
- 1 -
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến cấp cơ sở Trường THPT Ninh Bình Bạc Liêu
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT
Họ và tên Ngày tháng
năm sinh Nơi công tác Chức
vụ
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ
(%)
đóng
góp vào
việc tạo
ra sáng
kiến
1 Phạm Thị Ngát 13/06/1986 Trường THPT
Ninh Bình – Bạc Liêu TPCM ĐHSP
Toán 60%
2 Đoàn Ngọc Lê 13/04/1994 Trường THPT
Ninh Bình – Bạc Liêu GV ĐHSP
Toán 40%
1. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
- Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến : “Vận dụng phương pháp
dạy học dự án vào việc tìm hiểu ứng dụng của Parabol và elip vào trong thực tế, góp
phần phát triển năng lực học sinh THPT ”
- Lĩnh vực áp dụng : Giảng dạy cho học sinh khối lớp 10, ban cơ bản của
trường THPT Ninh Bình - Bạc Liêu, nhằm phát triển năng lực học sinh trường THPT
Ninh Bình - Bạc Liêu.
2. Nội dung
a) Giải pháp cũ thường làm:
Đã từ rất nhiều năm nay, việc dạy học môn Toán ở Việt Nam vẫn theo phương
pháp truyền thống là giáo viên giảng bài, học sinh ghi chép, ghi nhớ kiến thức, giải bài
tập máy móc theo phương pháp mà giáo viên đã đưa ra sau đó viết lại những kiến thức
đó trong bài kiểm tra, bài thi. Gần đây, theo yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học,
việc dạy học môn Toán cũng có một số thay đổi nhất định như chú ý tương tác hai
chiều giữa giáo viên và học sinh, tăng cường thảo luận nhóm để học sinh tự tìm hiểu…
Tuy nhiên nhìn chung sự đổi mới đó còn nặng về hình thức, chưa thực sự hiểu quả. Đa
phần các giờ học Toán vẫn rất thụ động, giáo viên dạy lí thuyết sau đó phân dạng bài
tập và đưa ra phương pháp giải các dạng bài, sau đó chia nhóm để các nhóm vận dụng
giải bài tập… Phương pháp dạy và học như trên có những ưu và nhược điểm như sau:
*) Ưu điểm
- Cung cấp cho học sinh kiến thức chuẩn của từng bài, đảm bảo chuẩn kiến thức
kĩ năng để phục vụ kiểm tra, thi cử.
- Khi lên lớp giáo viên thực hiện chương trình theo từng tiết học đã quy định
sẵn. Thời gian tổ chức các hoạt động học tập chỉ trong phạm vi tiết học, hình thức tổ
chức các tiết học bám sát mới chỉ dừng lại ở việc đưa ra câu hỏi dạng mở yêu cầu học
sinh phải trình bày nội dung trả lời các câu hỏi trong một bài viết để giải quyết vấn đề

- 2 -
nêu ra, hoặc phân dạng bài tập và đưa ra phương pháp giải cụ thể học sinh nắm được
phương pháp của từng dạng bài để giải các bài tập.
- Giúp học sinh tái hiện được kiến thức vừa học, lí giải được các khía cạnh của
kiến thức, từ đó hiểu bài sâu sắc hơn.
- Có thể thấy quá trình tư duy của học sinh đi đến đáp án.
- Đơn giản, dễ dạy cho giáo viên, dễ nhớ cho học sinh.
*) Nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục
- Do khoa học phát triển nhanh chóng nên nội dung chương trình dạy học phần
nào bị lạc hậu so với tri thức hiện đại.
- Người học càng ngày càng mất hứng thú học tập, hạn chế, thậm chí triệt tiêu
sự sáng tạo, luôn thụ động ghi nhớ kiến thức một cách máy móc.
- Kiến thức thu nhận từ các bài học ít gắn với thực tế cuộc sống, không phát
triển năng lực, kĩ năng sống cho học sinh trong khi đây là mục tiêu quan trọng hàng
đầu của giáo dục nói chung và việc dạy học môn Toán nói riêng.
- Có những đơn vị kiến thức được dạy trong nhiều môn học khác nhau gây
trùng lặp, nhàm chán với học sinh.
