intTypePromotion=1
ADSENSE

Bài giảng Phần 2: Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam - Chương 7

Chia sẻ: Hoang Thi Nhung | Ngày: | Loại File: DOCX | Số trang:47

146
lượt xem
14
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Chương 7 "Nghệ thuật quân sự trong khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược từ thế kỷ III trước công nguyên đến đầu thế kỷ X" thuộc bài giảng phần 2 - Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam do Đại tá, Tiến sỹ Phạm Quốc Văn biên soạn giới thiệu đến các bạn những nội dung về khởi nghĩa và chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta từ thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ XVIII,... Hy vọng đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài giảng Phần 2: Lịch sử chiến tranh và nghệ thuật quân sự Việt Nam - Chương 7

  1. Phần thứ hai LỊCH SỬ CHIẾN TRANH VÀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM Giảng viên chính Đại tá, TS. Phạm Quốc Văn
  2. Chương VII NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ TRONG KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC TỪ THẾ KỶ III TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN ĐẦU THẾ KỶ X NỘI DUNG A. KHỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG NGOẠI  XÂM CỦA DÂN TỘC TA TỪ THẾ  KỶ  III TRƯỚC  CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XVIII. B. MẤY VẤN ĐỀ VỀ NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ. Trọng tâm: Mục B
  3. A.K HỞI NGHĨA VÀ CHIẾN TRANH CHỐNG NGOẠI XÂM CỦA DÂN TỘC TA THÙ THẾ KỶ III TRƯỚC CÔNG NGUYÊN ĐẾN THẾ KỶ XVIII K.I. Các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh từ thế kỷ III trước công nguyên đến thế kỷ XVIII. 1. Những cuộc chiến tranh giữ nước đầu tiên: kháng chiến chống Tần và kháng chiến chống Triệu. Việt Nam thời Hùng Vương gọi là Văn Lang, nhưng vừa dựng nước, nhân dân ta đã phải đánh giặc giữ nước. Cuối thế kỷ III tr.CN nhà Tần đưa quân xâm lược nước ta. Nhân dân Văn Lang do vua Hùng và Thục Phán lãnh đạo kháng chiến trong 10 năm và giành thắng lợi. Sau khi đánh tan quân Tần, Thục Phán thay thế Hùng Vương, tự xưng là An Dương Vương, đổi tên nước là Âu Lạc. An Dương Vương chăm lo xây dựng đất nước, đã xây thành Cổ Loa, chế ra nỏ liên châu “nỏ thần”. Thời kỳ này Triệu Đà vua của Nam Việt nhiều lần xâm lược nước ta nhưng đều thất bại. Triệu Đà gian xảo xin giảng hoà và cầu hôn công chúa Mỵ Châu cho con trại mình là Trọng Thuỷ. Do mất cảnh giác nước ta rơi vào tay giặc. Từ đây nước ta rơi vào thời kỳ Bắc thuộc 1000 năm
  4. 2. Những cuộc khởi nghĩa và chiến tranh chống xâm lược giành độc lập dân tộc trong giai đoạn Bắc thuộc. Dưới ách thống trị của các triều đại nhà Triệu, Hán, Lương, Tuỳ, Đường nhân dân ta nêu cao tinh thần bền bỉ đấu tranh, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa sau: * Cuộc khởi nghĩa của hai bà Trưng (40-44) Vào năm 40, dưới sự lãnh đạo của hai bà Trưng, nhân dân ta đứng lên khởi nghĩa và giành độc lập, năm 42 quân Hán lại xâm lược nước ta do Mã Viện chỉ huy, Cuộc kháng chiến do hai bà Trưng lãnh đạo tới năm 44 đất nước ta lại rơi vào tay giặc
  5. *Cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (248) Bà Triệu Thị Trinh khởi nghĩa từ núi Nưa,Thanh Hoá lãnh đạo nhân dân chống lại giặc Ngô. Giặc Ngô cử Lục Dận đàn áp, do lực lượng chênh lệch, cuộc khởi nghãi bị thất bại, bà Triệu hy sinh. *Cuộc khởi nghĩa Lý Bí (542) và cuộc kháng chiến chống quân Lương do Triệu Quang Phục lãnh đạo (545-550) Năm 542 Lý Bí khởi nghĩa, được nhân dân ủng hộ đã đập tan chính quyền đô hộ của nhà Lương, lập nên nhà nước Vạn Xuân. Năm 545 Nhà Lương cử Dương Phiêu và Trần Bá Tiên dẫn quân xâm lược nước ta. Năm 550 Triệu Quang Phục phản công thắng lợi, đất nước giành độc lập.
