intTypePromotion=4
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 142
            [banner_name] => KM3 - Tặng đến 150%
            [banner_picture] => 412_1568183214.jpg
            [banner_picture2] => 986_1568183214.jpg
            [banner_picture3] => 458_1568183214.jpg
            [banner_picture4] => 436_1568779919.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 9
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:12:29
            [banner_startdate] => 2019-09-12 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-12 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => minhduy
        )

)

Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của John Dewey

Chia sẻ: ViUzumaki2711 ViUzumaki2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
7
lượt xem
1
download

Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của John Dewey

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

John Dewey là một trong những người sáng lập tâm lí học chức năng và phát triển triết học thực dụng. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần nước Mĩ suốt thế kỉ XX, đặc biệt trên lĩnh vực giáo dục. Bài viết này giới thiệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của John Dewey với đóng góp nổi bật nhất của ông trong lĩnh vực giáo dục, đó là triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của John Dewey

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE<br /> Educational Sci., 2016, Vol. 61, No. 1, pp. 114-120<br /> This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn<br /> <br /> DOI: 10.18173/2354-1075.2016-0013<br /> <br /> TRIẾT LÍ GIÁO DỤC DÂN CHỦ, THỰC DỤNG CỦA JOHN DEWEY<br /> Nguyễn Thị Toan<br /> Trung tâm Nghiên cứu Tâm lí học và Giáo dục học, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam<br /> Tóm tắt. John Dewey là một trong những người sáng lập tâm lí học chức năng và phát triển<br /> triết học thực dụng. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng sâu sắc tới đời sống tinh thần nước Mĩ<br /> suốt thế kỉ XX, đặc biệt trên lĩnh vực giáo dục. Bài viết này giới thiệu khái quát về cuộc<br /> đời và sự nghiệp của John Dewey với đóng góp nổi bật nhất của ông trong lĩnh vực giáo<br /> dục, đó là triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng.<br /> Từ khóa: John Dewey, triết lí giáo dục, dân chủ, thực dụng.<br /> <br /> 1.<br /> <br /> Mở đầu<br /> <br /> John Dewey là triết gia – nhà giáo dục khởi xướng trào lưu Tân giáo dục, người phát ngôn<br /> cho nền giáo dục dân chủ Mĩ thế kỉ XX. Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của ông có ảnh hưởng<br /> sâu sắc và sức lan tỏa rộng rãi khắp nước Mĩ và châu Âu trong thời kì hiện đại. Đã có một số công<br /> trình nghiên cứu về tư tưởng giáo dục của J. Dewey trong dòng chảy của lịch sử tư tưởng giáo dục<br /> thế giới [5, 6, 11]. Cũng có những bài viết bước đầu đề cập tới triết lí giáo dục trong hệ thống triết<br /> học thực dụng của J. Dewey [1, 7, 10]. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về<br /> khía cạnh dân chủ và thực dụng trong triết lí giáo dục của ông.<br /> <br /> 2.<br /> 2.1.