 0,72 5,52 0,25 3,2<br /> khởi nghiệp<br /> <br /> Kinh doanh 0,65 7,47 2,34 1,35 2,91 1,25 3,7<br /> đã ổn định<br /> <br /> Nguồn: Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam<br /> <br /> Bảng 5 cho thấy, các hoạt động xã hội nhất quán và đồng bộ từ chính phủ và các<br /> ở Việt nam chưa thật sự phát triển, nhất là cấp chính quyền cho hoạt động khởi nghiệp.<br /> so với các nước trong khu vực châu á như Hiện nay, các chính sách, mô hình hỗ trợ<br /> Philippin, Indonesia, Trung quốc. Năm 2015, khởi nghiệp tại Việt Nam vẫn còn quá thiếu<br /> các hoạt động xã hội ở Việt Nam ở giai đoạn và yếu kém.<br /> khởi nghiệp chỉ là 1,1% trong khi đó mức Ba là, Ban hành đầy đủ các chính sách<br /> trung bình thế giới là 3,2% và giai đoạn kinh thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân trong nước<br /> doanh ổn định là 0,65% so với mức trung tăng trưởng. Nhà nước phải thực sự xem kinh<br /> bình thế giới là 3,7%. tế tư nhân là động lực phát triển xã hội. Cùng<br /> với đó, cần nhanh chóng và kiên quyết cải<br /> 4. XÂY DỰNG TINH THẦN DOANH NHÂN<br /> cách thể chế theo hướng giảm mạnh thủ tục<br /> KHỞI NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TRONG<br /> hành chính, triệt bỏ tệ nạn sách nhiễu doanh<br /> ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP<br /> nghiệp từ các cơ quan công quyền, tạo mọi<br /> Một là, tiếp tục cải thiện môi trường kinh điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình khởi<br /> doanh thông qua gỡ bỏ các rào cản. Cần nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh của<br /> tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, xây cộng đồng doanh nghiệp được thông suốt và<br /> dựng lại lòng tin cho người làm kinh doanh, hiệu quả.<br /> thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp. Nhà nước cần<br /> Bốn là, Cần phải hình thành tinh thần<br /> kiên định với các chính sách ổn định kinh tế<br /> khởi nghiệp cho giới trẻ ngay từ khi còn ngồi<br /> vĩ mô. Đồng thời, cần cải thiện hệ sinh thái<br /> trên ghế nhà trường. Cải cách hệ thống giáo<br /> khởi nghiệp để thúc đẩy phong trào khởi<br /> dục từ phổ thông đến đại học theo hướng<br /> nghiệp và phát triển kinh doanh ở Việt Nam.<br /> gắn giáo dục - đào tạo với hoạt động thực<br /> Hoàn thiện mạng lưới các dịch vụ hỗ trợ kinh<br /> tiễn, đề cao tinh thần làm chủ, thúc đẩy văn<br /> doanh thông qua phát triển các nhà cung cấp<br /> hóa khởi nghiệp là điều kiện tiên quyết để<br /> dịch vụ tư nhân, các hiệp hội doanh nghiệp.<br /> bản thân mỗi người hình thành ý chí tự thân<br /> Đồng thời, Chính phủ cần khuyến khích các<br /> lập nghiệp. Đồng thời, cần xây dựng chương<br /> doanh nghiệp lớn khởi nghiệp các hoạt động<br /> trình, lộ trình cụ thể để nâng cao nhận thức,<br /> kinh doanh xã hội để làm bệ đỡ cho hoạt động<br /> khơi dậy tinh thần khởi nghiệp cho người<br /> khởi nghiệp của các doanh nghiệp nhỏ, trẻ.<br /> dân nói chung trong tất cả các định chế<br /> Hai là, Cần có các chính sách hỗ trợ xã hội.<br /> <br /> 113<br /> Tạp chí Kinh tế - Kỹ thuật<br /> <br /> Năm là, Thúc đẩy đam mê, tinh thần dưỡng tinh thần khởi nghiệp chủ động, vì<br /> khởi nghiệp trong thanh niên. Khởi nghiệp môi trường xã hội luôn là yếu tố quan trọng<br /> ở đâu, trong bất kỳ lĩnh vực nào luôn cần sự nhất tạo nên phương thức sinh tồn của con<br /> đam mê, độ kiên trì bền bỉ. Khởi nghiệp là người. Nhà nước hay các tổ chức xã hội xây<br /> chặng đường nhiều chông gai gian khó, cần dựng các loại vườn ươm khởi nghiệp, tạo<br /> có đam mê để sẵn sàng dấn thân, kiên nhẫn điều kiện hỗ trợ cho những ý tưởng sáng tạo<br /> đi trên một chặng đường dài. Nếu không có sớm được áp dụng. Hằng năm nên có những<br /> niềm đam mê khởi nghiệp, không toàn tâm cuộc thi sáng tạo. Những sáng tạo có giá trị<br /> toàn ý thì rất khó đi tới đích; nên đam mê sẽ được giải thưởng xứng đáng. Những sáng<br /> trong khởi nghiệp là yếu tố, có ý nghĩa đặc tạo có thể tạo được giá trị kinh tế cũng có<br /> biệt quan trọng. thể đem ra áp dụng tại các vườn ươm, hay<br /> bán quyền sở hữu trí tuệ lại cho các doanh<br /> Sáu là, Thúc đẩy tinh thần chủ động nghiệp.<br /> khởi nghiệp. Chúng ta cần xây dựng và nuôi<br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO [4] Huyền Trang (2017), Khởi nghiệp công<br /> nghệ: cơ hội cho giới trẻ Việt thực hiện ước<br /> [1] Đỗ Minh Cương (2009), “Bàn về khái mơ thay đổi thế giới, http://vtc.vn/khoinghiep-<br /> niệm doanh nhân Việt Nam”, Tạp chí Khoa cong-nghe-co-hoi-chogioi-tre-viet-thuc-hien-<br /> học Đại học quốc gia Hà nội, Kinh tế và Kinh uoc-mothay-doi-the-gioi-d309092.html<br /> doanh 25(2009). [5] VCCI (2016), Báo cáo chỉ số khởi nghiệp<br /> [2] Peter F. Drucker, Tinh thần doanh nhân Việt nam 2013,2014,2015, NXB giao thông<br /> khởi nghiệp và sự đổi mới, NXB Đại học vận tải, Hà Nội.<br /> Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2001. [6] VCCI (2017), Báo cáo thường niên doanh<br /> [3] Nguyễn Viết Lộc (2011), “Tinh thần kinh nghiệp Việt nam 2016, NXB Thông tin và<br /> doanh - Cơ sở xây dựng hệ giá trị văn hóa truyền thông.<br /> doanh nhân Việt Nam”, Tạp chí Khoa học<br /> Đại học quốc gia Hà nội, Kinh tế và Kinh<br /> doanh 27 (2011).<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 114<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2