intTypePromotion=1

Bài thu hoạch: Quốc phòng an ninh

Chia sẻ: Duong Le | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:22

0
364
lượt xem
59
download

Bài thu hoạch: Quốc phòng an ninh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài thu hoạch "Quốc phòng an ninh" giới thiệu đến các bạn những tác động tích cực của hội nhập kinh tế đến an ninh quốc gia của Việt Nam, những thách thức về an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, một số quan điểm và giải pháp cơ bản,... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài thu hoạch để nắm bắt đầy đủ nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài thu hoạch: Quốc phòng an ninh

  1. MỞ ĐẦU Thời đại ngày nay là thời đại quá độ  từ  chủ  nghĩa tư  bản lên chủ  nghĩa  xã hội trên phạm vi thế giới. Đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc vẫn diễn  ra gay gắt. Toàn cầu hoá kinh tế đang là xu thế khách quan lôi cuốn hàng trăm   quốc gia dân tộc khác nhau về chế độ kinh tế xã hội, trình độ phát triển tham  gia hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy quá trình tham gia hội nhập kinh tế,  mỗi nước đều theo đuổi nhưng mục tiêu khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Các nước tư bản phát triển tham gia hội nhập không chỉ  theo đuổi mục  tiêu lợi nhuận thuần tuý mà còn tìm cách chi phối, khống chế  thị  trường, áp   đặt chính trị, chuyển hoá nền kinh tế  các nước đi theo quỹ  đạo tư  bản chủ  nghĩa (TBCN). Các nước kinh tế đang phát triển tham gia hội nhập để  tận dụng cơ hội   phát triển, thoát khỏi đói nghèo lạc hậu. Đồng thời tập hợp lực lượng đấu  tranh chống lại chính sách cửa quyền áp đặt của Mỹ  để  bảo vệ  lợi ích của  mình vì một trật tự kinh tế quốc tế bình đẳng công bằng. Các nước xã hội chủ  nghĩa (XHCN) chủ  động hội nhập để  tranh thủ  những mặt có lợi trên thị trường thế giới, phát huy lợi thế, phục vụ mục tiêu  phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khắc phục nguy cơ tụt   hậu ngày càng  xa hơn về  kinh tế, rút ngắn, trình độ  phát triển so với các  nước phát triển trên thế giới. Điều đó chứng tỏ  xu thế  hội nhập kinh tế phản ánh cục diện vừa đẩy  mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc liệt. Nó vừa có tác động tích cực và tiêu  cực đến toàn bộ  đời sống kinh tế  chính trị  xã hội, an ninh quốc gia của mỗi  nước. 1
  2. NỘI DUNG I. NHỮNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA HỘI NHẬP KINH TẾ ĐẾN AN  NINH QUỐC GIA CỦA VIỆT NAM An ninh quốc gia là: "Trạng thái của quốc gia có sự ổn định về mọi mặt,   các lợi ích quốc gia được toàn vẹn, không bị xâm phạm hoặc bị đe doạ..." có   nước quan niệm an ninh quốc gia bao gồm có quốc phòng. An ninh quốc gia cần phải được hiểu với nghĩa rộng bao gồm cả kinh tế,   chính trị, văn hoá, xã hội... Một nước có sự an ninh quốc gia được bảo đảm là  nước có trạng thái ổn định trên các mặt đó và các lợi ích kinh tế, chính trị, văn   hoá, xã hội được bảo vệ toàn vẹn, không bị xâm phạm hoặc đe doạ. Theo đó,  hội nhập kinh tế  có tác động tích cực đến tăng cường an ninh quốc gia trên   những vấn đề sau đây: Một là: Hội nhập kinh tế khu vực và thế  giới tạo cơ hội cho Việt Nam   mở  rộng thị  trường, thu hút vốn, kỹ  thuật, công nghệ, kinh nghiệm quản lý   tiên tiến phát triển kinh tế tăng cường an ninh quốc gia. Thị  trường có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế  của mỗi   quốc gia. Việc mở  rộng và khai thông thị  trường quốc gia với quốc t ế  sẽ  cho phép bổ  sung những mặt yếu, thi ếu, phát huy những lợi thế  của nền   kinh tế  trong nước. D ưới tác động của toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế  quốc tế, các thị  trường thế  giới (vốn, tài chính, thương mại...) từng bước   được   thống  nhất  và  phát  triển.  Xu thế   này sẽ   loại  bỏ   dần các  rào cản   thương mại (thuế, chính sách bảo hộ) và điều chỉnh các quy tắc vận hành.  Các dòng vốn, kỹ  thuật công nghệ, tri thức, hàng hoá, dịch vụ  ngày càng   mở  rộng và đẩy nhanh tốc độ. Theo đó, nước ta là nước đang phát triển,   chủ động hội nhập nền kinh tế toàn cầu sẽ  từng bước mở  rộng thị trường   ra bên ngoài và có thêm cơ hội thu hút và sử  dụng các dòng vốn khu vực và  2