  6. *Cuộc kháng chiến chống quân Tuỳ (603) Năm 603, nhà Tuỳ cử Lưu Phương chỉ huy quân xâm lược nước ta. Lý Phật Tử cùng các tướng Lý Đại Quyên, Lý Phố Đỉnh lãnh đạo nhân dân chống giặc nhưng thất bại. Nước ta lại rơi vào tay giặc. *Các cuộc khởi nghĩa chống nhà Đường và cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ (giữa thế kỷ VII - đầu thế kỷ X) Nhân dân ta liên tục đấu tranh chống ngoại xâm như: -Khởi nghĩa Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687) -Khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế 722) -Khởi nghĩa Phùng Hưng (766-779) -Khởi nghĩa Dương Thanh (819-820) Đầu thế kỷ X, hào trưởng Khúc Thừa Dụ chiếm phủ Tống Bình, xưng Tiết độ sứ đã xây dựng chính quyền tự chủ, kết thúc ách thống trị phong kiến phương bắc ở nước ta
  7. *Hai cuộc kháng chiến chống xâm lược Nam Hán (930-931 và 938) Năm 930, Nam Hán cử tướng Lương Khắc Trinh đem quân xâm lược nước ta. Dương Đình Nghệ một danh tướng của họ Khúc đã đánh tan quân xâm lược Nam Hán. Năm 938, Nam Hán lại cử thái tử Hoàng Thao đem binh thuyền XL nước ta. Quân ta do Ngô Quyền chỉ huy tổ chức trận địa bãi cọc trên sông Bạch Đằng đánh tan quân Nam Hán. Đất nước ta thoát khỏi ách đô hộ hơn 1000 năm của phong kiến Trung Hoa, đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ. Trong hơn mười thế kỷ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, dân tộc ta vẫn đứng vững không bị đồng hoá, không trở thành quận huyện của ngoại bang
  8. 3. Các cuộc chiến tranh chống xâm lược từ cuối thế kỷ thứ X đến thế kỷ XVIII. a. Cuộc chiến tranh chống Tống lần 1 (981) Sau thắng lợi của Ngô Quyền, đất nước ta được hoà bình 36 năm. Năm 965 xẩy ra loạn 12 sứ quân. Năm 968 Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước. Nhà Đinh tổ chức thập đạo quân, cả nước có 10 đạo, mỗi đạo có 10 quân, mỗi quân 10 lữ, mỗi lữ 10 tốt, mỗi tốt 10 ngũ, mỗi ngũ 10 người. Đồng thời thay phiên nhau làm quân thường trực. Sau khi thống trị toàn Trung Quốc, tháng 4 năm 981 quân Tống chia làm 3 đường thuỷ, bộ sang đánh nước ta, quân bộ tiến theo đường Cao Bằng và Lạng Sơn, quân thuỷ tiến vào sông Bạch Đằng.
  9. Quân, dân Đại Cồ Việt dưới sự lãnh đạo của Lê Hoàn đã chặn đánh quân địch ở Hoa Bộ (Lạng Giang), sau đó tổ chức mai phục tiêu diệt gọn đạo quân của Hầu Nhân Bảo tại Đồ Lỗ (Sóc Sơn). Đạo thuỷ binh của địch bị chặn đánh ở cửa sông Bạch Đằng lại được tin thất trận của Hầu Nhân Bảo nên đã phải rút lui. Đạo quân của Tôn Toàn Hưng hoảng sợ rút chạy về nước. Quân ta truy kích tiêu diệt hơn nửa quân địch. Kết thúc thắng lợi chiến tranh. Về nghệ thuật, triều đình nhà Đinh và Tiền Lê đã có sự chuẩn bị đất nước, xây dựng quân đội. Đã xác định đúng chiến lược cuộc kháng chiến là đánh địch ngay trên tuyến đầu, biết dựa vào địa hình chọn thế có lợi, vận dụng hình thức đánh địch sở trường để diệt địch (phục kích, truy kích)
  10. b.Cuộc kháng chiến chống Tống lần2(1075- 1077) Sau khi giành thắng lợi, Nhà Lê lên ngôi được gần 30 năm. Năm 1009, vương triều chuyển sang họ Lý. Nhà lý có nhiều chính sách tiến bộ xây dựng và phòng thủ đất nước như “ngụ binh ư nông”. Vào những năm bảy mươi, biết được âm mưu xâm lược của Nhà Tống, Lý Thường Kiệt đề ra kế hoạch “Tiên phát chế nhân”, chủ động tiến công trước sang đất giặc, đánh phá các căn cứ xuất phát xâm lược của chúng. Tháng 10.1075- 3.1076) Lý Thường Kiệt chỉ huy quân thuỷ, bộ tiến công Châu Ung, châu Khâm và Châu Liêm
