Vit Nam S Lược
Hiến T (1841 - 1847)
Niên hiu: Thiu Tr
1. Đức độ vua Hiến T
2. Vic Chân Lp
3. Vic Tiêm La
4. Vic giao thip vi nước Pháp
1. Đức Độ Vua Hiến T.
Tháng giêng năm Tân Su (1841) Hoàng Thái T húy là Miên Tông lên ngôi
đin Thái Hòa đặt niên hiu là Thiu Tr.
Tính vua Hiến T thun hòa, không hay bày ra nhiu vic và cũng không được qu
cm như Thánh T. Trong đời Ngài làm vua, hc hiu, chế độ, thuế mà, điu gì
cũng theo như triu vua Thánh T c. By tôi lúc by gi có Trương Đăng Quế,
Lê Văn Đức, Doãn Un, Võ Văn Gii, Nguyn Tri Phương, Lâm Duy Tiếp trong
ngoài ra sc giúp rp. Nhưng mà đất Nam K có gic giã, dân Chân Lp ni lon,
quân Tiêm La sang đánh phá, nhà vua phi dùng binh đánh dp mãi mi xong.
2. Vic Chân Lp.
Nguyên t cui đời đức Thánh T, đất Nam Kđất Chân Lp đã có gic giã,
các ông Trương Minh Ging, Nguyn Tiến Lâm, Lê Văn Đức, Nguyn Công Tr
c phi đem quân đi tiu tr mãi, đánh được ch này thì ch kia ni lên. Sau
Nam K li có Lâm Sâm cùng vi bn thy chùa làm lon Trà Vinh; Chân Lp
thì nhng người bn x cùng vi người Tiêm La đánh phá. Quan quân chng
không ni. Triu đình ly vic y làm lo phin. Năm Thiu Tr nguyên niên
(1841), trong Triu, ông T Quang C tâu xin b đất Chân Lp, rút quân v gi
An Giang. Vua nghe li y, xung chiếu truyn cho tướng quân là Trương Minh
Ging rút quân v. Trương Minh Ging v đến An Giang thì mt. Bi vì vic kinh
đất Chân Lp là tay ông c, nay vì có biến lon, quan quân phi b thành Trn
Tây mà, ông nghĩ xu h và bun bc đến ni thành bnh mà chết.
3. Vic Tiêm La.
Khi quân ca Nguyn Tiến Lâm và Nguyn Công Tr dp xong gic Lâm Sâm
Nam K, thì quân Tiêm La li đem binh thuyn sang cùng vi quân gic để đánh
phá. Vua bèn sai Lê Văn Đức làm tng thng đem binh tướng đi tiu tr. Sai
Nguyn Tri Phương và Nguyn Công Nhân gi mt Vĩnh Tế, Phm Văn Đin và
Nguyn Văn Nhân gi mt Hu Giang. Ba mt cùng tiến binh lên đánh, quân Tiêm
và quân gic thua to, phi rút v gi Trn Tây. Quan quân đui đưc quân Tiêm
La ra ngoài b cõi ri, đặt quân gi các nơi him yếu để đợi ngày tiến tiu.
Nguyên là Nc Ông Đôn (1) đem quân Tiêm La v cu vin để đánh ly li nước.
Nhưng khi đến Vit Nam rút v ri, quân Tiêm La tàn bo, người Chân Lp li
không phc, có người sang cu cu Nam K, vua bèn sai Võ Văn Gii sang kinh
lý vic Chân Lp.
Tháng sáu năm t T (1845), là năm Thiu Tr th năm, Võ Văn Gii vào đến Gia
Định, cùng vi Nguyn Tri Phương, Doãn Un, Tôn Tht Ngh, tiến binh sang
đánh Chân Lp, phá được đồn Dây St, ly li thành Nam Vang, người Chân Lp
v hàng k hơn 23,000 người.
Đon ri, Nguyn Tri Phương và Doãn Un đem binh đui đánh quân Tiêm La và
quân Chân Lp, vây Nc Ông Đôn và tướng Tiêm La là Cht Tri Ô-Đông
(Oudon).
Tháng chín năm y, Cht Tri sai người sang xin hòa. Qua tháng mười thì Nguyn
Tri Phương, Doãn Un và Cht Tri ký t hòa ước nhà hi quán, hai nước đều
gii binh. Nguyn Tri Phương rút quân v đóng Trn Tây, đợi quân Tiêm thi
hành nhng điu ước đã định.
Tháng chp năm Bính Ng (1846), Nc Ông Đôn dâng biu t ti và sai s đem đồ
phm vt sang triu cng.