<br /> <br /> Nội dung nghiên cứu<br /> John Dewey – cuộc đời và sự nghiệp<br /> <br /> J. Dewey (1859 – 1952) xuất thân trong một gia đình bình dân tại thành phố Burlington,<br /> bang Vermont (Mĩ). Ông lấy bằng cử nhân triết học tại đại học Tổng hợp Vermont năm 1879 và<br /> bằng tiến sĩ triết học tại đại học John Hopkins năm1884. Sau đó, ông bắt đầu giảng dạy triết học<br /> tại đại học Michigan từ năm 1884 tới năm 1894. Tới năm 1894, ông rời Michigan để trở thành giáo<br /> sư triết học, chủ nhiệm phân khoa triết học, tâm lí học, giáo dục học tại đại học Chicago. Trong<br /> khoảng thời gian này, ông cùng với vợ thành lập trường Thực nghiệm của đại học Chicago (1896),<br /> song do bất đồng gay gắt với hiệu trưởng về cách quản lí trường, năm 1904, ông rời Chicago, đến<br /> dạy tại khoa triết của trường đại học Columbia, New York và làm việc tại đây cho tới khi về hưu.<br /> Năm 1905, ông được bầu làm Chủ tịch Hiệp hội Tâm lí học Mĩ. Trong quãng thời gian này, ông đã<br /> được chứng kiến sự lan tỏa triết lí giáo dục của mình trên thế giới bởi các học trò của ông.<br /> Ngoài công việc chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học, J. Dewey còn tích cực tham<br /> gia vào các hoạt động cải tạo xã hội: đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho phụ nữ, cải thiện đời sống<br /> Ngày nhận bài: 15/11/2015. Ngày nhận đăng: 10/2/2016.<br /> Liên hệ: Nguyễn Thị Toan, e-mail: toandhsp1@gmail.com.<br /> <br /> 114<br /> <br /> Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của John Dewey<br /> <br /> người nhập cư... Với vai trò một nhà hoạt động xã hội và tư vấn giáo dục, ông đã đi tham quan và<br /> tham gia giảng dạy ở một số nước như Nhật, Trung Quốc (1919 – 1921), nghiên cứu, tổ chức các<br /> báo cáo giáo dục tại Thổ Nhĩ Kì (1924), Nam Phi, Mexico, Liên Xô (1928). . . Thực tiễn giảng dạy,<br /> quản lí giáo dục và tham gia hoạt động xã hội đã bổ trợ cho John Dewey những hiểu biết phong<br /> phú về giáo dục. Mặt khác, việc nghiên cứu sâu sắc, đề xuất triết học thực dụng đã đặt nền tảng cho<br /> triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của John Dewey. Bằng quá trình lao động khoa học miệt mài<br /> và nghiêm túc, J. Dewey đã cho ra đời một khối lượng công trình khoa học đồ sộ với giá trị lí luận<br /> và thực tiễn sâu sắc. Các tác phẩm tiêu biểu của J. Dewey là những tác phẩm bàn về triết học, tâm<br /> lí, giáo dục, dân chủ, đạo đức, tôn giáo và nghệ thuật như: Tiểu luận về quan niệm con người trong<br /> triết học Leibniz (Leibnizs New Essays Concerning the Human Unerstanding, 1886), Tâm lí học<br /> (Psychology, 1887), Trường học và xã hội (The School anh Society, 1899), Trẻ em và chương trình<br /> (The Child and the Curriculum), Chúng ta tư duy như thế nào (How We Think, 1910), Dân chủ và<br /> giáo dục (Democracy and Education, 1916), Tái cấu trúc triết học (Reconstruction in Philosophy,<br /> 1920), Nhân tính và cách ứng xử (Human Nature and Conduct, 1922), Logic học: Lí thuyết thẩm<br /> tra (Logic: The Theory of Inquiry, 1938); Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education,<br /> 1938). . . Trong phần lớn các tác phẩm này, J.Dewey đều chủ trương xây dựng một nền giáo dục<br /> dân chủ gắn lí thuyết với thực hành.<br /> <br /> 2.2.