- Học sinh học tập thụ động, các kiến thức đã sắp đặt sẵn nên tạo thói quen
nghe, ghi chép, học thuộc, do đó chưa phát huy năng lực tư duy sáng tạo, khả năng tự
học, tự tìm tòi, tự xử lý thông tin ở học sinh.
- Phần nhiều học sinh chưa hứng thú với môn Toán, trong suy nghĩ của hầu hết
học sinh thì Toán học ngoài những phép tính đơn giản như cộng, trừ, nhân, chia, …thì
hầu hết các kiến thức toán khác là rất trừu tượng đối với học sinh. Rất nhiều học sinh
đặt câu hỏi: “Tại sao phải học toán, học toán để làm gì, giúp ích gì ?” Vì vậy việc học
toán trở thành một áp lực nặng nề đối với học sinh. Họ nghĩ rằng toán học là mơ hồ xa
xôi, học toán chỉ có một mục đích duy nhất đó là thi cử.Ví dụ như, nếu học đến bài
“Phương trình đường Elip” (SGK Hình học 10), học sinh sẽ đặt câu hỏi, học xong nó
được gì, chẳng thấy nó có tác dụng gì với cuộc sống cả. Nhưng nếu chúng ta cho học
sinh chia nhóm tìm hiểu sau đó báo cáo kết quả đạt được sẽ giúp bài học trở nên thú vị
hơn nhiều. Nó không đơn giản là buộc sợi dây có độ dài không đổi vào đầu hai chiếc
đinh được đóng cố đinh, giữ dây luôn căng bằng đầu bút chì và xoay đi xoay lại cho nó
ra một hình dáng gọi là elip nữa. Nó thực sự phải là quỹ đạo của các hành tinh trong hệ
mặt trời, nó là bóng của biển báo tròn trên mặt đất, là nguyên lí hoạt động của máy tán
sỏi trong y học, hay thông số để xây dựng một công trình kiến trúc có dạng elip…
- Học sinh học Toán đơn thuần chỉ là giải các bài tập theo các dạng bài và
phương pháp giải cho sẵn mà không biết được bản chất của những bài tập đó và ứng
dụng của chúng vào trong thực tiễn như thế nào, không biết được bản chất những sự
vật hiện tượng nơi mình sinh sống mặc dù những sự vật, hiện tượng đó rất gần gũi, gắn
bó hàng ngày với học sinh, ảnh hưởng đến cuộc sống của bản thân, gia đình và cộng
đồng dân cư nơi mình sinh sống.
- Dạy học theo phương pháp truyền thống nhiều khi chưa khuyến khích được
học sinh tham gia vào các hoạt động học, học sinh không có nhiều cơ hội được trải

- 3 -
nghiệm thực tế, ít có cơ hội bộc lộ các năng lực khác, hình thức học tập còn đơn điệu,
… Dó đó học sinh ít có hứng thú trong hoạt động học.
- Trước đây, học sinh chỉ học đơn môn, không biết vận dụng kiến thức môn
khác phục vụ cho bài học, cho việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
- Hạn chế việc hình thành tình yêu và trách nhiệm của bản thân đối với quê
hương đất nước và con người.
- Kết quả học tập thấp, học sinh sẽ chán học, uể oải, ngại đến trường, luôn coi
Toán học chỉ là môn học khô khan, trừu tượng, kết quả học lực khá giỏi bộ môn còn
nhiều hạn chế.
- Học sinh chưa kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với
thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm giải quyết hiệu quả một nhiệm vụ
cụ thể trong bối cảnh thực.
- Kiểm tra, đánh giá nặng về tái hiện tri thức không thúc đẩy được việc dạy học,
kiểm tra, đánh giá học sinh theo hướng tích cực, không phát huy được tính tích cực
chủ động khai thác kiến thức của học sinh, chưa đánh giá về mặt năng lực vận dụng
thực tế.
- Giáo viên không chủ động phân chia được thời gian, ngại tích hợp kiến thức
của các bài học khác và của các môn học khác trên một bối cảnh thực nên thường bỏ
qua những kiến thức liên quan rất gần gũi, sinh động.
- Giáo viên chưa dạy được cách học - Hình thành và phát triển năng lực cho học
sinh.
