
Bài 5: Giao dịch chứng khoán
80 FIN301_Bai5_v1.0014102228
BÀI 5 GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
thảo luận trên diễn đàn.
Đọc tài liệu:
1. GS.TS Nguyễn Văn Nam & PGS.TS Vương Trọng Nghĩa, Giáo trình thị trường
chứng khoán, NXB Tài chính, 2002.
2. Trần Đăng Khâm, Thị trường chứng khoán – Phân tích cơ bản, NXB ĐH Kinh tế
Quốc dân, 2009.
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
qua email.
Trang Web môn học.
Nội dung
Những khái niệm cơ bản trong giao dịch chứng khoán;
Cơ chế xác định giá;
Phương thức giao dịch;
Các lệnh cơ bản trong giao dịch chứng khoán;
Giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư nước ngoài;
Những quy định chung trong giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh;
So sánh những quy định chung trong giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Mục tiêu
Sau khi học xong bài 5, sinh viên sẽ:
Hiểu được các khái niệm, thuật ngữ cơ bản về giao dịch chứng khoán;
Nắm được các cơ chế xác định giá chứng khoán;
Nắm được các phương thức giao dịch chứng khoán;
Được tìm hiểu về các loại lệnh trong giao dịch và kinh doanh chứng khoán.

Bài 5: Giao dịch chứng khoán
FIN301_Bai5_v1.0014102228 81
Tình huống dẫn nhập
Hướng dẫn mở tài khoản giao dịch chứng khoán
Ông Nguyễn Đức Bình chưa có tài khoản và đang có một số
tiền, dự định đầu tư chứng khoán niêm yết trong thời gian tới.
Ông Bình đến Công ty chứng khoán hỏi tư vấn về các thủ tục
để có thể mua – bán chứng khoán niêm yết.
Là nhân viên tư vấn, bạn sẽ hướng dẫn ông Bình mở tài khoản và mua – bán
chứng khoán như thế nào?

Bài 5: Giao dịch chứng khoán
82 FIN301_Bai5_v1.0014102228
5.1. Những khái niệm cơ bản trong giao dịch chứng khoán
Muốn tham gia mua – bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán tập trung, nhà
đầu tư cần nắm được quy trình giao dịch như sau:
Bước 1 – Nhà đầu tư mở tài khoản giao dịch tại
công ty chứng khoán là thành viên của SGDCK.
Bước 2 – Nhà đầu tư đưa ra yêu cầu mua/bán
chứng khoán bằng cách đặt lệnh cho công ty
chứng khoán thực hiện.
Bước 3 – Công ty chứng khoán rà soát lại phiếu
lệnh trước khi chuyển cho nhà môi giới tại sàn.
Bước 4 – Chuyển lệnh sang nhà môi giới tại sàn.
Bước 5 – Nhà môi giới đăng ký lệnh.
Bước 6 – So khớp lệnh, đấu giá hay đấu lệnh. Giá khớp được thông báo công khai
và là giá thống nhất cho cả bên mua và bên bán.
Bước 7 – Nhà môi giới thông báo lại kết quả mua/bán về công ty chứng khoán.
Bước 8 – Công ty chứng khoán chuyển kết quả giao dịch để thực hiện việc thanh
toán tại Trung tâm lưu ký và thanh toán bù trừ.
Trong giao dịch chứng khoán, chúng ta cần nắm được cái khái niệm cơ bản:
5.1.1. Giá tham chiếu
Giá tham chiếu (Reference price) là mức giá cơ sở để xác định giá trần và giá sàn,
là mức giá cơ bản để làm cơ sở tính toán biên độ giao động giá hoặc các giá khác
trong ngày giao dịch. Giá tham chiếu được xác định cho từng loại hình giao dịch:
o Giá tham chiếu đối với chứng khoán đang giao dịch bình thường;
o Giá tham chiếu đối với chứng khoán mới đưa vào niêm yết;
o Giá tham chiếu đối với trường hợp chứng khoán bị đưa vào kiểm soát, hoặc hết
thời gian bị kiểm soát;
o Giá tham chiếu đối với chứng khoán được đưa vào giao dịch lại sau khi bị tạm
ngừng giao dịch;
o Giá tham chiếu đối với chứng khoán trong trường hợp tách, gộp cổ phiếu;
o Giá tham chiếu cổ phiếu trong trường hợp giao dịch không được hưởng cổ tức
và các quyền kèm theo;
o Giá tham chiếu cổ phiếu sau khi công ty niêm yết phát hành cổ phiếu bổ sung.