<br /> <br /> Những điều kiện, tiền đề hình thành triết lí giáo dục của John Dewey<br /> <br /> Tình hình kinh tế - xã hội: J. Dewey sống trong thời đại nước Mĩ chứng kiến những sự đổi<br /> thay đáng kinh ngạc. Trong không đầy một thế kỉ kể từ khi G.Washington trở thành tổng thống đầu<br /> tiên của Mĩ vào năm 1789, sau cuộc nội chiến 1861 – 1865, nền kinh tế của quốc gia non trẻ này<br /> đã đi từ mảnh ghép của nhiều ngành nghề đa dạng với sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang nền<br /> kinh tế công nghiệp hiện đại, đô thị hóa, thương mại hóa với sự phát triển mạnh mẽ của đường sắt,<br /> dầu mỏ và điện năng. Thực tế đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực mới với trình độ kĩ thuật cao,<br /> năng động, sáng tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự phát triển kinh tế - xã hội Mĩ. Nền<br /> giáo dục truyền thống kinh viện, giáo điều, xa rời thực tiễn của xã hội nông nghiệp khép kín, bảo<br /> thủ không còn đủ sức đáp ứng yêu cầu này. Nắm bắt được yêu cầu mới đó, J. Dewey là người đã đi<br /> tiên phong trong việc khởi xướng trào lưu Tân giáo dục, mở đường cho lí luận giáo dục hiện đại,<br /> đề cao tinh thần dân chủ, thực dụng trong giáo dục.<br /> Tình hình chính trị - xã hội: Tinh thần dân chủ là đặc điểm chính trị - xã hội nổi bật của<br /> nước Mĩ thế kỉ XIX – XX. Sau khi chiến tranh giành độc lập thắng lợi, nhân dân Mĩ đã liên tục<br /> đấu tranh để bảo vệ và mở rộng quyền dân chủ mà cách mạng đã đem lại. Cuộc nội chiến giữa hai<br /> miền Nam – Bắc kéo dài suốt bốn năm (1861 – 1865) với sự kết thúc thắng lợi của đảng Cộng<br /> hòa đã xóa bỏ chế độ nô lệ. Việc xây dựng chế độ tư bản chủ nghĩa không qua chế độ phong kiến<br /> bảo thủ cũng khiến cho sự tự do dân chủ, tôn trọng cá tính và ý thức cá nhân được phát huy tối<br /> đa ở Mĩ. Tinh thần dân chủ còn biểu hiện rõ ràng trong các chính sách và hoạt động chính trị của<br /> nước Mĩ. Mĩ là một nước Cộng hòa liên bang gồm nhiều bang, mỗi bang có một luật pháp riêng<br /> và có quyền lực độc lập với chính phủ liên bang. Dự luật về Quyền con người (1789) đảm bảo cho<br /> người Mĩ quyền tự do ngôn luận, biểu tình, tự do tôn giáo và báo chí. Sự dân chủ còn biểu hiện<br /> trong sự phân công chính trị “Tam quyền phân lập”, đảm bảo cho sức mạnh chính trị không bị tập<br /> trung tuyệt đối vào “trong cùng một bàn tay”, dễ dẫn tới hiện tượng độc quyền. Việc xuất hiện nhà<br /> cải cách Thomas Jefferson (1743 – 1826) là luật gia, chính trị gia, Tổng thống thứ ba của Mĩ đã<br /> mở đường cho việc xây dựng bầu không khí dân chủ toàn nước Mĩ. Đây là môi trường thuận lợi<br /> cho việc tách giáo dục khỏi nhà thờ, xây dựng một nền giáo dục thực sự dân chủ. Tinh thần cách<br /> tân giáo dục, triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của J. Dewey đã được nảy mầm từ mảnh đất dân<br /> chủ màu mỡ đó nên nhanh chóng được hiện thực hóa, trở thành một trào lưu giáo dục tiến bộ của<br /> nước Mĩ.<br /> 115<br /> <br /> Nguyễn Thị Toan<br /> <br /> Văn hóa, giáo dục và con người Mĩ: Mĩ là một quốc gia đa chủng tộc, đa văn hóa, xuất<br /> phát từ bối cảnh di dân và xâm chiếm thuộc địa. Đó là đất nước đón nhận nhiều người di cư hơn<br /> bất kì một quốc gia nào khác. Bởi vậy, người Mĩ là “sự pha trộn lạ lùng của các dòng máu”, “trong<br /> dòng máu người Mĩ không thể không có dòng máu của cả thế giới” [7; 6]. Để rời bỏ quê hương<br /> đến sống ở miền đất xa lạ, phải có lòng dũng cảm và sự linh hoạt. Người Mĩ là những người dám<br /> chấp nhận rủi ro, thử thách, độc lập, tự lực cánh sinh và ý thức mạnh mẽ về sự bình đẳng. Kết quả<br /> của xã hội dân chủ và bình đẳng là những con người tôn trọng tự do cá nhân. Khi xã hội đã tạo<br /> điều kiện cho con người bình đẳng hơn, người Mĩ sẽ có cảm giác “chẳng nợ ai một cái gì”. Từ đó<br /> “họ nuôi một thói quen coi bản thân mình là kẻ đứng tách ra một mình và họ có xu hướng tưởng<br /> tượng là bàn tay họ đã nắm gọn tất cả số phận của chính mình” [7; 88-89]. Những đặc trưng tính<br /> cách này của người Mĩ là một trong những cơ sở để J. Dewey xây dựng triết lí giáo dục dân chủ,<br /> thực dụng, tôn trọng tự do cá nhân của người học. Bởi vậy, triết lí đó dễ dàng được tiếp nhận hơn<br /> ở nhiều miền đất khác, dân tộc khác.