  3. quốc tế, đồng thời mở  ra điều kiện thực hiện các dự  án đầu tư  ra nước  ngoài theo lợi thế của ta. Thực tế  cho thấy, với một đất nước có số  dân khoảng 90 triệu người   như  nước ta, thu nhập bình quân đầu người 2.228 USD thì dung lượng thị  trường trong nước sẽ là nhỏ  so với khả năng phát triển. Do đó, tham gia hội   nhập kinh tế quốc tế để mở rộng thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng.  Bên cạnh cơ  hội tận dụng và nâng cao khả  năng sử  dụng vốn, nước ta   còn được thụ hưởng những thành quả  tiến bộ của khoa học ­ công nghệ  thế  giới, thông qua chuyển giao công nghệ  để  đổi mới kỹ  thuật công nghệ, đẩy  nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong những năm đổi mới vừa   qua chúng ta đã tận dụng được cơ  hội đó, nền kinh tế  tăng trưởng cao, hạ  tầng công nghệ  thông tin được đánh giá là một trong những nước có tốc độ  phát triển nhanh nhất, kinh tế  chính trị  xã hội  ổn định, an ninh quốc phòng  được tăng cường. Trạng thái đó phản ánh tính vững chắc của an ninh quốc   gia. Hai là:  Hội nhập kinh tế  quốc tế  tạo thế  đan cài lợi ích kinh tế  quốc   phòng an ninh giữa các nước trong khu vực và thế giới, cho phép nước ta có   thể kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh thời đại thành sức mạnh tổng   hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hội nhập kinh tế gắn kết nền kinh tế của mỗi nước với hệ thống kinh   tế  khu vực và thế  giới. Mức độ  gắn kết phụ  thuộc vào chính sách mở  cửa   của mỗi quốc gia. Sự  hưng thịnh, khủng hoảng hay suy thoái kinh tế  của  nước này đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến trạng thái phát triển  kinh tế  và an ninh kinh tế  của các nước khác trong khu vực và thế  giới. Tuy   nhiên, mức độ ảnh hưởng và khả năng ứng phó trước những chấn động kinh   tế, chính trị, xã hội bên ngoài đến đâu là tuỳ thuộc vào sức cạnh tranh, dữ trữ  ngoại tệ  và sức gắn kết kinh tế  của mỗi nước trong khu vực và thế  giới.   3
  4. Thực tế những thập kỷ qua cho thấy một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao,  có dự trữ ngoại tệ lớn, sẽ có sức chịu đựng cao hơn các nền kinh tế lạc hậu   khác. Chẳng hạn, sức cạnh tranh của các nền kinh tế  Hồng Kông, Singapo   lớn, lại có dự  trữ  ngoại tệ  lớn nên đã hạn chế  được tác động xấu của cuộc  khủng hoảng khu vực năm 1997. Một nước có nền kinh tế hội nhập quốc tế  cao, lợi ích quốc gia đan xen chặt chẽ  với lợi ích của nhiều quốc gia khác,   nhiều trung tâm kinh tế, thì sẽ có nhiều khả năng kết hợp sức mạnh quốc gia   với sức mạnh quốc tế để bảo vệ đất nước tốt hơn. Trong cuộc khủng hoảng   kinh tế khu vực 1997, các quốc gia Thái Lan, Hàn Quốc, Inđônêxia vì là thành  viên của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và lợi ích của các quốc gia này đã liên kết  khá chặt chẽ  với lợi ích quốc tế, nên quỹ  tiền tệ quốc tế đã hỗ  trợ  tài chính  cho các quốc gia này khá lớn, giúp nền kinh tế  các nước này nhanh chóng  phục hồi thoát ra khỏi khủng hoảng. Trong điều kiện hội nhập quốc tế tiến triển như hiện nay, mọi nền kinh   tế  đều tuỳ  thuộc nhiều hơn vào bền ngoài. Nhưng nếu sự  tuỳ  thuộc nhiều  hơn đó đảm bảo tốt hơn cho lợi ích phát triển quốc gia thì không có lý gì lại   không chấp nhận. Theo đó, nền kinh tế  nước ta ngày càng tích cực tham gia  hội nhập vào nền kinh tế khu vực, thế giới và cũng ngày càng tuỳ thuộc hơn   vào nền kinh tế bên ngoài. Lợi ích kinh tế của nước ta đang từng bước đan cài  và gắn kết với nền kinh tế khu vực và thế giới, nhất là từ sau khi khởi xướng   đường lối đổi mới "Mở cửa" hội nhập, Việt Nam tham gia khu vực mậu dịch   tự do Đông Nam á, ký hiệp ước song phương, đa phương và nhiều nước trên   thế giới. Điều đó được thể hiện rõ trong lượng vốn đầu tư của các nước vào  Việt Nam và kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng lên đáng kể. Đầu  tư vào nước ta không chỉ có các nước trong khu vực mà còn có nhiều nước tư  bản phát triển khác như: Mỹ, Pháp, Đức, Nhật.v.v... làm cho lợi ích các nước  và nước ta đan xen vào nhau, tạo lên sự tương đồng nhất định về  lợi ích. Do   4
  5. đó, để  tồn tại phát triển đòi hỏi các nước phải hợp tác, đấu tranh bảo đảm   môi trường an ninh, hoà bình, ổn định, để bảo vệ lợi ích các bên tham gia. Sự  đe doạ độc lập chủ  quyền an ninh quốc gia của Việt Nam cũng gián tiếp đe  dọa lợi ích kinh tế và an ninh của các quốc gia khác trong cộng đồng kinh tế  khu vực và thế giới. Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam có nhiều điều kiện hợp tác,   giao lưu kinh tế, văn hoá, tri thức, thông tin với các nước trong khu vực và thế   giới. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được cải thiện và nâng cao,   quốc phòng an ninh được giữ vững và tăng cường. Toàn cầu hoá kinh tế  ­ Hội nhập kinh tế  quốc tế  là quá trình tự  do hoá  thương mại, tự do hoá tài chính và đầu tư, kéo theo đó là sự mở rộng giao lưu   văn hoá, thông tin tham gia Khu vực mậu dịch tự  do Đông Nam Á (AFTA),  thực hiện lịch trình cắt giảm thuế  quan, hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam  vào các nước thành viên có sức cạnh tranh cao hơn. Mặt khác, hàng hoá Việt  Nam nhập từ các nước thành viên (bao gồm cả hàng hoá tiêu dùng và hàng hoá  là yếu tố  đầu vào của sản xuất) sẽ  rẻ  hơn. Khi hàng hoá tiêu dùng rẻ  thì   người tiêu dùng càng có lợi, đời sống sẽ được cải thiện và nâng cao. Khi hàng  hoá là yếu tố đầu vào của sản xuất sẽ làm cho giá thành sản phẩm hạ xuống,   sức cạnh tranh của hàng hoá nước ta trên thị trường thế giới tăng lên đáng kể,  lợi nhuận siêu ngạch qua đó tăng lên tương  ứng, an ninh kinh tế  được tăng  cường. Ngày nay trong môi trường toàn cầu hoá, cùng với việc xuất hiện của   mạng Internet, các thông tin, tri thức mới lan truyền nhanh chóng giữa các  quốc gia dân tộc, sự ngăn cách về  không gian, thời gian không còn ý nghĩa.  Các phương tiện hiện đại đã giúp các nước trên các Châu Lục khác nhau,   các vùng xa xôi hẻo lánh tiếp cận với tri th ức văn hoá tiên tiến, giúp cho sự  hoà hợp, hiểu biết lẫn nhau tin t ưởng nhau h ơn. Trên cơ  sở  đó xây dựng   5