  11. Tháng 8.1076, 30 vạn quân Tống, tiến công thuỷ, bộ xâm lược nước ta. Đạo quân chủ lực do Quách Quỳ chỉ huy bị chặn đứng trước phòng tuyến nam sông Như Nguyệt, thuỷ binh địch bị ta chặn đánh tại Đông Kênh. Cuối 2.1077 quân ta tổ chức hai trận tiến công lớn vào các cụm quân địch ở bắc sông Như Nguyệt tiêu diệt hơn nửa quân địch. Tháng 3.1077 hai bên bàn hoà, quân địch phải rút về nước. Trong cuộc chiến tranh này, Nhà Lý giành quyền chủ động ngay từ đầu và suốt quá trình chiến tranh. Mở đầu là chủ động tiến công phá thế chuẩn bị của địch, chủ động rút về tổ chức tuyến phòng thủ nam sông Như Nguyệt, chủ động tiến công cụm quân địch, chủ động bàn hoà, buộc địch rút về nước
  12. c.Chiến tranh chống Mông Cổ Xâm lược lần 1 (1258) Năm 1226 triều Trần thay triều Lý và có nhiều chủ trương tiến bộ xây dựng và bảo vệ đất nước, như “ngụ binh ư nông”, tổ chức quân Triều đình, quân địa phương, quân của các vương hầu, dân binh. Thực hiện phương châm “binh cốt tinh không cốt nhiều”. Tới năm 1246 quân đội được tổ chức rất chặt chẽ, gồm BB và thuỷ binh. Đầu năm 1258, ba vạn quân kỵ binh Mông Cổ, theo lưu vực sông Hồng tiến vào nước ta
  13. Quân ta chặn đánh địch từng chặng, trận thứ nhất ở Bạch Hạc (Phú Thọ) gây tổn thất cho địch, trận thứ hai ở Bình Lệ Nguyên (Hương Canh, Vĩnh Phúc), trận thứ ba ở Phù Lỗ (Sóc Sơn) rồi bỏ Thăng Long rút về Thiên Mạc (Khoái Châu). Chỉ sau 9 ngày địch vào Thăng Long. Ngày 29.1.1258, quân ta tập kích quân địch ở Đông Bộ Đầu. Quân địch bị tổn thất nặng phải tháo chạy về nước. Sau trận giao chiến đầu tiên, NHà Trần đã kịp thời thay đổi phương thức tác chiến, rút lui từng bước bảo toàn lực lượng, thực hiện vườn không nhà trống, đẩy địch vào thế bất lợi. Mặt khác gấp rút chuẩn bị, nắm thời cơ phản công địch ở Đông Bộ Đầu, kết thúc chiến tranh
  14. d.Cuộc chiến tranh chống quân Mông-Nguyên xâm lược lần thứ 2 (1285) Sau khi thôn tính toàn bộ lãnh thổ TQ, lập nên triều Nguyên. Quân Mông-Nguyên chuẩn bị xâm lược nước ta, chúng chủ trương đánh chiếm Chiêm Thành rồi vu hồi từ phía nam vào nước ta. Cuối 1.1285, sáu mươi vạn quân Nguyên chia làm 3 cánh tiến vào nước ta. Hướng thứ nhất từ Quảng Tây tiến vào Lạng Sơn, hướng thứ hai từ Vân Nam tiến theo lưu vực sông Lô, đạo quân thứ ba của Toa Đô từ phía Nam đánh ra
  15. Trên mặt trận phía bắc, ta từng bước chặn địch, sau đó chủ động rút về Trường Yên (Ninh Bình) và Thiên Trường (Nam Định). Ở hướng Nam, địch chiếm được Nghệ An, Thanh Hoá và hợp vây đại quân ta. Trần Quốc Tuấn cho một bộ phận cơ động ra vùng biển Đông Bắc nghi binh địch, đại quân rút về tây Thanh hoá củng cố lực lượng, chuẩn bị phản công Quân và dân ta ở vùng sau lưng địch nổi dậy đánh chúng khắp nơi làm cho địch khốn đốn. Nắm thời cơ thuận lợi, tháng 4.1285, quân ta tiến công địch ở A lỗ (bên bờ sông Luộc), Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương (Thường Tín) sau đó tiến vào Thăng Long. Tướng địch, Thoát Hoan chui ống đồng cùng tàn quân rút chạy về nước. Quân Toa Đô bị tiêu diệt tại Tây Kết (24.6.1285). Cuộc kháng chiến giành thắng lợi hoàn toàn.
  16. Nhà Trần đã đánh giá đúng so sánh tương quan lực lượng, có phương thức tác chiến phù hợp bảo toàn lực lượng; Sự phối hợp có hiệu quả hoạt động của quân dân vùng sau lưng địch; Nắm thời cơ phản công bằng những trận đánh lớn tiêu diệt địch; khi địch rút chạy ta đã chặn đánh và truy kích địch để giành thắng lợi triệt để. e.Cuộc chiến tranh chống quân Mông-Nguyên xâm lược lần 3 (1287-1288) Tháng 12.1287, khoảng 50 vạn quân nguyên do Thoát Hoan chỉ huy xâm lược nước ta lần ba, địch tiến vào nước ta theo ba đường: Lạng Sơn, lưu vực sông Hồng và sông Bạch Đằng
  17. Dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn, quân ta vừa đánh kiềm chế, tiêu hao địch vừa rút về hạ lưu sông Hồng. Trên hướng ven biển Đông Bắc, đạo quân của Trần Khánh Dư đã tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ tại Vân Đồn. Phần vì thiếu lương thảo, phần vì lo sợ bị tiến công bất ngờ, Thoát Hoan lệnh cho quân rút về nước bằng đường bộ qua Lạng Sơn và đường thuỷ theo sông Bạch Đằng. Bằng một trận phục kích tài tình, với trận địa cọc ngầm, ngày 9.4.1288 ta đã tiêu diệt gọn đạo quân thuỷ của Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng. Đạo quân bộ cũng bị chặn đánh gây nhiều thiệt hại. Chiến tranh kết thúc ta đại thắng.
  18. Trong cuộc kháng chiến này, Nhà Trần thực hiện kế hoạch tác chiến đã định sẵn, làm cho địch không phát huy được sở trường, bị động đối phó và phải lui quân; Ta đã đánh tan đoàn thuyền vận chuyển hậu cần làm đảo lộn kế họach của địch; Trần Hưng Đạo rất tài tình lựa chọn đoạn phục kích hiểm yếu trên sông, xây dựng trận địa cọc ngầm kết hợp bố trí quân mai phục tiêu diệt lớn quân địch kết thúc chiến tranh. d.Cuộc kháng chiến của Nhà Hồ chống quân Minh xâm lược (1406-1407) Năm 1400 Hồ Quý Ly phế truất Nhà trần, lập triều Nhà Hồ. Hồ Quý Ly tăng cường phòng thủ đất nước, tăng thêm nhiều quân, xây dựng tuyến phòng thủ, đóng thuyền chiến lớn, sáng chế súng thần cơ trang bị cho quân đội.
  19. Tháng 11.1406, năm mươi vạn quân Minh theo hai đường đánh vào nước ta. Một từ Quảng Tây vào Lạng Sơn, hai theo sông Lô đánh xuống. Các tuyến phòng ngự của Nhà Hồ lần lượt bị phá vỡ. Hồ Quý ly cũng tổ chức phản công nhưng thất bại và phải rút lui về Thanh hoá, sau về Nghệ An và sa vào tay giặc. Trong cuộc chiến chống quân Minh, Nhà Hồ đã sớm phòng thủ đất nước, nhưng Nhà hồ chỉ chú trọng về mặt quân sự đơn thuần, chưa cố kết lòng dân. Khi quân Minh tràn sang thì chỉ lo tác chiến chính quy mà không động viên được toàn dân đánh giặc nên thất bại. Lần thứ hai trong lịch sử dân tộc ta lại bị mất nước.
  20. e. Cuộc kháng chiến chống quân Minh (1418-1427) Dưới ách thống trị của Nhà Minh, nhân dân ta không ngừng nổi dậy chống quân xâm lược, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo. Từ năm 1418-1423 nghĩa quân dựa vào rừng núi đánh du kích, xây dựng lực lượng, mở rộng địa bàn. Từ tháng 10.1424-8.1426 nghĩa quân tiến công vào phía nam, giải phóng Nghệ An, Diễn Châu, Thanh hoá, Tân Bình, Thuận hoá. Nghĩa quân phát triển về lực lượng, trang bị vũ khí, huấn luyện về quân sự, chính trị tinh thần. Tháng 9.1426 ta phục kích diệt 6 vạn quân địch ở Tốt Động, Chúc Động (Chương Mỹ). Quân của Vương Thông trong thành Đông Quan hoảng loạn.
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD


intNumView=146

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2