Một số trường hợp điều chỉnh giá tham chiếu (theo QĐ 42/2000 của UBCK)
Chứng khoán mới niêm yết: trong ngày giao dịch đầu tiên, không giới hạn biên độ
dao động giá và lấy giá đóng cửa của ngày giao dịch làm giá tham chiếu.
Chứng khoán thuộc diện bị kiểm soát, chứng khoán không còn thuộc diện bị kiểm
soát, chứng khoán bị ngừng giao dịch trên 30 ngày: xác định tương tự chứng
khoán mới niêm yết.
Chứng khoán không được hưởng các quyền kèm theo: giá tham chiếu là giá đóng
cửa của ngày giao dịch gần nhất.
Ngày không hưởng quyền: là ngày T+1, T+2,… T+x, đây là giữa thời điểm giao
dịch và thời điểm thanh toán. Vì khi mua chứng khoán ở thời điểm T, nhà đầu tư

Bài 5: Giao dịch chứng khoán
FIN301_Bai5_v1.0014102228 83
trở thành cổ đông của công ty nhưng chưa có tên trong danh sách cổ đông, đến
ngày T+x mới thực hiện thanh toán. Giá tham chiếu sẽ bằng giá giao dịch trước đó
(khi được nhận cổ tức và quyền) trừ đi giá trị cổ tức và quyền được nhận.
Tách, gộp cổ phiếu: giá tham chiếu là giá giao dịch trước ngày tách gộp điều chỉnh
theo tỷ lệ tách gộp cổ phiếu.
5.1.2. Biên độ dao động giá
Biên độ dao động giá là giới hạn dao động giá trong ngày giao dịch.
Biên độ dao động giá = Giá tham chiếu +/– (Giá tham chiếu
tỷ lệ BĐDĐ%)
Việc quy định biên độ giao động giá chứng khoán
nhằm hạn chế những biến động lớn về giá chứng
khoán trên thị trường trong ngày giao dịch. Đây là
một trong nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn biến
động giá chứng khoán trên thị trường. Các nhà đầu
tư có thể đặt lệnh của họ giữa giá trần (ceiling
price) và giá sàn (floor price), bất kỳ lệnh mua hay
bán chứng khoán nào nằm ngoài giới hạn trên đều
bị loại ra khỏi hệ thống.
Giới hạn thay đổi giá hàng ngày được xác định dựa
trên giá cơ bản và thông thường là giá đóng cửa
ngày hôm trước, mức giá đó gọi là giá tham chiếu.
Giới hạn thay đổi giá có thể quy định theo một tỷ lệ
cố định hoặc mức cố định theo giá cơ bản. Dải biên
độ giao động giá cao, thấp có tác động ảnh hưởng rất lớn đến thị trường, một mặt
có tác dụng bảo đảm sự ổn định của thị trường, nhưng đồng thời nó cũng giảm tính
thanh khoản của chứng khoán, và trong một chừng mực nào đó sẽ làm suy yếu thị
trường. Thông thường, các thị trường mới đưa vào vận hành đều quy định biên độ
giao động giá thấp, sau đó nâng dần lên.
5.1.3. Đơn vị yết giá
Đơn vị yết giá là mức giá tối thiểu cho mỗi lần mua và bán chứng khoán.
Đơn vị yết giá có tác động tới tính thanh khoản của thị trường cũng như hiệu quả của
nhà đầu tư. Trường hợp đơn vị yết giá nhỏ, sẽ tạo ra nhiều mức giá lựa chọn cho nhà
đầu tư khi đặt lệnh, nhưng các mức giá sẽ dàn trải, không tập trung, và ngược lại đơn
vị yết giá lớn sẽ tập trung được các mức giá, nhưng sẽ làm hạn chế mức giá lựa chọn
của nhà đầu tư, từ đó không khuyến khích các nhà đầu tư nhỏ tham gia thị trường.
