intTypePromotion=1

7 Thủ phạm gây bệnh tim mạch khó ngờ

Chia sẻ: Nguyễn Thị An | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:6

0
48
lượt xem
5
download

7 Thủ phạm gây bệnh tim mạch khó ngờ

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Có những nguyên nhân hoàn toàn không ngờ tới có thể khiến bệnh tim mạch phát tác. 1.Sau nửa đêm mới ngủ Cho dù bạn duy trì 7 tiếng ngủ mỗi ngày nhưng giấc ngủ chỉ đến sau nửa đêm vẫn sẽ khiến nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng cao. Các nhà nghiên cứu Nhật bản đã phát hiện, nam giới có thói quen ngủ sau nửa đêm sẽ có nguy cơ bị xơ cứng mạch cao hơn một cách rõ rệt. Điều này là do những người có thói quen ngủ muộn thường phải chịu áp lực công...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: 7 Thủ phạm gây bệnh tim mạch khó ngờ

  1. 7 Thủ phạm gây bệnh tim mạch khó ngờ Có những nguyên nhân hoàn toàn không ngờ tới có thể khiến bệnh tim mạch phát tác. 1.Sau nửa đêm mới ngủ Cho dù bạn duy trì 7 tiếng ngủ mỗi ngày nhưng giấc ngủ chỉ đến sau nửa đêm vẫn sẽ khiến nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng cao. Các nhà nghiên cứu Nhật bản đã phát hiện, nam giới có thói quen ngủ sau nửa đêm sẽ có nguy cơ bị xơ cứng mạch cao hơn một cách rõ rệt. Điều này là do những người có thói quen ngủ muộn thường phải chịu áp lực công việc lớn, làm các công việc ban đêm hoặc có thói quen ăn uống không lành mạnh (hay uống rượu, hút thuốc, thích ăn các thực phẩm có hàm lượng đường và chất béo cao). Những yếu tố này đều không có lợi đối với sức khoẻ tim mạch. 2.“Yêu” bừa bãi Các nhà nghiên cứu của Ý chỉ ra rằng, nam giới đã kết hôn nếu làm chuyện đó bừa bãi sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng cao. Một trong những nguyên nhân là do những người này có cuộc sống gia đình không viên mãn, xuất hiện chứng trầm cảm, khiến nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng lên. Ngược lại, cuộc sống gia đình viên mãn, hạnh phúc sẽ rất có lợi cho sức khoẻ tim mạch của nam giới. 3.Ít uống nước trắng Các nhà nghiên cứu Mỹ đã tiến hành điều tra hơn 2 vạn người khoẻ mạnh, cả nam và nữ. Kết quả cho thấy, những người mỗi ngày chỉ uống khoảng 2 ly nước có nguy cơ tử vong vì các bệnh liên quan đến tim mạch cao hơn nhiều so với những người mỗi ngày uống 5 ly nước.
  2. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng, về cơ bản, việc uống không đủ nước cũng gây nguy hại cho sức khoẻ tim mạch tương đương với việc hút thuốc, và thiếu vận động. 4.Mãn kinh sớm Nghiên cứu của Mỹ chỉ ra rằng, những phụ nữ có hiện tượng mãn kinh xuất hiện sớm có khả năng mắc bệnh tim mạch cao hơn khi về già. Theo các chuyên gia phụ khoa, tuổi mãn kinh ở phụ nữ trung bình là 51 tuổi. Hiện tượng mãn kinh đến sớm sẽ làm giảm nồng độ estrogen, chất có tác dụng bảo vệ sức khoẻ tim mạch. 5.Không tiêm phòng bệnh cúm Từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau đều là mùa bệnh tim mạch tăng cao. Quãng thời gian này là mùa đông, nên sức đề kháng giảm, cơ thể dễ mắc nhiều loại bệnh các chứng viêm nhiễm cũng dễ tăng theo. Tiêm phòng cảm cúm sẽ có tác dụng làm giảm khả năng phát tác của các bệnh tim mạch. Ngoài ra, do thời tiết mùa đông lạnh giá, động mạch thường co lại, làm huyết áp tăng lên, dễ gây bệnh tim mạch. 6.Không dùng biện pháp bảo vệ khi yêu Theo các nhà nghiên cứu Canada, một loại vi khuẩn lây truyền qua đường yêu cũng có thể gây bệnh tim mạch ở cả nam và nữ. Loại vi khuẩn này sẽ khiến hệ miễn dịch bị suy yếu, gây các chứng viêm nhiễm, từ đó làm xơ cứng động mạch, gây ra bệnh tim mạch. Ngày càng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, các chứng viêm nhiễm trong cơ thể có thể gây bệnh tim mạch, cũng như các chứng bệnh ung thư. 7.Sống một mình Theo các nhà nghiên cứu Đan Mạch, những người sống một mình có nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng gấp bội so với những người sống có bạn. Kết quả phân tích số liệu của 13 800 người trưởng thành cho thấy: những phụ nữ trên 60 tuổi và nam giới trên 50 tuổi nếu sống 1 mình sẽ có nguy cơ mắc bệnh tim mạch tăng cao. Nguyên nhân do thói quen sinh hoạt của người sống 1 mình không lành mạnh và điều độ, chế độ ăn thiếu dinh dưỡng. Tác hại tim mạch do đái tháo đường
  3. Kỳ I: Những biến chứng nguy hiểm Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) có thể gây ra biến chứng trên nhiều cơ quan, Nhưng thường gặp, gây tốn kém và nghiêm trọng hơn hết là biến chứng tim mạch. Thuật ngữ bệnh mạch máu ĐTĐ được dùng để mô tả các biến chứng tim mạch gây ra do ĐTĐ. Vì các cơ quan và bộ phận trong cơ thể đều chứa nhiều mạch máu, cho nên tổn thương mạch máu sẽ dẫn đến tổn thương các cơ quan này, chẳng hạn như: mắt, thận và thần kinh… chúng được gọi chung là biến chứng mạn tính do ĐTĐ. Vì vậy, ở bệnh nhân ĐTĐ, phòng ngừa biến chứng tim mạch cũng sẽ giúp phòng ngừa biến chứng trên các cơ quan khác. Có sự liên quan chặt chẽ giữa ĐTĐ và bệnh tim mạch. Tần suất bệnh tim mạch ở người ĐTĐ cao gấp 2 - 4 lần so với người không bị ĐTĐ. Khoảng 2/3 số bệnh nhân ĐTĐ tử vong là do biến chứng tim mạch như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Một dạng quan trọng khác của bệnh mạch máu ĐTĐ là tuần hoàn kém ở hai chân, làm tăng nguy cơ loét chân và bị cắt cụt. Hai biến chứng thường gặp khác của ĐTĐ là bệnh thần kinh và bệnh thận ĐTĐ, nếu chúng xảy ra sẽ làm cho biến chứng tim mạch trở nên nặng nề và nguy hiểm hơn. Tại sao bệnh tim mạch lại thường gặp ở người bị ĐTĐ? Có nhiều lý do: ĐTĐ bởi chính bản thân nó hiện nay được xem là yếu tố nguy cơ mạnh nhất đối với bệnh tim mạch. Ngoài sự tăng đường huyết, còn có nhiều cơ chế khác cùng tham gia gây ra bệnh tim mạch. Một: các mạch máu ở bệnh nhân ĐTĐ trở nên nhạy cảm và dễ bị tổn thương hơn với các yếu tố nguy cơ gây bệnh như hút thuốc lá, rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, béo phì, ít vận động… và hơn 90% số bệnh nhân ĐTĐ có một hoặc nhiều các yếu tố nguy cơ kết hợp. Hai: các nghiên cứu mới đây còn cho thấy bệnh nhân ĐTĐ có sự gia tăng tình trạng viêm của lớp nội mạc động mạch, đây là quá trình khởi tạo những thay đổi mạch máu dẫn đến bệnh tim. Bệnh ĐTĐ được đặc trưng bởi đường huyết tăng cao làm tổn hại các mạch máu, mạch máu càng nhỏ thì càng dễ bị tổn thương hơn. Lượng đường trong máu cao làm tăng lắng đọng chất mỡ ở thành mạch và làm chậm dòng chảy của máu. Theo thời gian, sự lắng đọng mỡ có thể phát triển thành mảng xơ vữa và làm dày thành mạch máu. Những mảng bám ở thành mạch có thể vỡ ra, trôi dạt đến nơi khác và gây tắc nghẽn phía hạ nguồn. Tại chỗ vỡ, các tế bào của hệ miễn dịch bắt đầu hoạt động, quá trình đông máu xuất hiện tạo ra cục máu đông, gây cản trở lưu thông máu hoặc tắc mạch đột ngột. Tất cả điều này có thể mất nhiều năm để xảy ra hoặc bất kỳ khi nào biến chứng xuất hiện sẽ làm cho bệnh
  4. nghiêm trọng thêm. Mặc dù bệnh ĐTĐ đóng một vai trò quan trọng, thiệt hại từ xơ cứng/ xơ vữa động mạch còn có thể được gây ra bởi tình trạng huyết áp cao, rối loạn mỡ trong máu và do hút thuốc lá. Các yếu tố này đều có thể điều trị và phòng ngừa được. Tổn thương mạch máu lớn và trung bình: gây xơ cứng và xơ vữa động mạch, có thể dẫn đến nhồi máu cơ tim, đột quỵ, loét chân và đoạn chi. - Xơ cứng động mạch là thuật ngữ dùng để mô tả tình trạng cứng hoặc mất tính đàn hồi của thành mạch. - Xơ vữa động mạch là tổn thương tiến triển của xơ cứng động mạch, do sự tích tụ mảng bám trên thành động mạch, dẫn đến lưu lượng máu bị hạn chế. Mảng xơ vữa có thể vỡ ra, hình thành cục máu đông. Xơ vữa động mạch có thể ảnh hưởng đến bất kỳ mạch máu nào trong cơ thể. Tổn thương mạch máu nhỏ: xảy ra ở các nhánh của động mạch và các mạch máu nhỏ hơn. Các mạch máu nhỏ bị ảnh hưởng bởi bệnh ĐTĐ có thể làm suy yếu thành mạch và làm cho chúng phình lên như quả bóng gọi là vi phình mạch. Thành của những mạch máu này sau đó bị rò rỉ, gây ra tắc nghẽn dòng chảy, làm giảm cung cấp oxy và chất dinh dưỡng đến các mô do mạch máu này chi phối, có thể dẫn đến tổn thương hoặc chết mô. Tình trạng này cũng là yếu tố góp phần quan trọng trong các biến chứng kinh điển của bệnh ĐTĐ như: bệnh võng mạc, bệnh thận và thần kinh do ĐTĐ.
  5. Một số bệnh tim mạch thường gặp do ĐTĐ Các triệu chứng của bệnh tim mạch do ĐTĐ có thể không đặc hiệu và nhầm với triệu chứng của cơ quan khác là biến chứng gây ra do ĐTĐ. Tùy theo mạch máu nào bị tổn thương, sẽ gây tác hại tại nơi mà mạch máu đó chi phối. Ba biểu hiện thường gặp trong biến chứng mạch máu ĐTĐ: - Giảm cung cấp máu do lòng mạch bị hẹp từ từ. Có thể gây ra bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ, thiểu năng tuần hoàn não… - Tắc mạch hoàn toàn, thường xảy ra đột ngột, do vỡ mảng xơ vữa và hình thành cục máu đông. Gây nhồi máu cơ tim, nhồi máu não… - Vỡ mạch máu. Gây xuất huyết não, xuất huyết võng mạc… Dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim: - Cảm giác như bị đè, bị ép, bị đầy ở ngực hoặc đau ngực. - Khó chịu ở một hoặc cả hai cánh tay, lưng, cổ, hàm hay vùng dưới mũi kiếm xương ức. - Khó thở. - Toát mồ hôi lạnh, buồn nôn hay chóng mặt. Dấu hiệu cảnh báo đột quỵ: - Đột ngột tê hoặc yếu ở mặt, cánh tay hoặc chân, đặc biệt ở một bên của cơ thể. - Đột ngột lú lẫn, khó nói hoặc chậm hiểu. - Đột ngột rối loạn thị lực ở một hoặc hai mắt. - Đột ngột khó đi, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc mất phối hợp động tác. - Đột ngột nhức đầu dữ dội mà không rõ nguyên nhân. Nếu bạn gặp những triệu chứng trên, gọi 115 ngay lập tức. Các triệu chứng của bệnh động mạch ngoại vi: - Đau hoặc cảm giác tê ở tứ chi, đau chân khi đi bộ hoặc hoạt động thể lực (khập khiễng).
  6. - Khó thở. - Vọp bẻ/mệt mỏi. - Sưng mắt cá chân/chân. - Đau bỏng, cảm giác ngứa ran, giảm hoặc không có cảm giác ở tứ chi. - Da lạnh, sáng bóng, màu da vùng tổn thương bị trắng tái, tím, đen hoặc đỏ.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

Đồng bộ tài khoản