<br /> Mĩ cũng là một trong những nước có hệ thống giáo dục đa dạng. Mỗi bang có một luật giáo<br /> dục riêng, có thể giống hoặc khác các bang khác. Chương trình học vừa mang tính bắt buộc vừa<br /> mang tính tự chọn. Nhờ đặc trưng này mà J. Dewey có thể đưa quan điểm giáo dục vào thực tiễn<br /> mà không sợ làm xáo trộn chương trình và tiến trình học tập. Nền giáo dục Mĩ cũng một trong<br /> những lĩnh vực thể hiện rõ rệt tính dân chủ của người Mĩ. Người Mĩ hiểu rằng tương lai phụ thuộc<br /> vào trí tuệ của chính họ chứ không phải một ai khác. Vì vậy, họ dành mối quan tâm sâu sắc tới giáo<br /> dục. Những câu hỏi về mục đích, phương pháp học tập trở thành những vấn đề cơ bản trong các<br /> cuộc tranh luận về giáo dục tại Mĩ. Những người đi tiên phong trong công cuộc cải tổ giáo dục đã<br /> nỗ lực xây dựng các tiêu chuẩn về đào tạo giáo viên, về việc nhấn mạnh tính hiệu quả trong giáo<br /> dục. Điển hình, luật sư, chính trị gia, nhà giáo dục Horace Mann (1796 – 1859) đã đưa ra chương<br /> trình giáo dục tích cực với các đặc điểm: đại chúng, miễn phí (chính quyền đài thọ), hiệu quả, coi<br /> trọng giáo dục đạo đức, tách khỏi tôn giáo, phương pháp sư phạm thực dụng, đội ngũ giáo viên<br /> chuyên nghiệp, nhiệt thành, yêu nghề, được đào tạo bài bản. J. Dewey đã tiếp thu có chọn lọc tinh<br /> thần này để xây dựng triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng cho nước Mĩ.<br /> Triết học thực dụng: Triết lí giáo dục của J. Dewey ra đời trên nền tảng triết học thực dụng<br /> mà ông và C. Peirce, W. James dày công xây dựng. Triết học này là sự kế thừa triết học truyền<br /> thống với tinh thần của Socrate “Hãy nhận thức chính mình”, F. Bacon coi “tri thức là sức mạnh”,<br /> G. Hegel với tinh thần biện chứng về sự phát triển lịch sử và mối liên hệ giữa các thế hệ người. . . ,<br /> trực tiếp là tư tưởng của hai nhà triết học thực dụng C. Peirce và W. James. C.Peirce (1839 – 1914)<br /> là cha đẻ của chủ nghĩa thực dụng với tham vọng xây dựng thực dụng luận thành phương pháp<br /> luận khoa học để phân tích ý nghĩa của khái niệm trừu tượng, từ đó hình thành niềm tin cho con<br /> người. Theo ông, niềm tin không thể được xây dựng bằng phương pháp cố chấp, cưỡng bức hay<br /> tiên nghiệm mà phải bằng phương pháp khoa học với sức mạnh là kinh nghiệm thực tế. Cùng với<br /> đó, lí thuyết về chân lí của C. Peirce có ảnh hưởng sâu sắc tới triết học của J. Dewey nói chung,<br /> triết lí giáo dục của ông nói riêng. Bên cạnh đó, W. James (1842 – 1910) cũng có ảnh hưởng trực<br /> tiếp tới J. Dewey trên phương diện tâm lí học cơ năng. W. James giải thích về dòng ý thức với các<br /> đặc trưng: tư tưởng là của mỗi cá nhân, luôn vận động và biến đổi liên tục, có tính lựa chọn, gắn<br /> với lợi ích và hứng thú của con người. W. James cũng đưa ra quan niệm về chân lí: chân lí là thuộc<br /> tính của tư tưởng, tương ứng với kinh nghiệm đang biến đổi của con người, là quan niệm xác định<br /> niềm tin của con người, thỏa mãn nhu cầu, nguyện vọng có ích của con người, mang tính cụ thể<br /> và hữu dụng. Tư tưởng của W. James đã khai mở mạnh mẽ cho J. Dewey khi xây dựng triết lí giáo<br /> dục hiện đại, nhấn mạnh vai trò của kinh nghiệm, hành động, thói quen và tính hiệu quả trong quá<br /> trình giáo dục.