  6. môi trường hoà bình ổn định và hợp tác. Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các nước cùng nhau   hợp tác giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu để giữ gìn hoà bình ổn định   quốc gia, khu vực và thế giới. Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học công nghệ thúc đẩy kinh   tế  phát triển nhanh chóng, đồng thời cũng nảy sinh những vấn đề  toàn cầu   mới, đe doạ nghiêm trọng đến hoà bình, ổn định và an ninh của mỗi quốc gia   như: Chiến tranh công nghệ cao, phòng chống tội phạm, quốc tế, ma tuý, môi  trường sinh thái.v.v.. Những vấn đề  có tính toàn cầu đó không một quốc gia  riêng lẻ  nào có thể  tự  giải quyết được mà phải có sự  hợp tác, các quốc gia  phải chủ động tham gia vào các tổ chức quốc tế để giải quyết các vấn đề đó. Mặt khác thông qua các tổ  chức này, các nước trao đổi thông tin, kinh  nghiệm, phối hợp hành động để  phòng chống giữ  vững hoà bình ổn định, an   ninh để phát triển. II.   NHỮNG   THÁCH   THỨC   VỀ   AN   NINH   QUỐC   GIA   TRONG   QUÁ  TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh   mang tính giai cấp sâu sắc. Nên nó không chỉ tạo cơ hội để giữ vững hoà bình   an ninh ổn định mà còn tạo ra những thách thức đối với an ninh quốc gia của   mỗi nước tham gia hội nhập. 1. Toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế tạo môi trường   thuận lợi cho chủ  nghĩa đế  quốc và các nước thù địch thực hiện chiến   lược "diễn biến hoà bình" bạo loạn lật đổ  chống phá cách mạng nước  ta. Tham gia hội nhập kinh tế  quốc tế, thúc đẩy giao lưu hợp tác kinh tế  giữa các nước, đồng thời cũng tạo ra môi trường quốc tế  thuận lợi cho các   6
  7. thế  lực thù địch đứng đầu là Mỹ  lợi dụng thân thiện hợp tác để  thực hiện   chiến lược "diễn biến hoà bình". Chống phá các nước có xu hướng phát triển  tiến bộ  đi theo quỹ  đạ o TBCN, l ập l ại tr ật t ự  kinh t ế, chính trị  thế  gi ới  mới do Mỹ  đứng đầu. Đối với nước ta hiện nay, chủ nghĩa đế  quốc và các thế lực thù địch lợi  dụng chính sách "mở  cửa", hội nhập của Đảng và Nhà nước ta để  tiến hành  diễn biến hoà bình trên tất cả  các lĩnh vực kinh tế, chính trị  , tư  tưởng văn  hoá, nhất là về kinh tế. Chúng đánh giá rất cao vai trò của kinh tế tư nhân, cơ  chế thị trường. Các chính khách chóp bu trong các nước tư bản phát triển đều   cho rằng: "Chìa khoá cải cách chính trị ở Việt Nam là doanh nghiệp tư nhân.   Chủ  nghĩa Cộng sản Việt Nam  đã chống lại một cách oanh liệt và giành  thắng lợi vĩ đại trước cuộc tấn công bằng sức mạnh quân sự  của Pháp, Mỹ.   Nhưng nó không thể  tồn tại lâu dài trước những cơ  hội tích cực do doanh  nghiệp tư nhân mở ra". Vì vậy chúng luôn khuyến khích hỗ  trợ  đầu tư, viện   trợ cho thành phần kinh tế tư nhân phát triển để lấn át các thành phần kinh tế  khác, phủ  nhận vai trò chủ  đạo của kinh tế  Nhà nước tạo cơ  sở  kinh tế  xã   hội cho các tổ  chức chính trị  phản động hoạt động chống phá, làm chuyển  hoá tận gốc chế  độ  XHCN, định hướng nền kinh tế  nước ta phát triển theo   con đường TBCN. Tận dụng ưu thế sức mạnh kinh tế trong xu thế "mở cửa" hội nhập, chủ  nghĩa đế  quốc, đứng đầu là Mỹ  tìm mọi cách chi phối đầu tư  từ  các nước tư  bản phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế vào Việt Nam để xâm nhập, lũng  đoạn. Chúng chủ định đầu tư không theo vùng lãnh thổ để gây mất cân đối giữa  các vùng miền ở nước ta. Hạn chế đầu tư vào các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội,   khu vực sản xuất làm cho hiệu quả đầu tư vào Việt Nam thấp. Lợi dụng những  yếu kém về nghiệp vụ và sự thoái hoá của một số cán bộ tiếp nhận đầu tư và  nhận chuyển giao công nghệ, để chuyển giao vào Việt Nam công nghệ lạc hậu,  7