Tháng hai năm Đinh Mùi (1847) là năm Thiu Tr th by, Triu đình phong cho
Nc Ông Đôn làm Cao Miên Quc Vương và phong cho M Lâm Qun Chúa làm
Cao Miên Qun Chúa. Li xung chiếu truyn cho quân th Trn Tây rút v An
Giang. T đó nước Chân Lp li có vua, và vic phía nam mi được yên vy.
4. Vic Giao Thip vi nước Pháp.
T khi vua Hiến T lên tr vì, thì s cm đạo hơi nguôi đi đưc mt ít. Nhưng mà
triu đình vn ghét đạo, mà nhng giáo sĩ ngoi quc vn còn giam c Huế. Có
người đưa tin y cho trung tá nước Pháp tên là Favin Lévêque coi tàu Héroine.
Ông Favin Lévêque đem tàu vào Đà Nng xin cho năm người giáo sĩ được tha.
Qua năm t T (1845) là năm Thiu Tr th năm có mt giám mc tên Lefèbvre
phi án x t. By gi có người qun tàu M Li Kiên Đà Nng xin mãi không
được, mi báo tin cho hi quân thiếu tướng nước Pháp là Cécile biết. Thiếu tướng
sai quân đem chiếc tàu Alemène vào Đà Nng lĩnh giám mc ra.
Năm Đinh Mùi (1847) quan nước Pháp được tin rng Huế không còn giáo sĩ
phi giam na, mi sai đại tá De Lapierre và trung tá Rigault de Genouilly đem
hai chiếc chiến thuyn vào Đà Nng, xin b nhng ch d cm đạo và để cho
người trong nước được t do theo đạo mi.
Lúc hai bên còn đang thương ngh v vic y, thì quan nước Pháp thy thuyn ca
ta ra đóng gn tàu ca Pháp và trên b li thy có quân ta sp sa đồn lũy, mi
nghi có s phn trc gì chăng, bèn phát súng bn đắm c nhng thuyn y, ri nh
neo kéo bum ra b.
Vua Hiến T thy s trng như thế, tc gin vô cùng, li có d ra cm người ngoi
quc vào ging đạo, và tr ti nhng người trong nước đi theo đạo.
Vic tàu nước Pháp vào bn Đà nng xong được my ngày tháng, thì vua Hiến
T phi bnh mt. By gi là tháng chín năm đinh mùi (1847), năm Thiu Tr th
by. Ngài làm vua được by năm, th 37 tui, miếu hiu là Hiến t Chương Hoàng
Đế.
Ghi chú:
(1) Nc Ông Đôn là em Nc Ông Chân, cháu nàng Ang-mey là Ngc Vân qun
chúa.
Dc Tông (1847 - 1883)
Niên hiu: T Đức
1. Đức độ vua Dc Tông
2. Đình thn
3. Vic ngoi giao
4. Vic cm đạo
5. Vic thuế
6. Vic văn hc
7. Vic binh chế
1. Đức độ vua Dc Tông.
Vua Hiến T mt, truyn ngôi li cho hoàng t th hai húy là Hng Nhm. By
gi hoàng t mi có 19 tui, nhưng hc hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm
Đinh Mùi (1847), thì ngài lên ngôi hoàng đế đin Thái Hòa, đặt niên hiu là T
Đức, ly năm sau là năm Mu Thân làm T Đức nguyên niên.
Vua Dc Tông đối vi vn hi nước Nam ta tht là quan h, vì là đến đời ngài thì
nước Pháp sang bo h, đổi xã hi mình ra mt cnh tượng khác. Bi vy cho nên
ta cn phi biết rõ ngài là người thế nào, để xét đoán nhng công vic thi by gi
cho khi sai lm. Quan tng đốc Thân Trng Hu đã được trông thy dung nhan
ca ngài và đã t rõ chân tượng ca ngài ra như sau này: "Ngài hình dung như mt
người nho sĩ, không cao, không thp, trc người bc trung, không gy không béo,
có mt phn hơi gy mt tí. Da không trng không đen. Mt hơi dài; cm hơi nh,
trán rng mà thng, mũi cao mà tròn, hai con mt tinh mà lành.
Ngài hay chít cái khăn vàng mà nh, và mc áo vàng, khi ngài có tui thì hay mc
qun vàng đi giày hàng vàng ca ni v đóng. Ngài không ưa trang sc mà cũng
không cho các bà ni cung đeo đồ n trang, ch ct ly s ăn mc sch s làm đẹp.