<br /> Thuyết tiến hóa: Tiêu biểu cho thành tựu khoa học thời kì này là thuyết tiến hóa của Charles<br /> Darwin. Quan niệm sự sống là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài qua quá trình đấu tranh sinh<br /> 116<br /> <br /> Triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng của John Dewey<br /> <br /> tồn và chọn lọc tự nhiên đã làm lung lay siêu hình học truyền thống, đặc biệt là nền tảng cơ giới<br /> luận của triết học, phá vỡ quyền uy của chủ nghĩa duy tâm trong triết học cổ điển Đức, mở đường<br /> cho sự phát triển của phương pháp thực nghiệm. J. Dewey đã kế thừa thành tựu khoa học này để<br /> xây dựng môn tâm lí học chức năng và triết lí giáo dục hiện đại.<br /> Như vậy, triết lí giáo dục hiện đại của J. Dewey đã được hình thành từ những điều kiện kinh<br /> tế, chính trị, văn hóa, giáo dục đặc thù của nước Mĩ cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Điều làm nên<br /> sức hấp dẫn, tính thuyết phục của triết lí này còn bởi đó là sự kế thừa có chọn lọc thành tựu triết<br /> học và khoa học tự nhiên đương thời.<br /> <br /> 2.3.<br /> <br /> Nội dung cơ bản trong triết lí giáo dục của J.Dewey<br /> <br /> 2.3.1. Triết lí giáo dục là gì?<br /> Trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”, J. Dewey đã đưa ra định nghĩa về triết lí giáo dục.<br /> Theo ông, triết lí giáo dục là sự thể hiện rõ nhất mối quan hệ mật thiết giữa triết học và giáo dục:<br /> “Nếu chúng ta sẵn sàng quan niệm giáo dục như là quá trình đào tạo ra các xu hướng căn bản, xu<br /> hướng tinh thần và xu hướng tình cảm. . . thì triết học có thể được định nghĩa như là lí luận chung<br /> của giáo dục” [1; 386], “Giáo dục là phòng thí nghiệm ở đó sự độc đáo của triết học trở nên cụ<br /> thể và được chứng minh” [1; 388] Trên cơ sở phê phán ba triết lí giáo dục điển hình trong lịch sử:<br /> triết lí giáo dục của Rousseau quá chú trọng cá nhân còn triết lí giáo dục Platon quá chú trọng tới<br /> xã hội trong đó cá nhân sinh hoạt, triết lí giáo dục duy tâm thế kỉ XIX thu hẹp khái niệm mục tiêu<br /> xã hội, khiến cá nhân phải phụ thuộc vào thiết chế, J. Dewey quan niệm trí tuệ và sự hình thành<br /> trí tuệ là một tiến trình chung, cá nhân chỉ là một khái niệm có ý nghĩa khi tham gia vào tiến trình<br /> xã hội và trở thành một bộ phận không thể tách rời của xã hội, còn xã hội chỉ có vai trò hiện thực<br /> hóa sự tồn tại của các cá nhân. Từ đó, ông cho rằng: “Triết lí giáo dục chỉ đơn giản là sự phát biểu<br /> rõ ràng về các vấn đề của sự đào tạo các thói quen tinh thần và đạo đức đúng đắn trong mối liên<br /> quan đến những trở ngại nằm trong đời sống xã hội đương thời. Vậy thì, có thể định nghĩa ‘triết lí’<br /> một cách sâu sắc nhất như sau: triết lí là lí luận giáo dục xét trên các phương diện phổ biến nhất”<br /> [1; 389]. Ông khẳng định rằng, việc tái kiến tạo hệ thống triết lí, nền giáo dục, lí tưởng xã hội và<br /> các phương pháp phải song hành với nhau. Sự thay đổi triệt để trong đời sống xã hội xảy ra