  8. kìm hãm sự phát triển kinh tế của nước ta. Đồng thời tác động xấu đến tốc độ  tăng trưởng phát triển kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế, dòng vốn lưu chuyển thông qua đầu tư  viện  trợ  giữa các quốc gia tham gia hội nhập ngày càng gia tăng. Đó là quan hệ  kinh tế tất yếu trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng độc lập chủ  quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau. Song hội nhập quốc tế trong bối cảnh kinh   tế  chính trị  thế  giới phức tạp hiện nay, Mỹ  và các thế  lực thù địch lại sử  dụng đầu tư, viện trợ như  là một công cụ  để  thâm nhập phá hoại các nước   khác. Đầu tư, viện trợ  bao giờ  cũng kèm theo điều kiện chính trị  hết sức  nghiệt ngã, thúc đẩy nền kinh tế  thị  trường các nước XHCN phát triển theo   hướng thị  trường tự  do, thoát ly dần sự  kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước.   Chuyển hoá dần nền kinh tế  các nước đi theo quỹ  đạo TBCN. Năm 1989   trong " Báo người bảo vệ" của Anh đã công khai tuyên bố  "Nguyên tắc cơ  bản nhất của chủ  nghĩa Bush là: Mục tiêu viện trợ  của Phương tây là phải  thúc  đẩy và khen thưởng  quá trình  đa nguyên hoá chính trị  và kinh tế  thị  trường tự do trong các nước XHCN. Về kinh tế thực hiện đa nguyên hoá, tức   là tự do hoá nền kinh tế, chấp nhận kinh tế thị trường tự do hoàn toàn..." theo  họ, nếu ai đi theo hướng đó, thì người đó mới nhận được sự  ủng hộ  đầu tư  và cho vay của Mỹ; "Nước nào chấp nhận đầu tiên thì nước đó đầu tiên nhận   được viện trợ". Trong bài bình luận đăng trên báo Lơ  ­ pi ­ ga ­ rô của Pháp  ngày 14 tháng 12 năm 1989 khi đề  cập đến vấn đề  các nước Phương Tây   dùng đô la Mỹ để ủng hộ công cuộc cải cách "mở cửa" của các nước XHCN,   đã dẫn lời của Brê ­ dên ­ Sky lộ  rõ thực chất của khoản viện trợ  này "là   khoản tiền an táng, tiền tuốt hợp với lễ  nghi chế  độ  Cộng sản". Điều đó  chứng tỏ Mỹ và các nước Phương Tây luôn dùng viện trợ làm mồi nhử, viện  trợ bao giờ cũng gắn với điều kiện chính trị hết sức phản động để  can thiệp   ngày càng sâu vào các nước XHCN để  chuyển hoá dần chế  độ, tạo thời cơ  8
  9. cho bọn phản động trong nước gây bạo loạn lật đổ  chính quyền. ý đồ  thâm  độc đó thể hiện rõ nét qua sự viện trợ của Mỹ và Phương Tây cho các nước   Đông Âu khi cải cách, mở  cửa, hội nhập. Gần đây, trước khi ký hiệp  ước   thương mại song Phương Việt ­ Mỹ đặt những điều kiện chính trị "luật nhân  quyền" hết sức thô bạo. Lợi dụng sức mạnh kinh tế  và Liên Hiệp ­ Quốc, Mỹ  khống chế  các  nước và các tổ chức kinh tế quốc tế như: Quỹ tiền tệ quốc tế , ngân hàng thế  giới, tổ chức thương mại thế giới trong việc đầu tư, viện trợ cho vay và buôn  bán với Việt Nam. Mặt khác, lợi dụng "mở cửa" hội nhập, giao lưu kinh tế,  các thế  lực thù địch truyền bá văn hoá xấu độc, tư  tưởng phản động, kích  động tôn giáo, chia rẽ dân tộc, gây xung đột sắc tộc tôn giáo.v.v.. Thực trạng trên đây phản ánh quá trình tham gia hội nhập kinh tế  quốc   tế  đang đặt ra thách thức lớn đối với công cuộc bảo vệ  chủ  quyền toàn vẹn  lãnh thổ, bảo vệ  chế  độ  XHCN và đe doạ  đến hoà bình, an ninh,  ổn định  chính trị ­ xã hội của nước ta. Do đó, giữ vững độc lập tự chủ và định hướng  XHCN về  kinh tế, chính trị  trong môi trường hội nhập sẽ  gặp vô vàn khó   khăn. 2. Hội nhập kinh tế quốc tế làm gia tăng cạnh tranh quyết liệt hơn,   an ninh kinh tế bị đe doạ. Hội nhập kinh tế quốc tế với sự tham gia của nhiều chủ thể quốc gia có   chế  độ  chính trị, trình độ  phát triển khác nhau vào thị  trường khu vực và thế  giới thống nhất sẽ  làm cho cạnh tranh quyết liệt hơn. Nền kinh tế  của các  nước kinh tế  chậm phát triển sẽ  dễ  bị  tổn thương do áp lực kinh tế  từ  bên  ngoài. Các luồng vốn, công nghệ, hàng hoá dịch vụ  sẽ  chạy đến nơi nào có  môi trường kinh doanh thuận lợi hơn. Những hàng hoá, dịch vụ có chất lượng   cao, giá cả  thấp hơn thoả  mãn nhu cầu của khách hàng tốt hơn sẽ  chiến  thắng trong cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị phần ngoài nước.   9
  10. Ngược lại những nước kinh tế  kém phát triển chất lượng hàng hoá dịch vụ  thấp giá cả  cao sẽ  thất bại trong cạnh tranh và thu hẹp thị  phần. Theo đó,   cạnh tranh trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, nhưng cũng là  nguyên nhân đổ vỡ, thua thiệt của các nước kinh tế lạc hậu khi tham gia hội   nhập. Nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế từ một điểm xuất phát thấp,   khoảng cách chênh lệch và trình độ, phát triển giữa nước ta với các nước   trong khu vực và các nước phát triển trên thế giới khá lớn. Tuy chúng ta đang  trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng thực chất vẫn   là nền kinh tế  nông nghiệp (75% lao động trong nông nghiệp). Hệ  thống kỹ  thuật công nghệ  lạc hậu từ 2 ­ 4 thế  hệ  so với thế giới, năng suất lao động  thấp, chất lượng sản phẩm một số hàng hoá còn thấp. Do đó, sức cạnh tranh   hàng hoá của ta kém, khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị phần trong nước và  ngoài nước còn rất hạn chế. Đây thực sự là một nguy cơ, một áp lực lớn khi   ta đẩy nhanh nhịp độ  mở  cửa hội nhập, an ninh kinh tế  sẽ  bị  đe doạ. Mặt   khác chúng ta đang trong quá trình chuyển sang phát triển nền kinh tế  thị  trường, định hướng XHCN. Các yếu tố  của thị  trường mới đang được hình  thành, chưa hoàn chỉnh. Các luật chơi trong toàn cầu hoá và hội nhập ta chưa  thạo, nguy cơ  kiến thức về  kinh tế  thị  trường cũng còn nhiều bất cập. Đội  ngũ cán bộ quản lý điều hành chưa thật sự sẵn sàng và chưa đủ  đáp ứng yêu  cầu cao của hội nhập. Việc thiếu hiểu biết về thị trường khu vực và thế giới,  thiếu công cụ, phương tiện trong giao dịch, thanh toán quốc tế... là thách thức   lớn trong tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Bên cạnh đó, tình trạng tiêu cực,   tham nhũng trong bộ  máy quản lý đang trở  thành quốc nạn, tạo môi trường  cho sự xâm nhập bằng kinh tế để phá hoại gây mất ổn định, chuyển hoá chế  độ. Điều đó sẽ  gây khó khăn không nhỏ  cho chúng ta trong bảo vệ  an ninh   kinh tế, chính trị quốc gia. 10