Tính ngài tht là hin lành. Nhng người được hu gn ngài nói chuyn rng: mt
hôm ngài ng triu ti đin Văn Minh, ngài cm cái hoa mai (1) sp hút thuc, tên
thái giám đứng qut hu, vô ý qut mnh quá, la hoa mai bay vào tay ngài. Tên
thái giám s xanh mt li, mà ngài ch xoa tay, ch không nói gì c.
Ngài th đức T D rt có hiếu. L thường c ngày chn thì chu cung, ngày l thì
ng triu: trong mt tháng chu cung 15 ln, ng triu 15 ln, tr khi đi vng và
khi se yếu (2). Trong 36 năm, thường vn như thế, không sai chút nào.
Khi ngài chu cung thì ngài tâu chuyn này chuyn kia, vic nhà vic nước, vic
xưa vic nay. Đức T D thuc s sách đã nhiu mà biết vic đời cũng rng. Khi
Đức T D ban câu chi hay, thì ngài biên ngay vào mt quyn giy gi là T
Hun Lc.
Mt hôm rnh vic nước, ngài ng bn ti rng Thun Trc (3) gp phi khi nướt
lt. Còn hai ngày na thì có k đức Hiến T, mà ngài chưa ng v. Đức T D
nóng rut, sai quan đại thn là Nguyn Tri Phương đi rước. Nguyn Tri Phương đi
được na đường, va gp thuyn ng đương chèo lên, mà nước thì chy mnh,
thuyn không đi mau được. Gn ti thuyn ng mi ti bến. Khi y tri đang mưa,
mà ngài vi vàng lên kiu trn đi thng sang cung, ly xin chu ti. Đức T D
ngi xoay mt vào màn, chng nói chng rng chi c. Ngày ly mt cây roi mây,
dâng lên để trên ghế trát k ri ngài nm xung xin chu đòn. Cách mt hi lâu,
đức T D xoay mt ra ly tay ht cái roi mà ban rng:
- Thôi, tha cho! Đi chơi để cho quan quân cc kh thì phi ban thưởng cho người
ta, ri sm mai đi hu k.
Ngài ly t lui v, ni đêm đó ngài phê thưởng cho các quan quân đi hu ng.
Quan thì mi người được mt đồng tin bc, ln nh tùy theo phm, còn lính thì
mi tên được mt quan tin km. Đến sáng ngài ng ra đin Long An ly k. Xem
cách ngài th m như thế, thì t xưa đến nay ít có.
Tính ngài siêng năng, sáng chng năm gi, ngài đã ng tánh, nghĩa là thc dy,
chng sáu gi, ngài đã ra triu. Cho nên các quan Kinh bui y cũng phi dy
sm đểđi chu. Thường thy các quan thp đèn ăn cháo để vào triu cho sm.
Thường ngài ng triu ti đin Văn Minh, bên t đin cn chính. Các quan đến
sm, quan văn thì ngi chc ti t vu, quan võ ti hu vu. Khi ngài đã ng ra, thì
thái giám tuyên triu các quan vào chu. Các quan đều mc áo rng xanh, đeo th
bài đi vào, quan văn bên hu, quan võ bên t (4).
Khi các quan theo th t đứng yên ri, quan b Li hay là quan h Binh tâu xin
cho my ông quan mi được thăng thuyên bái mng. Các quan bái mng thì phi
chc ngoài, đợi b Li hay là b Binh tâu xong mi được vào. Quan văn thuc
b Li, quan võ thì thuc b binh. Bái mng thì phi mc áo đại trào.
Các ông bái mng xong ri, b nào có vic gì tâu thì đến ch tu s qu tâu. Như
b nào có tâu vic gì thì các quan n quan trong b y đều qu ch tu s, ri ông
nào tâu, thì đọc bài din tu. Mt bên các quan tu s li có mt ông quan ni các
và mt ông ng s đều qu. Quan ni các để biên li ngài ban; quan ng s để đàn
hch các quan phm phép.
Đức Dc Tông đã thuc vic mà li chăm cho nên nhiu ba ngài ban vic đến
chín mười gi mi ng vào ni.
Ngài thường làm vic chái đông đin Cn Chánh. Trong chái y lót ván đánh
bóng. Gn ca kính có my chiếc chiếu, trên tri mt chiếu cp bng hàng vàng,
để mt cái yên vi nghiên bút, mt trái da (cái gi da), ch không bày bàn ghế
gì c. Cách mt khong có để mt cái đầu h vi th. Ngày làm vic mi thì đứng
dy đánh đầu h, hay là đi bách b. Ngài ngi làm vic mt mình, vài tên th n
đứng hu để mài son, thp thuc hay là đi truyn vic.
L nước ta xưa nay các quan không đưc vào ch ngài ng ta làm giúp vic cho