Đơn vị yết giá được tính riêng cho từng loại chứng khoán khác nhau (cổ phiếu, trái
phiếu) và có thể áp dụng theo mức thang luỹ tiến với thị giá chứng khoán.
5.1.4. Đơn vị giao dịch
Đơn vị giao dịch là số chứng khoán nhỏ nhất có thể được khớp lệnh.
Trên thị trường chứng khoán, chứng khoán được giao dịch không theo từng chứng
khoán riêng lẻ mà theo đơn vị giao dịch hay còn gọi theo lô (lot) chứng khoán. Căn cứ

Bài 5: Giao dịch chứng khoán
84 FIN301_Bai5_v1.0014102228
vào lô chứng khoán để có thể phân chia thành các khu vực giao dịch khác nhau. Việc
quy định đơn vị giao dịch lớn hay nhỏ sẽ có ảnh hưởng đến khả năng tham gia của nhà
đầu tư cũng như khả năng xử lý lệnh của hệ thống thanh toán bù trừ trên thị trường.
Đơn vị giao dịch được quy định cụ thể cho từng loại chứng khoán (cổ phiếu, trái
phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh...).
Lô chẵn (round–lot). Một lô chẵn đối với cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư thông
thường là 100 cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư. Một lô chẵn đối với trái phiếu
thông thường là 10 trái phiếu.
Lô lẻ (odd–lot) là giao dịch có khối lượng dưới lô chẵn (dưới 100 cổ phiếu hoặc
dưới 10 cổ phiếu).
Lô lớn (block–lot) là giao dịch có khối lượng tương đối lớn, thông thường từ
10.000 cổ phiếu trở lên.
Tuy nhiên, ngoài việc quy định đơn vị giao dịch thống nhất như trên, tại một số Sở
giao dịch chứng khoán còn quy định đơn vị giao dịch tương ứng với giá trị thị trường
của chứng khoán đó.
5.1.5. Thời gian thanh toán
Thời gian thanh toán (chu kỳ thanh toán) là độ dài khoảng thời gian từ lúc thực hiện
xong giao dịch cho đến khi chứng khoán và tiền được thực nhận về tài khoản của
bên mua.
Ở Việt Nam hiện nay, thời gian thanh toán là “T + 3”, tức là nếu thứ 6, nhà đầu tư đặt
lệnh bán chứng khoán thành công, đến thứ 3 tuần sau tiền thực nhận sẽ về tài khoản.
Ngày thứ 7 và Chủ nhật nghỉ thực hiện giao dịch.
Thứ 6 Thứ 7 Chủ nhật Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5
T T+1 T+2 T+3 T+4
5.2. Cơ chế xác định giá
5.2.1. Cơ chế xác định giá theo lệnh
Không xuất hiện nhà tạo lập thị trường, giá cả được
xác định trên cơ sở cạnh tranh các nhà đầu tư.
Trong đó, lệnh giao dịch của nhà đầu tư được khớp
trực tiếp với nhau không có sự tham gia của nhà tạo
lập thị trường. Mức giá thực hiện là mức giá thoả
mãn cả bên mua và bên bán. Giá thực hiện được xác
định trên cơ sở cạnh tranh (đấu giá) giữa những nhà
đầu tư. Nhà đầu tư phải trả một khoản phí môi giới
cho công ty chứng khoán (theo tỷ lệ quy định hoặc thoả thuận). Khoản phí môi giới
này nhìn chung thấp hơn so với phí trên thị trường khớp giá.
Cơ chế xác định giá theo lệnh hiện nay được các Sở giao dịch chứng khoán trên thế
giới áp dụng rộng rãi do có những ưu việt hơn so với cơ chế xác định giá theo giá.
Trước hết, quá trình xác định giá được thực hiện một cách hiệu quả. Tất cả các lệnh
mua và bán cạnh tranh với nhau, qua đó nhà đầu tư có thể giao dịch tại mức giá tốt