  11. 3. Hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng sự lệ thuộc nền kinh tế nước   ta vào nền kinh tế thế giới. Độc lập tự  chủ  và định hướng XHCN nền  kinh tế sẽ đứng trước thách thức lớn. Hội nhập kinh tế  quốc tế  làm tăng sự  tuỳ  thuộc lẫn nhau giữa các nền  kinh tế. Một quốc gia có tỷ lệ ngoại thương cao, thu hút được vốn đầu tư từ  ngoài nước sẽ  tạo điều kiện tốt cho phát triển, tăng trưởng kinh tế, nhưng   cũng gia tăng sự  bất  ổn từ  bên ngoài đưa lại do phụ  thuộc vào vốn và thị  trường nước ngoài. Vào những năm 60 của thế kỷ XX, Nhật bản là nước có  sự  phát triển tăng trưởng cao nhất thế giới do hoạt động ngoại thương đem   lại, đến đầu những năm 70 do khủng khoảng của nền kinh tế thế giới đã đẩy   Nhật vào tình thế  khó khăn suy thoái nghiêm trọng. Năm 1997 cuộc khủng   hoảng tài chính  ở  Đông Nam á bắt đầu nổ  ra  ở  Thái Lan đã nhanh chóng lan   rộng sang các nước Inđônêxia, Hàn quốc, Malaixia .v.v.. Sự  tuỳ  thuộc lẫn   nhau giữa các nền kinh tế  còn làm tăng nợ  nước ngoài, nhất là các nước lại   thường xuyên xảy ra những chấn động kinh tế  do thiên thai, hoặc có những   sai lầm về chính sách vĩ mô.Như Braxin năm 1987 nợ nước ngoài lên tới 124   tỷ USD số lãi phải trả (1980 ­ 1988) là 91 tỷ USD, nợ nần lớn đã gây tác động   xấu đến sự  phát triển kinh tế, an ninh tài chính bị  đe doạ  nghiêm trọng, đẩy   nền kinh tế  Braxin đứng trước sự  đổ  vỡ  và lệ  thuộc vào nước ngoài ngày  càng gia tăng. Ở nước ta, mức độ  nợ tính đến cuối năm 2001, tổng dư  nợ so với GDP   khoảng 43%; Tổng dư nợ so với xuất khẩu khoảng 89%; Nghĩa vụ nợ so với   xuất khẩu khoảng 11%. Theo kinh nghiệm của các nước đang phát triển, mức   độ này còn trong "giới hạn an toàn" nhưng cũng đã gần tới cận "an toàn". Tuy nhiên, từ sự lệ  thuộc của những nền kinh tế nêu trên cho thấy toàn  cầu hoá kinh tế  và hội nhập kinh tế  thế  giới phần nào đã làm giảm vai trò  điều tiết của các Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc biệt là với nhà nước ở  11
  12. các nước đang phát triển, làm tăng sự  lệ  thuộc vào các nền kinh tế  lớn, tăng  nguy cơ bất ổn. Một trong những lý do là sự tồn tại, hoạt động của các công  ty xuyên quốc gia, sự vận động của các luồng tài chính, hàng hoá toàn cầu, sự  tồn tại của các quy tắc, luật lệ của các tổ chức kinh tế, các thể chế điều tiết  kinh tế  toàn cầu lại chưa hoàn chỉnh bị  chi phối khống chế  bởi các nước  lớn... Đặc điểm này đang là những thách thức lớn đối với nền kinh tế nước ta  trong quá trình hội nhập. Vì vậy phải tăng cường nội lực và phải giữ  được  vai trò điều tiết, quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, đây là cơ  sở  để  bảo vệ độc lập, chủ quyền và định hướng XHCN của đất nước. III. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN 1. Những quan điểm cơ bản Để  thực hiện thắng lợi đường lối chiến lược phát triển kinh tế  xã hội  của Đảng giữ  vững an ninh quốc gia, quá trình hội nhập kinh tế  khu vực và  thế giới cần quán triệt những quan điểm cơ bản sau đây: Một là: Giữ vững độc lập, chủ quyền qu ốc gia, kiên định mục tiêu xã   hội chủ nghĩa Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ  IX khẳng định: "Chủ  động  hội nhập kinh tế  quốc tế  và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực,   nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ, bảo vệ lợi ích   dân tộc, an ninh quốc gia, giữ  gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ  môi  trường". Đây là chủ  trương hết sức đúng đắn, cần được quán triệt sâu sắc   trong quá trình hội nhập. Có thể nói rằng toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế tất yếu  dẫn đến sự ràng buộc và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc. Tham  gia vào bất cứ  tổ  chức quốc tế  nào, hay cam kết thực hiện một hiệp định  song phương hoặc đa phương nào thì các nước thành viên đều phải tuân thủ  12
