
VÌ SAO LOẠI SƠN ĐÁY THUYỀN, TÀU LẠI PHẢI KHÁC SƠN
THƯỜNG?
Ngày xưa, một chiếc thuyền mới sơn, sau khi hạ thủy được ba tháng,
tốc độ của thuyền sẽ giảm đi 10% so với lúc mới hạ thủy. Tàu thuyền
lưu hành sau nửa năm tốc độ chỉ còn khoảng một nửa so với lúc mới hạ
thủy.
Nguyên nhân của hiện tượng trên liệu có phải do động cơ tàu thuyền
bị hư hỏng hay do vỏ thuyền, tàu bị mục nát gây nên chăng? cả hai yếu
tố vừa nêu trên đều không phải.
Khi kéo tàu thuyền vào âu thuyền để sửa chữa, toàn bộ đáy thuyền lộ ra
khỏi mặt nước. Bấy giờngười ta mới rõ nguyên nhân: phần đáy thuyền
chìm dưới nước xuất hiện chi chít các“chùm gai góc”, và chính các
“chùm gai góc” này đã ngăn cản tàu thuyền lướt tới.
Chúng ta biết rằng trong nước đại dương có nhiều loại sinh vật sống
trôi nổi như: rong, sò, hà, trùng đục lỗ, khi còn ở dạng ấu trùngchúng
thường trôi nổi trên mặt biển. Khi gặp tàu thuyền chúng lập tức bám
vào đáy thuyền, lấy đáy thuyền làm “đất sống” hết ngày này qua ngày
khác. Đặc biệt ở các vùng biển nhiệt đới các loại sinh vật này càng
nhiều và phát triển càng nhanh.
Từ khi vỏ đáy thuyền bị các “cư dân” này bám vào và phát triển, tốc
độ chuyển động của thuyền sẽ ngày càng chậm dần. Theo như tính toán
chỉ cần 46% diện tích đáy tàu thuyền có một lớp sinh vật dày 4mm thì

phải tăng động lực của tàu thuyền lên 5% thì mới duy trì được tốc độ
chuyển động như cũ.
Chính vì vậy người ta đã phải chọn cách sơn đáy tàu thuyền bằng
loại sơn đặc biệt. Trong loại sơn này có chứa một số" chất độc như:
oxyt đồng (I), hợp chất có chứa thủy ngân, hợp chất hữu cơ có chứa
thiếc v.v... Vì lớp sơn có chứa các chất độc như vậy nên khi các sinh
vật có hại bám vào đáy thuyền, lập tức chúng bị chết ngay và không thể
bám vào đáy thuyền và phát triển, gây hại được.
Bây giờchắc các bạn đã rõ sơn đáy thuyền có một số tác dụng đặc
thù để ngăn chặn các sinh vật có hại sống bám vào đáy thuyền.

VÌ SAO MẶT NẠ PHÒNG ĐỘC LẠI CHỐNG ĐƯỢC KHÍ ĐỘC?
Tháng 4 năm 1915, vào một ngày trời râm mát, binh sĩ liên quân
Anh - Pháp đang đồn trú dưới chiến hào, chiến trường hoàn toàn yên
tĩnh. Đột nhiên từ phía quân Đức, một vùng chất khí màu xanh vàng
như một màng yêu khí tràn tói theo gió bay về phía liên quân Anh
Pháp. Vì không hề có phòng bị, liên quân Anh Pháp hoàn toàn hỗn
loạn. Trong chiến hào vang lên tiếng ho, tiếng gào thét. Quân Đức đã
xả khí clo về phía liên quân Anh Pháp. Đó là lần đầu tiên khí độc được
sử dụng trong chiến tranh hiện đại. Từ đó mở màn cho cuộc chiến tranh
hóa học.
Người ta đã sử dụng rất nhiều loại chất độc hóa học. Ngoài khí clo,
người ta còn dùng khí độc gây tổn tại thần kinh như sarin, soman
(C7H1602PF), có chất độc làm bỏng da, có chất độc gây ngạt (như
phosgen cocụ v.v...
Để đổỉ phó với các loại vũ khí hóa học, các nhà khoa học đã phải tiến
hành nghiên cứu trong một thời gian dài. Rõ ràng là việc tìm một
sốchất để tiêu trừ một số chất độc nào đó chưa đủ. Cần phải tìm được
một loại biện pháp chung có thể đối phó (chí ít với phần lớn) với chất
độc.
Qua quá trình nghiên cứu người ta tìm thấy phần lớn các chất độc trong
điều kiện nhiệt độ thường ở dạng chất lỏng hoặc chất rắn có nhiệt độ
sôi khá cao. Trong khi đó thì oxy cần cho quá trình hô hấp lại có nhiệt
độ sôi rất thấp (- 183°C). Oxy có nhiệt độ sôi thấp nên lực hấp dẫn giữa