đồng<br /> thời với tiến bộ khoa học, cách mạng công nghiệp và sự phát triển của nền dân chủ đòi hỏi phải có<br /> sự cải cách nền giáo dục, trong đó việc có một hệ triết lí giáo dục đúng đắn là điều vô cùng quan<br /> trọng. “Giáo dục không thể tồn tại đơn thuần như một giả thuyết về điều nó khao khát” mà phải là<br /> quá trình đem lại sự đổi thay cần thiết theo định hướng của triết lí giáo dục. Ông kết luận: “Triết<br /> lí là lí luận giáo dục xét như một thực tiễn được thực hiện một cách có chủ tâm” [1; 390]. Như<br /> vậy, triết lí giáo dục là những tri thức có tính mở đường, là công cụ lí thuyết để triển khai toàn bộ<br /> nền giáo dục về mục tiêu, đội ngũ giáo viên, nội dung, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp<br /> giảng dạy. . . Điều này được ông phân tích khá sâu sắc, tỉ mỉ trong các công trình nghiên cứu, đặc<br /> biệt là trong tác phẩm “Dân chủ và giáo dục”.<br /> <br /> 2.3.2. Dân chủ và thực dụng – tinh thần cốt lõi trong triết lí giáo dục của J.Dewey<br /> Sự quan tâm tới giáo dục của J. Dewey bắt đầu từ khi ông nhận thấy mâu thuẫn sâu sắc<br /> giữa nhà trường và xã hội. Trong khi nước Mĩ đang chứng kiến những đổi thay to lớn chưa từng<br /> thấy trong đời sống xã hội cũng như đời sống tinh thần và văn hóa ứng xử của con người thì nhà<br /> trường Mĩ vẫn đi theo truyền thống cũ kĩ, “tĩnh về nội dung, độc đoán về phương pháp”, người dạy<br /> nhồi nhét, áp đặt còn người học thì ghi nhớ thụ động, máy móc. Giáo dục lảng tránh những yêu<br /> cầu thực tiễn, không điều chỉnh theo những khám phá mới nhất về tâm lí trẻ em và nhu cầu của<br /> một xã hội dân chủ đang thay đổi. Bằng tinh thần dân chủ, J. Dewey coi nhà trường và xã hội dân<br /> chủ là hai thành tố nền tảng cần được xây dựng lại nhằm khuyến khích trí thông minh trải nghiệm<br /> 117<br /> <br /> Nguyễn Thị Toan<br /> <br /> (experimental intelligence). Theo ông, xã hội dân chủ là xã hội tạo cho mọi người quyền bình đẳng<br /> và dễ dàng có cơ hội tiếp cận tri thức, phát triển khả năng, xã hội mà quyền lực nằm trong khuynh<br /> hướng bên trong của nhân cách và hứng thú tự nguyện. Chỉ có giáo dục mới tạo ra quyền lực này<br /> song nền giáo dục truyền thống lại không thực hiện được điều đó. Bởi vậy, phải cấp thiết cải cách<br /> giáo dục mà việc trọng tâm là thay đổi triết lí giáo dục, thay đổi quan niệm về vị trí, chức năng,<br /> mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục. Việc tìm kiếm một triết lí giáo dục mới có thể khắc<br /> phục hạn chế này trở thành mối quan tâm chính của J. Dewey. Bằng phương pháp luận của triết<br /> học thực dụng, J. Dewey đã xây dựng triết lí giáo dục dân chủ, thực dụng làm linh hồn cho cuộc<br /> cách tân giáo dục của nước Mĩ. Tinh thần dân chủ và thực dụng thể hiện toàn diện trong quan niệm<br /> của J. Dewey về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục. . .<br /> Về mục tiêu giáo dục: Theo J. Dewey, không có mục tiêu chung chung, tách khỏi bối cảnh<br /> cụ thể. Mục tiêu phải được đặt ra dựa trên điều kiện vật chất của xã hội đương thời, được sắp xếp<br /> theo trình tự và mang tính liên tục chứ không phải là một phép cộng những kết quả rời rạc. Mục<br /> tiêu hợp lí phải xuất phát từ những mong muốn của các hình thái cộng đồng đang tồn tại, phải căn<br /> cứ trên hoạt động và nhu cầu bên trong của cá nhân cụ thể và chuyển thành phương pháp hợp tác<br /> với các hoạt động của người học. Mục tiêu giáo dục, theo quan niệm của J. Dewey là “sự phát triển<br /> tự nhiên và hiệu quả xã hội” [1; 139]. Đó là quá trình tái kiến tạo liên tục xã hội, làm cho xã hội<br /> ngày càng tốt đẹp hơn, dân chủ hơn. Hiệu quả xã hội là sự phát triển năng lực của con người, là<br /> sự chủ động sử dụng năng lực cá nhân vào những việc làm mang ý nghĩa xã hội, là khả năng hiểu<br /> biết, cảm thông, khả năng sáng tạo, cảm thụ nghệ thuật, giải trí. . . “Hiệu quả xã hội hoàn toàn<br /> nghĩa là quá trình làm cho tư duy trở nên phù hợp về mặt xã hội, để cho nó tham gia thực sự vào<br /> quá trình biến các kinh nghiệm trở thành có thể truyền đạt nhiều hơn nữa; tham gia vào quá trình<br /> phá vỡ các rào cản của sự phân tầng xã hội khiến cho các cá nhân không tiếp thu được những mối<br /> hứng thú của người khác” [1; 149]. Để đạt tới hiệu quả xã hội, giáo dục cần giúp cá nhân: 1. Hình<br /> thành và rèn luyện năng lực nghề nghiệp; 2. Giáo dục tư cách công dân tốt; 3. Đào luyện văn hóa,<br /> hiểu theo nghĩa sự phát triển trọn vẹn của nhân cách. Quá trình giáo dục là quá trình hoạt động<br /> của con người trong một xã hội của những cá nhân tự do bằng lao động của mình đóng góp cho sự<br /> khai phóng và làm phong phú cuộc sống xã hội. Giáo dục phải phát triển tư duy phản biện, sáng<br /> tạo và có trách nhiệm, phát triển tối đa những tiềm năng cá nhân. Nói ngắn gọn, mục tiêu cao cả<br /> nhất là nhà trường đào tạo được những công dân tự do cho một chế độ dân chủ.<br /> Về nội dung giáo dục: J. Dewey nhấn mạnh, phải xem xét nội dung trên cả quan điểm của<br /> người dạy và người học. Với người thầy, sự hiểu biết về nội dung phải vượt lên trên sự hiểu biết<br /> hiện tại của người học. Tuy nhiên, người thầy trong quá trình giáo dục không nên quá bận tâm tới<br /> bản thân nội dung mà nên quan tâm tới mối tương giao giữa nội dung với các nhu cầu và năng<br /> khiếu của người học: “Vấn đề của dạy học là giữ cho kinh nghiệm của người học đi theo con đường<br /> mà nhà chuyên môn đã trải qua. Vì thế, người thầy cần phải hiểu biết cả nội dung lẫn các nhu cầu<br /> đặc trưng và các năng khiếu của người học” [1; 221]. Giáo dục nhấn mạnh vào hành động tự do<br /> cá nhân, bởi vậy, mọi biện pháp giáo dục đều phải căn cứ vào kinh nghiệm cuộc sống và nhu cầu<br /> phát triển của người học, cung cấp những điều kiện, tài liệu cần thiết cho người học tự do hoạt<br /> động. Chương trình học phải tính đến việc làm cho các môn học phù hợp với cuộc sống hiện tại,<br /> nhằm mục đích cải thiện đời sống, hướng tới tương lai tốt đẹp hơn. Nội dung giáo dục phải phản<br /> ánh sự phát triển của loài người. Vì thế nội dung phải mang tính tăng tiến. Tức là chương trình học<br /> phải hiện đại lên cùng với sự phát triển của loài người. Tuy nhiên, nội dung giáo dục, dù phong<br /> phú, hiện đại thế nào đi chăng nữa thì trước hết phải cốt ở ý nghĩa mà nó đem lại cho đời sống xã<br /> hội hiện hữu. Xã hội càng phức tạp, nội dung kiến thức càng phong phú thì càng đòi hỏi người<br /> dạy phải tránh bắt học sinh “sao chép lại nội dung dưới dạng phát biểu có sẵn” (231) mà phải định<br /> hướng học sinh biết cách chọn lọc những kiến thức hữu dụng.<br /> Về phương pháp giáo dục: Phê phán lối dạy học thiên về tích lũy, J. Dewey nhấn mạnh hiệu<br /> 118<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

YOMEDIA
Đồng bộ tài khoản