  13. những quy ước, những thông lệ quốc tế theo nguyên tắc đồng thuận, trong đó  có cả những điều khoản quy  ước hạn chế phần nào tính độc lập tự chủ  của   mỗi quốc gia thành viên, nhất là các thành viên có nền kinh tế chưa phát triển.  Mặt khác, toàn cầu hoá hiện nay đang bị  quan hệ  sản xuất TBCN và pháp  quyền Tư  sản chi phối. Do đó trong quá trình hội nhập vừa phải tuân theo  những vấn đề  có tính nguyên tắc chung đó, nhưng vẫn phải giữ  vững được   độc lập chủ  quyền, an ninh quốc gia và định hướng XHCN trong phát triển  kinh tế; kiên quyết đấu tranh chống lại âm mưu lợi dụng hội nhập để  tiến  hành chiến lược "diễn biến hoà bình" chống phá cách mạng nước ta của Chủ  nghĩa đế  quốc và các thế  lực thù địch. Không chấp nhận đầu tư  viện trợ  có   kèm theo điều kiện chính trị làm phương hại đến an ninh quốc gia. Hai là: Hội nhập kinh tế là nhiệm vụ của toàn Đảng toàn dân. Một trong những hạn chế  của thực hiện chủ  trương mở cửa hội nhập   của nước ta trong những năm qua là: Không ít người coi hội nhập là của Nhà   nước Trung  ương, vì vậy các cấp, các ngành, nhất là các doanh nghiệp chưa  sẵn sàng hội nhập, đã làm giảm sức mạnh quốc gia trong hội nhập. Do đó,  cần phải quán triệt sâu sắc hơn nữa quan điểm hội nhập là sự  nghiệp của  toàn Đảng, toàn dân. Quá trình hội nhập kinh tế phải phát huy mọi tiềm năng   thế mạnh của mọi thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh tế  Nhà  nước phải giữ  vai trò chủ  đạo để  định hướng các thành phần kinh tế  khác.  Chỉ có như vậy, chúng ta mới phát huy được hết lợi thế so sánh trong khu vực   và thế giới, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trong hội nhập, đẩy lùi nguy cơ  đe doạ độc lập chủ quyền, an ninh quốc gia do tác động của hội nhập. Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh   và cạnh tranh, phải khôn khéo tận dụng tối đa những mặt có lợi, hạn chế tối   thiểu những mặt có hại, bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia.  Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế phải có cái nhìn đúng đắn, thấy rõ  13
  14. được tính chất hai mặt của hội nhập, có cái được nhưng cũng có cái thiệt.  Được, thiệt như thế nào là tuỳ thuộc vào năng lực và hiệu quả tham gia hội   nhập của mỗi nước. Nhưng không có cái gì được cả  hay mất cả. Vấn đề  quan trọng là phải làm thế nào để tận dụng tối đa cơ hội, đẩy lùi thách thức   để  đỡ  thua thiệt. Muốn vậy, khi tham gia hội nh ập ph ải h ết s ức t ỉnh táo,  khôn khéo linh hoạt trong xử lý tính hai mặt của hội nhập. Tính toán được,   mất phải trên quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể, đấu tranh với mọi quan  điểm phiến diện khi  hội  nhập chỉ  thấy thời cơ  không thấy  được  những  thách thức đặt ra, hoặc chỉ nhấn mạnh lợi ích kinh tế  không chú ý đến vấn  đề an ninh quốc gia, dẫn đến mất cảnh giác để kẻ địch lợi dụng xâm nhập. Bốn là: Chủ động hội nhập với lộ trình hợp lý. Trên cơ  sở  nhận thức đầy đủ  những đặc điểm kinh tế  xã hội nước ta,   chủ  động đề  ra kế  hoạch và lộ  trình hội nhập hợp lý vừa phù hợp với trình  độ phát triển kinh tế đất nước, vừa đáp ứng yêu cầu định chế của các tổ chức   kinh tế quốc tế mà nước ta tham gia; Tranh thủ được các ưu đãi giành cho các   nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế  chuyển đổi từ  kinh tế  tập   trung bao cấp sang kinh tế thị trường. Hội nhập kinh tế nhưng không bị động, lôi cuốn chạy theo, nhưng không   do dự, bỏ lỡ cơ hội, thậm chí phải biết sử dụng hội nhập kinh tế quốc tế làm  động lực thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của nền kinh tế Nước ta hội nhập kinh tế  quốc tế  và khu vực trong điều kiện trình độ  phát triển kinh tế  và công nghệ  còn thấp. Vì vậy, phải tiến hành hội nhập  từng bước, dần dần mở  cửa thị  trường. Không nên nóng vội quá mức vượt  khả  năng chịu đựng của nền kinh tế  sẽ  dẫn đến thua thiệt, đổ  vỡ  hàng loạt   doanh nghiệp, vượt khỏi tầm kiểm soát của Nhà nước, kéo theo nhiều hậu  quả khó lường. Tuy nhiên, kết hợp kinh tế ­ xã hội với Quốc phòng ­ an ninh  không nên kéo dài lộ trình hội nhập sẽ dẫn đến tình trạng duy trì quá lâu chế  14
  15. độ bảo hộ, bao cấp của Nhà nước, gây tâm lý trì trệ, ỷ lại, nguy cơ tụt hậu xa   hơn về  kinh tế càng lớn trước sự phát triển nhanh của các nền kinh tế khác.   Chương trình hội nhập phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển   kinh tế  ­ xã hội, phải đáp  ứng yêu cầu của những định chế  kinh tế  quốc tế  mà nước ta cam kết. Những quan điểm cơ  bản trên đây thể hiện sự  thấu suốt đường lối đối   ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Đảm bảo cho chúng ta giữ  vững được độc   lập, chủ quyền, an ninh quốc gia và định hướng XHCN. 2. Những giải pháp cơ bản Để  vượt qua được những thử thách của quá trình mở  cửa hội nhập giữ  vững an ninh quốc gia độc lập chủ  quyền tàon vẹn lãnh thổ  và định hướng  XHCN, cần thực hiện tốt các giải pháp sau đây:  Một là: Tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về  toàn cầu hoá và   hội nhập kinh tế quốc tế cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Tuyên truyền sâu rộng trong các cấp, các ngành, các doanh nghi ệp và   mọi ngườ i dân Việt Nam nhận th ức đúng đắn về  toàn cầu hoá kinh tế  và  hội nhập kinh t ế qu ốc t ế, tác độ ng của nó đến đời số ng kinh tế, chính trị ,   xã hội quốc phòng, an ninh c ủa n ước ta. Tránh nhận thức, coi hội nh ập là   của Trung  ươ ng, ch ỉ th ấy thu ận l ợi, th ời c ơ c ủa h ội nh ập mà không thấy  hết đượ c những thách thức đặt ra, hoặc lẫn lộn gi ữa toàn cầu hoá kinh tế,  hội nhập kinh tế  qu ốc tế  v ới toàn cầu hoá nói chung, hội nhập t ất c ả.   Phải khẳng định rõ rằng: Toàn cầu hoá kinh tế, hội nhập kinh t ế qu ốc t ế  là một xu thế  tất yếu n ổi b ật c ủa th ời đạ i ngày nay. Đả ng ta chủ  trươ ng   mở  cửa hội nhập kinh t ế  qu ốc t ế  nh ưng ph ải trên nguyên tắ c tôn trọ ng  độc lập chủ  quyền, an ninh toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp công việc   nội bộ  của nhau, hai bên cùng có lợi. Hoà nhập nhưng không hoà tan, giữ  15