- Giáo viên chưa quan tâm đến việc học sinh nhớ được/học được những gì?
- Giáo viên chưa quan tâm đến việc học sinh làm được gì, giải quyết được vấn
đề thực tiễn gì từ những kiến thức, kĩ năng đã được học?
- Hạn chế việc tìm tòi, sáng tạo của giáo viên
b) Giải pháp mới cải tiến:
Sau một thời gian vận dụng phương pháp dạy học cũ, tôi và nhiều đồng nghiệp
càng nhận ra những mặt hạn chế đã nêu. Với mong muốn cải tiến phương pháp để hiệu
quả giảng dạy được tốt hơn, tôi đã tìm hiểu và nhận thấy cần phải tích cực hơn nữa
trong việc vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học môn Toán. Theo
sự tìm hiểu về các phương pháp dạy học và dựa vào đặc thù bộ môn, tôi nhận thấy
phương pháp phù hợp nhất, có khả năng khắc phục được hầu hết các nhược điểm của
phương pháp dạy học trước đây, có tính khả thi cao chính là phương pháp dạy học
theo dự án.
*) Mô tả nội dung chi tiết của giải pháp mới
- Dạy học dự án (viết tắt DHDA) được hiểu như là một phương pháp hay một
hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có
sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm cụ thể.
- Dạy học dự án là một kiểu dạy học lấy hoạt động của học sinh làm trung tâm.
- Định hướng vào các khái niệm cơ bản của môn học nhưng gắn liền với thực
tế. Dạy học thông qua các hoạt động thực tiễn của một dự án, chủ đề của dự án luôn
gắn liền với những tình huống của thực tiễn xã hội, và người học thường đóng một vai
gì đó khi thực hiện dự án.

- 4 -
- Nội dung dạy học trong DHDA mang tính tổng hợp hoặc liên môn. Vấn đề
phải hấp dẫn, sát với thực tiễn để thiết kế nhiều hoạt động.
- Mục tiêu dạy học trong DHDA mang tính định hướng rõ ràng và được thết kế
dựa trên chuẩn kiến thức kĩ năng và nhắm tới kĩ năng tư duy bậc cao của thế kỉ 21.
- Phương tiện dạy học trong DHDA rất đa dạng và đặc biệt thuận lợi khi có sự
hỗ trợ của các phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại.
- Kiểm tra, đánh giá trong DHDA mang tính đa chiều: dựa trên việc đánh giá,
tự đánh giá và cùng đánh giá. Việc kiểm tra đánh giá của giáo viên diễn ra trong toàn
bộ quá trình hoàn thành nhiệm vụ của học sinh. Các tiêu chí đánh giá được công bố,
thống nhất trước khi các em bắt tay vào làm việc.
- Vai trò của giáo viên là người định hướng, một nhà tư vấn, hướng dẫn viên và
một học viên cộng tác (bạn cùng học)
- Vai trò của học sinh là “tác giả tích cực” của quá trình học tập, nên học sinh
thực hiện dự án bằng cách thực hiện các vai được chỉ định và tự lực triển khai, tập giải
quyết vấn đề có thật trong đời sống. Học sinh làm việc với nhau trong nhóm học tập
trong một khoảng thời gian nhất định để giải quyết những nội dung học tập phức hợp.
Học sinh tự hệ thống kiến thức, thiết lập mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức và
được đào tạo điều kiện học tập trong môi trường hợp tác. Học sinh phải tạo ra các sản
phẩm học tập đáp ứng các yêu cầu đề ra, đảm bảo tính thẩm mỹ, khoa học… do đó
khơi gợi sự tò mò và óc sáng tạo qua việc cho phép chủ động, tự do tưởng tượng trong
quá trình học tập. Như vậy trong dạy học theo dự án, học sinh không còn thụ động tiếp
nhận kiến thức của giáo viên mà thực sự trở thành tác giả của việc học tập.
- Tiến trình thực hiện dạy học dự án bao gồm 5 giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn 1: Chuẩn bị.
+ Giai đoạn 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện.
+ Giai đoạn 3: Thực hiện dự án học tập.
+ Giai đoạn 4:Thu thập kết quả và báo cáo sản phẩm.
+ Giai đoạn 5: Đánh giá dự án.
Tóm lại DHDA là một hình thức dạy học quan trọng để thực hiện quan điểm
dạy học định hướng vào người học, quan điểm dạy học định hướng hoạt động và quan
điểm dạy học tích hợp. DHDA góp phần gắn lí thuyết với thực hành, tư duy và hành
động, nhà trường và xã hội, thể hiện được tính mới và sáng tạo của giải pháp
Bảng 1: So sánh phương pháp dạy học theo dự án và phương pháp truyền thống.
Dạy học truyền thống Dạy học theo dự án
Mục tiêu
Học sinh thuộc, nhớ, biết vận
dụng kiến thức để giải bài tập
Học sinh hiểu và biết vận dụng
kiến thức để giải quyết các tình
huống thực tiễn
Nội dung
- Do sách giáo khoa, giáo viên
quyết định
- Ít có tính liên môn
- Giáo viên là trung tâm, tổ chức
kiến thức thành nhiệm vụ giao
cho học sinh.
- Học sinh hay giáo viên đề xuất
trên cơ sở năng lực, hứng thú của
bản thân học sinh.
- Thường liên quan đến nhiều môn
học, nhiều lĩnh vực.
- Học sinh là trung tâm, thực hiện
nhiệm vụ với sự trợ giúp của giáo
viên để tự xây dựng kiến thức.

- 5 -
Phương pháp
- Người dạy là trung tâm, tổ
chức kiến thức thành các nhệm
vụ giao cho học sinh.
- Giáo viên đưa ra phương pháp
làm việc.
- Không gian làm việc: Trong
lớp học.
- Hiểu biết mới dẫn đến thành
công. Sai lầm là không tốt
- Người học là trung tâm, thực hiện
các nhiệm vụ dưới sự hỗ trợ của
giáo viên để xây dựng kiến thức
cho mình.
- Học sinh tự lựa chọn phương
pháp làm việc.
- Không gian làm việc: Trong hoặc
ngoài nhà trường.
- Thành công mới dẫn đến hiểu
biết. Sai lầm là bình thường.
Phương tiện
dạy học
Có sẵn, do giáo viên chọn Học sinh tự lựa chọn và xây dựng
trong quá trình học tập.
Sản phẩm
Không có, nếu có thì sau quá
trình học tập. Học sinh không có
dự tính trước về sản phẩm.
Học sinh dự tính trước về sản
phẩm và hiện thực hóa nó trong
quá trình học tập
Học nhóm
Rất ít Học sinh tự thành lập nhóm, việc
học chủ yếu dựa trên hoạt động
nhóm.
Đánh giá
- Sự đánh giá chỉ tập trung ở kết
quả cuối cùng.
- Là việc của giáo viên.
- Sự đánh giá được thể hiện trong
suốt quá trình học tập.
- Bao gồm đánh giá của giáo viên,
học sinh tự đánh giá và đánh giá
lẫn nhau.
Bảng 2: So sánh về nội dung kiến thức:
CHUYÊN
ĐỀ GIẢI PHÁP CŨ GIẢI PHÁP MỚI
Parabol và
đường elip
- Đơn môn: Toán học.
- Nhận biết đựơc phương
trình của đường parabol và
đường elip.
- Biết tìm phương trình của
parabol khi biết 1 số yếu
tố: trục đối xứng, tọa độ
đỉnh, đi qua điểm,…
- Biết viết phương trình
elip khi biết trục lớn, trục
bé, tiêu điểm, …
- Biết vẽ parabol và elip.
- Dựa vào parabol để tìm
- Tích hợp: Toán học, Địa lý, Tin học, Vật
lý, Giáo dục công dân, Ngữ văn, Giáo dục
kỹ năng sống,
- Tìm hiểu sâu về các ứng dụng của
đường parabol, elip trong thực tế đo đạc
và tính toán.
- Tìm hiểu được các ứng dụng của đường
parabol, elip trong y học.
- Phân tích được ảnh hưởng của năng
lượng mặt trời tới đời sống, kinh tế và
môi trường sống, …
- Tìm hiểu về quy luật chuyển động của
các hành tinh, nắm được các hành tinh
chuyển động quanh mặt trời theo các quỹ