  16. vững độc lập chủ  quyền quốc gia. Ph ải thi ết l ập và vậ n hành mạ ng lướ i  thông  tin   toàn   cầu   để   mọi  ngườ i   dân,   mọi   cấp,  mọi  ngành,   mọi   doanh  nghiệp tiếp c ận v ới nh ững ki ến th ức c ập nh ật, xác thực về  những diễn   biến của nền kinh t ế toàn cầu, để có đố i sách hội nhập hợp lý. Giáo dục nâng cao cảnh giác cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, nhận  thức ngày càng đầy đủ  hơn âm mưu thâm độc của các thế  lực thù địch lợi  dụng toàn cầu hoá kinh tế  và hội nhập kinh tế  quốc tế  để  tiến hành chiến  lược "Diễn biến hoà bình" chống phá cách mạng nước ta, lái nền kinh tế  nước ta đi theo con đường TBCN. Đây là vấn đề  có ý nghĩa hết sức quan  trọng đến việc bảo vệ an ninh quốc gia trong quá trình hội nhập. Hai là: Xây dựng một chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế gắn với giữ   vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia. Xây dựng chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế là cụ  thể  hoá đường lối   "mở cửa" hội nhập của Đảng và Nhà nước ta. Chiến lược đó phải được xây   dựng trên nguyên tắc độc lập tự chủ và thể chế của các tổ chức kinh tế quốc   tế, khả năng tham gia hội nhập của nền kinh tế nước ta  ở từng giai đoạn lịch  sử  cụ thể để xác định bước đi và kế  hoạch triển khai thực hiện, tăng cường   ký các hiệp định song phương đa phương với các nước trong khu vực và thế  giới. Kết hợp chặt chẽ  xây dựng chiến lược hội nhập kinh t ế  qu ốc t ế v ới   xây dựng các biện pháp phòng ngừa như: Phòng ngừa chiến tranh, phòng  ngừa những cuộc khủng ho ảng t ừ bên ngoài tác động, phòng ngừa các biến  động về  chính trị kinh tế. Để  có đượ c các biện pháp phòng ngừa hữu hiệu,  chúng ta phải có chính sách ngoại giao phòng ngừa, quá trình hội nhập kinh   tế  phải đi đôi với việc tăng cường các cuộc tiếp xúc trao đổi, các hội nghị  hiệp thương, hội nghị  các cấp, hội nghị  các chuyên gia để  trao đổi thông  tin, thảo luận những v ấn đề  bất đồng, thảo luận các chính sách, các giải  16
  17. pháp an ninh quốc tế và khu vực để  tránh các cuộc xung đột có thể  xảy ra,  tạo môi trường hoà bình ổn định cho kinh tế phát triển. Xây dựng hệ thống các giải pháp ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng kinh   tế, đặc biệt là lĩnh vực tài chính tiền tệ. Tăng cường tư vấn và hỗ  trợ  về  tài  chính của các tổ  chức IMF, WB, làm tăng thêm nguồn vốn và khả  năng sử  dụng hiệu quả  nguồn vốn vào việc phát triển kinh tế, giữ  vững an ninh tài  chính, tiền tệ. Có chiến lược dự trữ quốc gia h ợp lý, trong đó dự trữ ngoại tệ là quan  trọng nhất, đề  phòng bao vây cấm vận, vẫn có thể  mua đượ c các hàng hoá  dịch vụ  cần thiết. Dự  trữ  các sản phẩm thiết yếu như  xăng, dầu, gạo...  bảo đảm an ninh lương thực. Trong xây dựng chiến lược hội nhập kinh tế  cần phải thực hiện hệ  thống chính sách gắn kết lợi ích của nước ta với lợi ích của các quốc gia   khác, đặc biệt là các trung tâm kinh tế lớn, các nước láng giềng, các tổ  chức  kinh tế  quốc tế, tạo nên sự  tương đồng về  lợi ích. Sự  gắn kết này sẽ  ràng  buộc các quốc gia khác, để  bảo vệ  được lợi ích của mình, họ  phải tham gia   bảo vệ lợi ích của nước ta. Đây là kế sách bảo vệ an ninh quốc gia, hạn chế  sự đe doạ từ bên ngoài. Ba là: Đẩy mạnh  đất nước, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao   động, chất lượng, hiệu quả  kinh tế  của các doanh nghiệp và toàn bộ  nền   kinh tế. Để  bảo  đảm  an ninh hàng hoá dịch vụ  và sự  tồn tại của các doanh   nghiệp trên thương trường trong quá trình hội nhập, vấn đề  quan trọng hàng   đầu là phải đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản  phẩm. Hiện nay,  ở  nước ta có một số  hàng hoá dịch vụ  có chất lượng cao,  ngày càng chiếm lĩnh thị  trường, mở rộng thị phần trong và ngoài nước. Bên  cạnh đó, không ít sản phẩm hàng hoá dịch vụ  đang đứng trước nguy cơ  bị  17
  18. xâm thực thị  phần, ngay cả  thị  phần trong nước cũng không giữ  được, mà  nguyên nhân chủ  yếu là do chất lượng kém, giá thành cao, sức cạnh tranh  thấp. Nhà nước cần phải có một chiến lược công nghệ, lựa chọn và nhận   chuyển giao công nghệ mới nhất tạo ra sự đột biến về năng suất, chất lượng  những hàng hoá ta có lợi thế  cạnh tranh để  có thể  chiến thắng trên thương   trường, giữ vững và mở rộng thị phần trong và ngoài nước. Lộ   trình   thực   hiện   AFTA   đang   diễn   ra   rất   khẩn   trương,   Hiệp   định   thương mại Việt ­ Mỹ đã ký kết, khi AFTA và Hiệp định thương mại có hiệu   lực hoàn toàn thì hầu hết các doanh nghiệp nước ta sẽ  không được bảo hộ  bằng thức và các biện pháp phi thức quan. Trong điều kiện tự do hoá thương   mại như  vậy, đòi hỏi các doanh nghiệp và toàn bộ  nền kinh tế  phải khẩn   trương đầu tư đổi mới thiết bị và công nghệ theo hướng hiện đại. Đồng thời   phải rà soát, kịp thời điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo hướng phát huy các nguồn   vốn trong nước để  giảm sự  lệ  thuộc vào nợ  và viện trợ  của nước ngoài.   Không ngừng nâng cao khả  năng cạnh tranh trên cả  ba mặt: Sản phẩm hàng  hoá (chất lượng, giá cả); Doanh nghiệp (năng lực công nghệ, trình độ  quản  lý, hiệu quả  sản xuất kinh doanh);   Tổng thể  nền kinh tế  (kinh tế  vĩ mô  ổn  định, phát triển nhanh và bền vững). Ra sức xây dựng doanh nghiệp, công ty,  nhất là doanh nghiệp Nhà nước thành những đơn vị mạnh về công nghệ, giỏi về  quản lý, năng động sáng tạo trong làm ăn. Khẩn trương tiến hành cải cách, đổi  mới hệ thống doanh nghiệp Nhà nước dựa trên tư duy mới về vai trò, vị trí và   trách nhiệm của doanh nghiệp Nhà nước, về  cơ  chế  quản lý, chứ  không chỉ  dừng lại ở sắp xếp đơn giản, thuần tuý về sản lượng. Bốn là: Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống luật pháp, nâng cao hiệu   lực quản lý của nhà nước. Tham gia hội nhập kinh tế  quốc tế và khu vực, chúng ta phải tuân theo   18
  19. những thông lệ và cam kết song phương, đa phương. Mặt khác, hệ thống luật  pháp nước ta còn thiếu, chưa đáp  ứng được yêu cầu hội nhập. Do đó, cần   phải tích cực xây dựng khung thể chế "kinh tế thị trường định hướng XHCN"   bao gồm thị  trường hàng hoá, vốn, tiền tệ, lao động, công nghệ  bất động   sản... Đặc biệt phải xây dựng khẩn trương các định chế  để  hình thành thị  trường vốn. Hoàn thiện các chính sách tiền tệ, hướng các chính sách tín dụng,  lãi suất, tỉ  giá theo cơ  chế  thị  trường có sự  quản lý của nhà nước. Bổ  sung,  từng bước hoàn chỉnh hệ thống Luật pháp vừa phù hợp với thông lệ, định chế  quốc tế, vừa giữ vững được độc lập tự chủ. Để  thích  ứng với yêu cầu hội nhập, phải đổi mới cơ  chế  quản lý đáp  ứng các cam kết của nước ta về  mở  cửa thương mại, đầu tư, dịch vụ, về  thuế  và phi thức..., trong đó cần đặc biệt chú ý vấn đề  "đối xử  quốc gia",   cạnh tranh lành mạnh theo Pháp luật, không cho phép hình thành các tập đoàn  độc quyền tư nhân trong nước hay của nước ngoài. Tăng cường vai trò kiểm   soát của Nhà nước đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tích cực sử  dụng các phương tiện kỹ  thuật hiện đại vào công tác quản lý. Tổ  chức tốt  việc đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ. Biết   vận dụng những luật chơi quốc tế để thực hiện mục tiêu của mình là yếu tố  quan trọng để các doanh nghiệp đứng vững trong hội nhập. Năm là: Tăng cường hoạt động an ninh trong quá trình hội nhập. Hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh quốc tế ngày càng phức tạp. Sự  sụp đổ  của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu làm thay đổi so sánh lực   lượng về cơ bản bất lợi cho đất nước ta. Trong một thế giới mà trật tự cũ đã  biến mất, trật tự mới còn chưa định hình, một thế giới mà những lợi ích của   các quốc gia, các khu vực đan xen vào nhau hơn bao giờ  hết, vừa có mặt   thống nhất, vừa có mặt xung đột. Đó là môi trường thuận lợi cho các hoạt   động phá hoại an ninh của các thế  lực thù địch đối với nước ta. Do đó, hơn  19
  20. bao giờ hết, nước ta phải luôn gắn xây dựng với bảo vệ. Mặt khác, hội nhập kinh tế  quốc tế  không chỉ  có thuận lợi, thời cơ  mà   còn có cả  những thách thức to lớn. Thông qua các quan hệ  kinh tế  quốc tế,  các thế  lực thù địch lợi dụng những yếu kém, sơ  hở  của ta để  tiến hành  "Diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ". Vì vậy, cần phải tăng cường các hoạt   động an ninh trong hội nhập kinh tế quốc tế. Hoạt động an ninh trong quá trình hội nhập được thực hiện trong mọi   hoạt động kinh tế  xã hội, cần đấu tranh khắc phục tư  tưởng lợi ích kinh tế  thuần tuý, không dự  kiến hết những phương hại về  an ninh có thể  xảy ra   trong qúa trình hội nhập. Lực lượng Công an nhân dân và các cơ quan bảo về  Pháp luật nhà nước cùng với Quân đội là lực lượng nòng cốt  bảo vệ an ninh   quốc gia trong quá trình hội nhập. Phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn  xâm nhập phá hoại của các thế lực thù địch. Kết hợp chặt chẽ chính trị  đối ngoại với kinh tế  đối ngoại, nhằm nâng  cao vị  thế  của nước ta trên chính trường quốc tế, đồng thời tạo thế  đứng   vững chắc, có lợi của nền kinh tế  nước ta  trên thương trường toàn cầu và   khu vực. 20

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản