intTypePromotion=1

Bài viết: Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức

Chia sẻ: Pham Xuan Hung Hung | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:32

0
66
lượt xem
6
download

Bài viết: Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Tổng quan về nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức, thực trạng về nguồn vốn oda, giải pháp nâng cao khả năng huy động và sử dụng vốn oda tại Việt Nam trong tương lai là những nội dung chính trong bài viết "Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức". Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bài viết: Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ <br /> NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC<br /> <br /> <br /> 1.1. NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC (ODA)<br /> <br /> 1.1.1 Đặt vấn đề <br /> <br /> Vốn  ODA  là  một  phần  của  nguồn  tài  chính chính  thức  mà  Chính  phủ  các  nước <br /> phát triển và các tổ chức đa phương dành cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ <br /> phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội các quốc gia này. Vốn ODA bao gồm tất cả các <br /> khoản viện  trợ  không  hoàn  lại,  có  hoàn  lại  và  vay  ưu  đãi;  trong  đó  phần  viện  trợ <br /> không  hoàn lại  và  các  yếu  tố  ưu  đãi  khác  chiếm  ít  nhất  25%  vốn  cung  ứng.  Nhiều <br /> quốc gia đã thu hút, vận động và sử dụng vốn ODA khá hiệu quả. Song không ít quốc <br /> gia lại là bài học không thành công về quản lý vốn ODA. Hơn 15 năm qua, Việt Nam <br /> đã có được những thành công đáng kể trong lĩnh vực này, nhưng đồng thời cũng nổi <br /> lên nhiều bất cập đòi hỏi Chính phủ và Quốc hội phải quan tâm đúng mức.<br /> <br /> 1.1.2. Định nghĩa ODA<br /> <br /> ODA, là chữ viết tắt của cụm từ  “Official Development Assistance”, được OECD <br /> coi  là   nguồn   tài  chính   do  các   cơ   quan  chính  thức   (chính  quyền  nhà   nước   hay  địa <br /> phương) của một nước viện trợ  cho các nước đang phát triển và các tổ  chức nhằm  <br /> thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước.<br /> <br /> Điều 1 trong nghị định 131/2006/NĐ­CP ngày 09 tháng 11 năm 2006 của chính phủ <br /> có nêu rõ: Hỗ trợ phát triển chính thức là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước <br /> hoặc Chính phủ  nước Cộng hòa xã hội chủ  nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ  là chính <br /> phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên <br /> chính phủ.<br /> <br /> 1.1.3. Các hình thức cung cấp ODA bao gồm:<br /> <br /> ODA không hoàn lại: là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn trả  lại cho <br /> nhà tài trợ. Viện trợ không hoàn lại thường được thực hiện dưới các dạng như <br /> hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ nhân đạo bằng hiện vật…;<br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 1<br /> ODA vay ưu đãi (hay còn gọi là tín dụng ưu đãi): là khoản vay với các điều kiện  <br /> ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ, bảo đảm “yếu tố  không <br /> hoàn lại” (còn gọi là “thành tố hỗ trợ”) đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có  <br /> ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc;<br /> ODA vay hỗn hợp: là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu  <br /> đãi được cung cấp đồng thời với các khoản tín dụng thương mại, nhưng tính <br /> chung lại có “yếu tố  không hoàn lại” đạt ít nhất 35% đối với các khoản vay có <br /> ràng buộc và 25% đối với các khoản vay không ràng buộc.<br /> <br /> 1.1.4. Các phương thức cơ bản cung cấp ODA gồm có:<br /> <br /> Hỗ trợ dự án;<br /> Hỗ trợ ngành; <br /> Hỗ trợ chương trình;<br /> Hỗ trợ ngân sách.<br /> <br /> 1.1.5. Các nguồn cung cấp ODA<br /> <br /> ­ ODA song phương : là các khoản viện trợ  trực tiếp từ  nước này đến nước kia  <br /> thông qua hiệp định được ký kết giữa hai chính phủ. <br /> <br /> ­ ODA đa phương : là viện trợ  chính thức của một tổ  chức quốc tế (IMF, WB,…)  <br /> hay tổ chức khu vực (ADB, EU,…) hoặc của một chính phủ của một nước dành cho chính <br /> phủ của một nước nào đó, nhưng có thể được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương  <br /> như UNDP (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc), UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên Hiệp <br /> Quốc), …<br /> <br /> * Các tổ chức tài chính quốc tế cung cấp ODA chủ yếu : <br /> <br /> ­ Ngân hàng thế giới (WB) <br /> <br /> ­ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)<br /> <br /> ­ Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)<br /> <br /> 1.2 VAI TRÒ CỦA ODA ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ<br /> <br /> 1.2.1 Những mặt tích cực<br /> <br /> Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là điều không <br /> thể  phủ  nhận. Điều này được thể  hiện rõ qua những thành công mà các nước tiếp  <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 2<br /> nhận ODA đã đạt được. Cụ thể như sau:<br /> <br /> 1.2.1.1 Nhu cầu vốn ODA cho đầu tư phát triển kinh tế <br /> <br /> Trong khi các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng thiếu vốn trầm  <br /> trọng nên thông qua ODA song phương có thêm vốn để  phục vụ  cho quá trình phát  <br /> triển kinh tế xã hội. <br /> <br /> Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ chức quốc  <br /> tế, thực hiện việc thanh toán nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA.<br /> <br /> ODA giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn, tạo điều kiện nâng cao <br /> hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng quy mô doanh nghiệp.<br /> <br /> Ngoài ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ  hội để  nhập khẩu máy móc  <br /> thiết bị cần thiết cho quá trình công nghiệp hoá ­ hiện đại hoá đất nước, từ các nước  <br /> phát triển. Thông qua nước cung cấp ODA, nước nhận viện trợ  có thêm nhiều cơ <br /> hội mới để tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt được sự giúp đỡ lớn hơn <br /> về vốn từ các tổ chức này.<br /> <br /> 1.2.1.2 ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và  <br /> phát triển nguồn nhân lực.<br /> <br /> Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ  là công <br /> nghệ, kỹ  thuật hiện đại, kỹ  xảo chuyên môn và trình độ  quản lý tiên tiến. Các nhà <br /> tài trợ  còn  ưu tiên đầu tư  cho phát triển nguồn nhân lực vì họ  tin tưởng rằng việc  <br /> phát triển của một quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực. <br /> <br /> ODA được cấp cho các nước nhận tài trợ thông qua các hoạt động như: Hợp tác  <br /> kỹ thuật, huấn luyện, đào tạo nhằm đào tạo cán bộ chuyên môn để đóng góp vào sự <br /> phát triển kinh tế, xã hội của các nước có người được huấn luyện, đào tạo,   cử <br /> chuyên gia để chuyển giao hiểu biết, công nghệ cho các nước đang phát triển thông  <br /> qua định hướng, điều tra và nghiên cứu, góp ý, cung cấp thiết bị và vật liệu độc lập <br /> cũng là một bộ  phận của chương trình hợp tác kỹ  thuật, hợp tác kỹ  thuật theo thể <br /> loại từng dự án.<br /> <br /> Nguồn vốn ODA có vai trò tích cực hỗ  trợ  phát triển năng lực con người trong <br /> việc đào tạo hàng vạn cán bộ cho nước tiếp nhận trên rất nhiều lĩnh vực như nghiên <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 3<br /> cứu cơ bản và ứng dụng khoa học, công nghệ, quản lý kinh tế và xã hội, thông qua <br /> việc cung cấp học bổng nhà nước, cử  chuyên gia nước ngoài để  đào tạo tại chỗ <br /> trong quá trình thực hiện các chương trình, dự  án ODA, chuyển giao công nghệ  và <br /> kinh nghiệm quản lý tiên tiến, cung cấp trang thiết bị nghiên cứu và triển khai,... <br /> <br /> 1.2.1.3 ODA giúp các nước đang phát triển điều chỉnh cơ cấu kinh tế<br /> <br /> Các dự  án ODA mà các nhà tài trợ  dành cho Việt Nam thường  ưu tiên vào phát <br /> triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực tạo điều kiện thuận <br /> lợi cho việc phát triển cân đối giữa các ngành, các vùng khác nhau trong cả  nước.  <br /> Bên cạnh đó còn có một số dự án giúp Việt Nam thực hiện cải cách hành chính nâng <br /> cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước<br /> <br /> 1.2.1.4 ODA giúp các nước đang phát triển xây dựng và hoàn thiện khung thể  chế  <br /> pháp lý<br /> <br />   ODA có vai trò quan trọng hỗ  trợ  các nước đang phát triển  xây dựng và hoàn <br /> thiện khung thể  chế, pháp lý (xây dựng và hoàn thiện các Luật, các văn bản dưới <br /> Luật) thông qua việc cung cấp chuyên gia quốc tế, những kinh nghiệm và tập quán  <br /> tốt của quốc tế  và khu vực trong lĩnh vực pháp luật đặc biệt trong bối cảnh   các <br /> nước đang phát triển chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. <br /> <br /> 1.2.1.5 ODA góp phần tăng khả  năng thu hút FDI và tạo điều kiện để  mở  rộng đầu  <br /> tư phát triển.<br /> <br /> Việc sử dụng vốn ODA để đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng sẽ tạo điều kiện cho  <br /> các nhà đầu tư  trong nước tập trung đầu tư  vào các công trình sản xuất kinh doanh <br /> có khả năng mang lại lợi nhuận.  <br /> <br /> ODA ngoài việc bản thân nó là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho các nước  <br /> đang và chậm phát triển, nó còn có tác dụng làm tăng khả năng thu hút vốn từ nguồn <br /> FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước, góp phần thực hiện  <br /> thành công chiến lược hướng ngoại. Tất cả  các nước theo đuổi chiến lược hướng  <br /> ngoại đều có nhịp độ tăng trưởng kinh tế rất nhanh và biến đổi cơ cấu kinh tế trong <br /> nước mạnh mẽ  trong một thời gian ngắn để  chuyển từ  nước Nông ­ Công nghiệp <br /> thành những nước Công ­ Nông nghiệp hiện đại, có mức thu nhập bình quân đầu <br /> người cao.<br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 4<br /> Như vậy, đầu tư  của chính phủ  vào việc nâng cấp, cải thiện và xây mới các cơ <br /> sở hạ  tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng đều hết sức cần thiết nhằm làm cho môi <br /> trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn. Nhưng vốn đầu tư  cho việc xây dựng cơ sở hạ <br /> tầng là rất lớn và nếu chỉ  dựa vào vốn đầu tư  trong nước thì không thể  tiến hành  <br /> được do đó ODA sẽ  là nguồn vốn bổ  sung hết sức quan trọng cho ngân sách nhà <br /> nước. Một khi môi trường đầu tư được cải thiện sẽ làm tăng sức hút dòng vốn FDI. <br /> Mặt khác, việc sử  dụng vốn ODA để  đầu tư  cải thiện cơ  sở  hạ  tầng sẽ  tạo điều <br /> kiện cho các nhà đầu tư  trong nước tập trung đầu tư  vào các công trình sản xuất  <br /> kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận.<br /> <br /> 1.2.2 Những mặt hạn chế<br /> <br /> Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên, ODA cũng có không ít những mặt hạn  <br /> chế. Hạn chế rõ nhất của viện trợ phát triển chính thức ODA là các nước nếu muốn  <br /> nhận được nguồn vốn này phải đáp  ứng các yêu cầu của bên cấp viện trợ. Mức độ <br /> đáp ứng càng cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều. Các yêu cầu này đều gắn với những <br /> lợi ích và chiến lược như  mở  rộng thị  trường, mở  rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm <br /> bảo mục tiêu về an ninh ­ quốc phòng hoặc theo  đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, họ <br /> đều có chính sách riêng hướng vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế <br /> (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi cùng với tình hình phát triển kinh tế ­ chính trị ­ <br /> xã hội trong nước, khu vực và trên thế giới). Ví dụ:<br /> <br /> ­ Nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế  quan bảo hộ các  <br /> ngành công nghiệp non trẻ  và bảng thuế  xuất nhập khẩu hàng hoá của nước tài trợ.  <br /> Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị  trường bảo hộ cho  <br /> những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối với các  <br /> nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn chế,  <br /> có khả năng sinh lời cao <br /> <br /> ­ Nguồn vốn ODA từ  các nước giàu cung cấp cho các nước nghèo cũng thường <br /> gắn với việc mua các sản phẩm từ  các nước này mà không hoàn toàn phù hợp, thậm  <br /> chí là không cần thiết đối với các nước nghèo. Ví như  các dự  án ODA trong lĩnh vực  <br /> đào tạo, lập dự án và tư vấn kỹ thuật, phần trả cho các chuyên gia nước ngoài thường <br /> chiếm đến hơn 90% (bên nước tài trợ ODA thường yêu cầu trả lương cho các chuyên <br /> gia, cố vấn dự án của họ quá cao so với chi phí thực tế cần thuê chuyên gia như  vậy  <br /> trên thị trường lao động thế giới). <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 5<br /> ­ Nguồn vốn viện trợ ODA còn được gắn với các điều khoản mậu dịch đặc biệt  <br /> nhập khẩu tối đa các sản phẩm của họ. Cụ  thể  là nước cấp ODA buộc nước tiếp  <br /> nhận ODA phải chấp nhận một khoản ODA là hàng hoá, dịch vụ do họ sản xuất.<br /> <br /> ­ Nước tiếp nhận ODA tuy có toàn quyền quản lý sử  dụng ODA nhưng thông <br /> thường, các danh mục dự án ODA cũng phải có sự thoả thuận, đồng ý của nước viện <br /> trợ, dù không trực tiếp điều hành dự án nhưng họ có thể tham gia gián tiếp dưới hình  <br /> thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. <br /> <br /> Ngòai ra, ngay  ở  trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố <br /> trọng điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế xã hội của quốc gia đó, <br /> làm cho hố  ngăn cách giàu nghèo giữa thành thị  và nông thôn càng trở  nên cách biệt. <br /> Bên cạnh đó, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và <br /> sử  dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ  quản lý thấp, thiếu kinh <br /> nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như  xử  lý, điều hành dự  án… khiến cho hiệu  <br /> quả  và chất lượng các công trình đầu tư  bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể  đẩy <br /> nước tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 6<br /> CHƯƠNG II<br /> <br /> THỰC TRẠNG VỀ NGUỒN VỐN ODA<br /> <br /> 2.1 Hành lang pháp lý<br /> <br /> Nhận thức được rằng ODA là một nguồn lực có ý nghĩa quan trọng từ  bên ngoài,  <br /> chính phủ  Việt Nam luôn luôn coi trọng và quan tâm đến việc huy động các nguồn  <br /> vốn ODA. Trước hết, để duy trì lòng tin đối với các nhà tài trợ nhằm duy trì các nguồn <br /> cung cấp ODA, chính phủ  Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện khung pháp lý cho <br /> việc khai thác và sử dụng nguồn vốn ODA thông qua việc ban hành các chính sách và <br /> các văn bản pháp lý điều tiết các hoạt động liên quan đến ODA, cụ thể:<br /> <br /> Từ năm 1993 đến nay, tùy theo yêu cầu của thực tế mà Chính phủ từng bước hoàn <br /> thiện môi trường pháp lý thông qua các Nghị định nhằm điều chỉnh công tác quản lý và <br /> sử dụng nguồn vốn ODA một cách hiệu quả, cụ thể :<br /> <br /> Năm 1993 Chính phủ ban hành nghị định số 58/NĐ­CP  về quản lý và trả  nợ nước <br /> ngoài.<br /> Năm 1994 nghị  định số  20/NĐ­CP quản lý nguồn vốn về  hỗ  trợ  phát triển chính <br /> thức.<br /> Năm 1997 – 1999, dựa trên thực tiễn và yêu cầu đổi mới, Chính phủ  ban hành nghị <br /> định 87/1997/NĐ­CP   thay thế  nghị  định 20/NĐ­CP   và nghị  định 90/1998/NĐ­CP  <br /> thay thế nghị định 58/NĐ­CP.<br /> Năm 2001, nghị  định 17/2001/NĐ­CP  được ban hành thay thế  nghị  định 87/NĐ­CP <br /> nhằm hoàn thiện hơn nửa về quy chế vay và trả nợ nước ngoài.<br /> Nghị định 131/2006/NĐ­CP ban hành ngày 9/11/2006, về việc “Quản lý và sử dụng <br /> nguồn hỗ trợ phát triển chính thức” và thay thế Nghị định 17/2001/NĐ­CP về quản  <br /> lý và sử dụng ODA. <br /> <br /> Ngoài ra, các Bộ hoặc liên Bộ tùy theo chức năng của mình, ban hành những thông <br /> tư hướng dẫn cụ thể. Hơn thế nữa, để thu hút nguồn nhân lực cao cấp thực hiện các <br /> chương trình, dự  án ODA, mới đây thủ  tướng đã ký ban hành “Quy chế  Chuyên gia  <br /> nước ngoài thực hiện các chương trình, dự án ODA”  trong đó có nhiều chính sách ưu <br /> đãi hấp dẫn nhằm thu hút các chuyên gia tham gia công tác tại Việt Nam.<br /> <br /> Hiện nay, việc quản lý và sử  dụng nguồn hỗ  trợ  phát triển chính thức được quy <br /> định bởi nghị định 131/2006/NĐ­CP có những điểm đáng chú ý có thể liệt kê như:<br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 7<br /> Thứ nhất, tính đồng bộ của Nghị định về quản lý và sử dụng ODA với các văn bản <br /> pháp luật chi phối khác trong các lĩnh vực như  đầu tư, xây dựng công trình, thuế, <br /> đền bù, giải phóng mặt bằng, ký kết và tham gia các điều ước quốc tế khung và cụ <br /> thể  về  ODA. Sự  hài hòa với các quy định của nhà tài trợ  cũng được thể  hiện rõ <br /> trong Nghị định này, đặc biệt là khâu theo dõi và đánh giá các chương trình và dự án <br /> ODA. <br /> Thứ  hai, Nghị  định đã thể  hiện sự  phân cấp trong quản lý và sử  dụng vốn ODA  <br /> tương tự  như  đối với đầu tư  công. Theo Nghị  định, Thủ  tướng Chính phủ  chỉ  phê  <br /> duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ; các chương trình, dự án ODA quan trọng quốc gia;  <br /> các chương trình, dự  án kèm theo khung chính sách và trong lĩnh vực an ninh, quốc <br /> phòng. Việc quyết định đầu tư  và phê duyệt các chương trình và dự  án ODA khác <br /> đều phân cấp cho Thủ  trưởng các cơ  quan chủ  quản. Sự  phân cấp mạnh mẽ  này  <br /> một mặt tạo ra sự chủ động và nâng cao vai trò làm chủ, trách nhiệm của các ngành, <br /> các cấp, song mặt khác cũng đặt ra thách thức về năng lực quản lý và tổ chức thực  <br /> hiện đối với các bộ, ngành và địa phương. <br /> Thứ ba, công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng ODA thông qua việc Bộ Kế <br /> hoạch và Đầu tư  và các nhà tài trợ  công bố  rộng rãi thông tin về  nguồn ODA, các <br /> chính sách và điều kiện tài trợ  để  các đơn vị  đề  xuất có điều kiện để  chuẩn bị  và  <br /> đề xuất các chương trình, dự án ODA. <br /> Thứ  tư, công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự  án ODA được quy định <br /> cụ thể và toàn diện, tiệm cận với tập quán quốc tế. <br /> <br /> Nghị  định 131/2006/NĐ­CP nhằm đồng bộ  với các văn bản pháp quy khác có liên <br /> quan   như   Nghị   định   12/2000/NĐ­CP   về   quản   lý   đầu   tư   và   xây   dựng,   Nghị   định  <br /> 111/2006/NĐ­CP của Chính phủ về đấu thầu và xét thầu v.v...<br /> <br /> Nước ta có 4 cấp tham gia vào quá trình quản lý thu hút và sử dụng vốn ODA, bao  <br /> gồm:<br /> <br /> Thủ tướng Chính phủ.<br /> Các bộ  tổng hợp, gồm: Bộ  Kế  hoạch và Đầu tư, Bộ  Tài chính, Bộ  Ngoại  <br /> giao, Ngân hàng Nhà nước và Văn phòng Chính phủ; trong đó, Bộ Kế hoạch  <br /> và Đầu tư là cơ quan đầu mối.<br /> Các Bộ, UBND các địa phương.<br /> Các chủ dự án, Ban quản lý dự án. <br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 8<br /> NHÀ TÀI <br /> TRỢ<br /> CHÍNH <br /> PHỦ<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> B Ộ K Ế  B Ộ TÀI  VĂN <br /> NGÂN <br /> HO Ạ CH  CHÍNH PHÒNG <br /> HÀNG<br /> & Đ Ầ U T Ư CHÍNH  <br /> NNVN<br /> PHỦ<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Ủ y BAN NHÂN <br /> CÁC B Ộ BAN <br /> T Ỉ NH<br /> NGÀNH<br /> TP TR ỰC THU ỘC<br /> TRUNG ƯƠNG<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> BAN QU Ả N LÝ <br /> D Ự ÁN  DỰ ÁN TRIỂN<br /> C Ấ P  T Ỉ NH,TP KHAI Ở<br /> ĐỊA PHƯƠNG<br /> BAN QUẢN<br /> LÝ DỰ ÁN<br /> <br /> NHÀ <br /> TÀI TRỢ DỰ ÁN TRIỂN<br /> KHAI<br /> TẠI CẤP BỘ<br /> NHÀ <br /> TÀI TRỢ<br /> <br /> <br /> <br />                               Quản lý trực tiếp<br /> <br />                              Quản lý trực tiếp                               <br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 2.2 Tình hình huy động và giải ngân nguồn vốn ODA<br /> <br /> Kể từ khi các nhà tài trợ quốc tế nối lại viện trợ phát triển cho Việt Nam vào tháng <br /> 11/1993, Việt Nam đã tiếp nhận nguồn vốn ODA với tổng giá trị vốn cam kết của các <br /> nhà tài trợ đạt hơn 48,4 tỷ USD; tổng vốn ODA giải ngân trong thời kỳ này đạt 22,12  <br /> tỷ USD ( tính đến năm 2008 ).<br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 9<br />  Gần đây nhất, từ  năm 2001 ­ 2008, số  vốn ODA cam kết đạt 29,77 tỷ  USD; số <br /> vốn đã ký kết đạt hơn 22 tỷ  USD; giải ngân theo kế  hoạch đạt 15,51 tỷ  USD;  thực  <br /> hiện đạt 14,33 tỷ  USD. Với nguồn vốn này, số  tiền giải ngân hàng năm đều tăng  <br /> nhưng tỷ lệ giải ngân/cam kết thì còn khiêm tốn ở mức dưới 50 %. <br /> <br /> Riêng năm 2009, trong tổng số vốn ODA cam kết là 5,914 tỷ USD, kế hoạch giải  <br /> ngân vốn ODA năm 2009 là 1,9 tỷ USD. Nhưng 10 tháng đầu năm, chúng ta giải ngân  <br /> ước đạt 1,86 tỷ USD. Theo tính toán của Vụ Kinh tế đối ngoại (Bộ KHĐT), mức giải <br /> ngân vốn ODA cả năm 2009 sẽ  đạt khoảng 3 tỷ  USD, cao nhất kể từ khi Việt Nam  <br /> tiếp nhận viện trợ ODA.<br /> <br /> CƠ CẤU VỐN ODA KÝ K ẾT THEO NGÀNH VÀ LĨNH VỰC<br /> <br /> (Từ đầu năm đến ngày 31/10/2009)<br /> <br /> ODA KÝ <br /> CƠ CẤU <br /> NGÀNH, LĨNH VỰC KẾT (TRIỆU <br /> (%)<br /> USD)<br /> Nông nghiệp, thuỷ lợi, lâm nghiệp, thủy sản kết hợp với <br /> 748,86 19,44<br /> nông nghiệp và nông thôn xóa đói giảm nghèo<br /> <br /> Giao thông vận tải 744,14 19,31<br /> <br /> Cấp thoát nước và phát triển đô thị 618,53 16,05<br /> <br /> Năng lượng 555,30 14,41<br /> <br /> Y tế giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ 1186,35 30,79<br /> TỔNG 3853,18 100<br /> <br />                                                                                            Ngu ồn: B ộ k ế ho ạch và đầu tư.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 10<br /> Bảng thống kê tình hình cam kết và giải ngân ODA<br /> <br /> ( từ 2000 ­> 2009, 2009 dự kiến )<br /> <br /> Năm Cam kết  Giải ngân  Tỉ lệ Giải ngân<br /> <br /> ( Triệu USD ) ( Triệu USD ) ( % )<br /> 2000 2,400 1,650 68.75%<br /> 2001 2,399 1,500 62.53%<br /> 2002 2,462 1,530 62.14%<br /> 2003 2,838 1,420 50.04%<br /> 2004 3,440 1,650 47.97%<br /> 2005 3,748 1,780 47.49%<br /> 2006 4,445 1,790 40.27%<br /> 2007 5,250 2,000 38.10%<br /> 2008 5,500 2,136 38.84%<br /> 2009 5,914 3,000 50.73%<br /> Tổng 38,396 18,456 48.07%<br /> <br /> Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.<br /> <br /> <br /> <br /> Số  liệu trên đây cho thấy mức độ  giải ngân nguồn vốn ODA trong các năm gần <br /> đây đã được cải thiện đáng kể, nhưng tính ra thì vẫn còn chậm. Cũng đã có những nỗ <br /> lực trong việc sử  dụng nguồn vốn vay  ưu đãi và dài hạn này, thể  hiện  ở  tỷ  lệ  giải  <br /> ngân đã được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên vẫn còn 1 số rào cản cần phải khắc phục  <br /> để tăng số vốn giải ngân trong những năm tiếp theo.<br /> <br /> Việc giải ngân tốt không chỉ  góp phần thực hiện phát triển kinh tế  mà còn có ý <br /> nghĩa là một thông điệp quan trọng đối với các nhà tài trợ về năng lực quản lý và thực  <br /> hiện vốn ODA của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để  vận động và thu hút nguồn <br /> vốn này.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 11<br /> Mới đây, vào ngày 04/12/2009 tại Hội nghị thường niên Nhóm tư  vấn các nhà tài  <br /> trợ cho Việt Nam (CG), tổng số vốn ODA cam kết dành cho Việt Nam trong năm 2010 <br /> đến từ 9 quốc gia tài trợ trực tiếp, 15 quốc gia thuộc Cộng đồng chung Châu Âu (EU),  <br /> và 5 tổ chức phát triển đạt con số kỷ lục, trên 8,06 tỷ USD.<br /> <br /> 2.3 Thành tựu từ nguồn tài trợ vốn ODA<br /> <br /> Trong  vòng  17  năm  trở  lại  đây,  nguồn  vốn  ODA  đã  đóng  một vai  trò  hết  sức <br /> quan  trọng  trọng  chiến  lược  phát  triển  kinh  tế;  thúc  đẩy  phát triển  nông  nghiệp <br /> nông  thôn  xóa  đói  giảm  nghèo;  và  đóng  góp  trong  một  số lĩnh vực xã hội của Việt <br /> Nam.<br /> <br /> 2.3.1 Đóng góp cho phát triển kinh tế:<br /> <br /> ODA góp phần rất lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở <br /> nước ta. Ở Việt Nam, mô hình kinh tế công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã tạo <br /> cho  nước  ta  cơ  hội  phát  triển  nhanh  chóng.  Tuy  nhiên,  quá  trình  này  ban  đầu gặp <br /> không ít khó khăn do sự yếu kém về cơ sở hạ tầng kinh tế, trong khi Việt Nam còn <br /> là  một đất nước  nghèo,  nhu cầu về xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ cho công <br /> nghiệp  hóa,  hiện  đại  hóa  đối  lập  với  khả  năng  đáp  ứng  nội  tại  của  nền  kinh  tế. <br /> Nguồn vốn ODA  tập  trung  chủ  yếu vào các lĩnh vực: Giao thông vận tải, bưu chính <br /> viễn  thông,  năng  lượng  và công  nghiệp  –  những  lĩnh  vực  đòi  hỏi  vốn  và  kỹ  thuật <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 12<br /> hết sức tiên tiến, nhưng ngân sách Việt Nam còn hạn chế; khu vực tư nhân trong và <br /> ngoài nước trong thời gian đầu phát triển hầu như không mặn mà bởi vốn cao mà thời <br /> gian thu hồi vốn thì  chậm,  chưa  kể  đây  là  những  lĩnh  vực  nhạy  cảm,  ảnh  hưởng <br /> đến  an  ninh quốc phòng nên gặp phải rào cản rất lớn từ phía Nhà Nước. Những dự <br /> án lớn, những công trình trong lĩnh vực giao thông và điện đã hoàn thành và đưa vào <br /> sử  dụng  góp  phần  tạo  điều  kiện  cho  Việt  Nam  mở  rộng  tái  sản  xuất,  tạo  môi <br /> trường  thuận  lợi  thu  hút  nguồn  vốn  trong  nước  và  vốn  đầu  tư  trực  tiếp  từ  nước <br /> ngoài  vào  Việt  Nam  để  thúc  đẩy  tăng  trưởng  kinh  tế  Việt  Nam.  Đó  cũng  là động <br /> lực mạnh mẽ cho sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam trong những năm gần đây.<br /> <br /> Nhờ  sự  hỗ  trợ  này, thời gian qua, hệ  thống đường bộ   ở  miền Bắc đã được cải <br /> thiện đáng kể  như  quốc lộ  1, 5, 10, 18; nhiều cảng biển lớn đã và đang được hoàn <br /> thiện như  Hải Phòng, Cái Lân, Tiên Sa (Đà Nẵng); nhiều công trình có ý nghĩa quan  <br /> trọng được xây dựng như đại lộ Đông­Tây (TP. Hồ Chí Minh), cầu Bãi Cháy (Quảng <br /> Ninh), Cầu Thuận Kiều (Hải Phòng), cầu Thanh Trì (Hà Nội), đường hầm xuyên đèo  <br /> Hải Vân; các bệnh viện lớn được khôi phục và nâng cấp như  Bệnh viện Chợ  Rẫy  <br /> (TP. Hồ Chí Minh), Bệnh viện Bạch Mai; các nhà máy thuỷ điện và nhiệt điện quy mô  <br /> lớn như Phả Lại 2, Phú Mỹ 1, Hàm Thuận­Đa Mi, Đa Nhim, Đại Ninh,  thuỷ điện Đại  <br /> Thi ở Tuyên Quang(360 triệu ), nhà máy nhiệt điện Cẩm Phả(272 triệu), nhà máy thuỷ <br /> điện thượng Kon tum(100triệu USD).<br /> <br /> Bên cạnh việc cung  ứng về vốn, các dự án ODA còn mang lại công nghệ, kỹ <br /> thuật hiện đại, nghiệp vụ chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến. Các chương <br /> trình  hợp  tác  kỹ  thuật  do  các chính phủ  các nước tài trợ  thực  hiện tiến hành  ở  Việt <br /> Nam với rất nhiều hình thức đa dạng đã góp phần chuyển giao, cải tiến trình độ công <br /> nghệ  cũng  như  tiếp  thu  công  nghệ  ở  nước  ta.  Các  dự  án hợp  tác  kỹ  thuật  đã  góp <br /> phần  chuyển  giao  công  nghệ  cho  các  kỹ  sư,  kỹ  thuật viên,  nhân  viên  y  tế…  của <br /> nước ta bằng cách cho họ tham gia vào các dự án phát triển thuộc nhiều lĩnh vực cụ <br /> thể như nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá, y tế,  nghiên  cứu  về  dân  số  và  kế  hoạch <br /> hóa gia đình, dạy nghề và các hoạt động nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực đó… <br /> Ngoài  ra,  các  khảo  sát  về  phát  triển  được  tiến  hành  nhằm  kiểm  tra  lại  khả  năng <br /> thành  công  của  các  dự  án  từ  khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, tài chính – cũng góp phần <br /> vào việc cải tiến trình độ công nghệ  của  nước  ta.  Nhìn  chung,  các  dự  án  ODA  vào <br /> Việt  Nam đều có trình độ công nghệ cao.<br /> <br /> Lĩnh vực khoa học ­ công nghệ  ­ môi trường trong đó tiêu biểu nhất là khu công <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 13<br /> nghệ  cao Hoà Lạc( 480 triệu USD). Trong Bưu chính viễn thông có dự   án cáp quang <br /> biển trục Bắc Nam( 200 triệu USD).<br /> <br /> <br /> <br /> 2.3.2 Đóng góp đối với việc thúc đẩy nông nghiệp nông thôn và kết hợp với công tác  <br /> xóa đói giảm nghèo<br /> <br /> Thông qua các dự  án lớn trong lĩnh vực này, ODA giúp cho nông dân nghèo tiếp <br /> cận với các nguồn vốn để  tạo ra các ngành nghề  phụ, phát triển nông – lâm – ngư <br /> nghiệp, phát triển hạ  tầng nông thôn như: giao thông, điện, nước sạch... Qua đó, đã <br /> góp phần hỗ  trợ  phát triển nông nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời sống <br /> người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc  <br /> tiếp cận tới các dịch vụ  công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục. Số  liệu điểu tra mức  <br /> sống của người dân trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% vào năm  <br /> 1993 xuống còn 37% vào năm 1998, 18,1% vào năm 2004 và 14,8% năm 2007. Kết quả <br /> này cho thấy Việt Nam đã vượt được mục tiêu phát triển thiên niên kỉ (MDGs) đã cam  <br /> kết với thế giới. Việt Nam được coi là một trong những nước thành công nhất trong  <br /> việc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo. Và để  đạt được điều đó thì không thể <br /> không kể đến những đóng góp to lớn của các nước tài trợ.<br /> <br /> Các dự án tài trợ lớn thuộc lĩnh vực phát triển nông nghiệp và nông thôn:<br /> <br /> Dự Án Quy mô<br /> Chương trình di dân và kinh tế mới 300 triệu USD<br /> Phát triển dâu tằm tơ  120 triệu USD<br /> Thuỷ lợi Cửa Đạt ở Thanh Hoá 200 triệu USD<br /> Thuỷ lợi Tả Trạch ở Thừa Thiên Huế 170 triệu USD<br /> <br /> Nguồn: Bộ kế hoạch và đầu tư.<br /> <br /> 2.3.3 Đóng góp đối với một số lĩnh vực xã hội<br /> <br /> Nhờ  lượng  vốn  lớn  và  hợp  tác  kỹ  thuật  đa  dạng,  ODA  đã  góp phần vào sự phát <br /> triển  của  ngành  giáo  dục  đào  tạo  Việt  Nam  từ  cấp  trung  ương đến  địa  phương,  từ <br /> giáo  dục  tiểu  học  đến  đào  tạo  sau  đại  học.  Nguồn  vốn  này đã giúp chúng ta, trước <br /> hết  là  khắc  phục  được  những  khó  khăn  về  cơ  sở  hạ  tầng  giáo  dục,  đồng  thời  tạo <br /> điều kiện cho ngành giáo dục Việt Nam theo kịp và hòa nhập vào nền giáo dục của <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 14<br /> khu  vực  và  thế  giới.  Ngành  giáo  dục  và  đào  tạo  của chúng  ta  đã  đưa  ra  được  định <br /> hướng  đào  tạo,  nghiên  cứu  khoa  học  và  ứng  dụng  công  nghệ  tiên  tiến  vào  một  số <br /> lĩnh vực chủ chốt như: khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế, nông <br /> lâm nghiệp, điện tử viễn thông, tự động hóa,  dược,  môi  trường…<br /> <br /> Bên  cạnh  đó,  một  lượng  lớn  nguồn  vốn  ODA  được đầu  tư  vào  lĩnh  vực  y  tế, <br /> chăm  sóc  sức  khỏe  cộng  đồng,  đặc  biệt  là  các  vùng sâu  vùng  xa  đã  góp  phần  trang <br /> bị  lại  cơ  sở  vật  chất  cho  rất  nhiều  bệnh  viện  tuyến  từ  trung  ương  đến  địa <br /> phương,  giải  quyết  những  khó  khăn  trong  việc chăm  sóc,  chữa  trị,  đặc  biệt  là  các <br /> bệnh  xã  hội  và  nâng  cao  sức  khỏe  cộng đồng,  dân  số  kế  hoạch  hóa  gia  đình. <br /> <br /> C h í n h   phủ  Nhật đã thực hiện nhiều dự  án viện trợ  xây hàng chục trường học,  <br /> nâng cấp thiết bị y tế cho các bệnh viện vùng sâu, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đào tạo  <br /> nghề  với tổng vốn 213 triệu Yên. Hàng năm thông qua nguồn ODA từ  nhiều quỹ tài  <br /> chính khác nhau, Nhật Bản đã cung cấp một số lượng học bổng đáng kể đào tạo đại <br /> học và sau đại học cho các sinh viên và cán bộ Việt Nam. Năm 2007, Chính phủ Nhật <br /> cũng đã viện trợ  3 dự  án, trong đó có 1 dự  án cung cấp máy in chữ  nổi cho người  <br /> mù,... <br /> <br /> Ngoài ra, việc hỗ trợ Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng cường cải cách cơ  <br /> cấu hành chính, pháp luật khiến cho môi trường đầu tư  của Việt Nam ngày càng trở  <br /> nên hấp dẫn.<br /> <br /> 2.4 Hạn chế trong việc quản lý và sử dụng vốn ODA<br /> <br /> 2.4.1 Công tác quản lý nhà nước còn nhiều hạn chế <br /> <br /> Quản lý nhà nước là nguyên nhân bao trùm của những hạn chế trong việc thu hút <br /> và sử dụng ODA. Bất cập trong công tác quản lý nhà nước thể hiện ở việc phân cấp, <br /> phân định chức năng , nhiệm vụ  của các cơ  quan quản lý nhà nước; hệ  thống chính  <br /> sách và những văn bản pháp luật liên quan đến vốn ODA ...<br /> <br /> Công tác quản lý nhà nước về vốn ODA về cơ bản đã tập trung vào một đầu mối, <br /> ở Trung ương là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ở các Bộ là các Vụ Kế hoạch đầu tư  hoặc  <br /> Vụ Hợp tác quốc tế, ở các tỉnh là các Sở Kế hoạch và  Đầu tư. <br /> <br /> Tuy nhiên, việc phân định chức năng của các cơ quan quản lý ODA còn mang tính  <br /> dàn trải, có những nơi chưa tập trung vào một đầu mối. Một số  địa phương vẫn còn  <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 15<br /> duy trì hai đầu mối là Sở  Kế  hoạch và Đầu tư  và Phòng Ngoại vụ  thuộc Văn phòng  <br /> Uỷ ban nhân dân tỉnh. Hoặc việc ký kết các Hiệp định vay được giao cho hai cơ quan  <br /> quản lý là Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, nhưng sau đó toàn bộ  việc quản lý  <br /> Hiệp định lại do Bộ Tài chính quản lý.<br /> <br /> Một tồn tại khá phổ biến khác là trong một bộ (một địa phương) thì chủ  đầu tư  là <br /> một cơ  quan thuộc bộ  (địa phương), đồng thời PMU, nhà thầu cũng là của bộ  (địa <br /> phương) đó. Vì vậy, khi có vấn đề gì trong thực hiện triển khai xảy ra, thì các đơn vị <br /> này thông đồng, dàn xếp với nhau. <br /> <br /> Sự  phối kết hợp giữa các bên liên quan của Việt Nam mà chủ  yếu giữa Bộ  chủ <br /> quản, PMU, chủ  đầu tư    với chính quyền các địa phương, cơ  quan chức năng còn <br /> thiếu chặt chẽ, đặc biệt trong công tác giải phóng mặt bằng. Ví dụ, dự  án cải tạo  <br /> quốc lộ  1 do vốn ODA của WB và ADB tài trợ  liên quan đến hầu hết các tỉnh thành  <br /> phố trên trục quốc lộ 1. Do sự phối hợp không tốt giữa các địa phương nên thống nhất <br /> quan điểm đền bù giải phóng mặt bằng rất khó khăn và mất nhiều thời gian. Địa <br /> phương giải phóng mặt bằng nhanh phải chờ địa phương làm chậm, gây chậm trễ cho  <br /> tiến độ dự án.<br /> <br /> 2.4.2 Công tác giám sát, theo dõi và đánh giá các dự án ODA còn yếu<br /> <br /> Hiện nay, công tác giám sát và theo dõi dự án được triển khai ở mọi cấp từ Trung  <br /> ương, các bộ, địa phương chủ  quản cho đến các Ban quản lý dự  án. Ngoài ra còn <br /> được thực hiện bởi chính các nhà tài trợ hoặc phối hợp thực hiện giữa các nhà tài trợ <br /> với các cơ quan liên quan của phía Việt Nam. Theo quy định hiện hành, các Ban quản  <br /> lý dự  án phải lập báo cáo tiến độ  triển khai thực hiện dự  án theo tháng, quý, năm và <br /> báo cáo kết thúc dự án cho các cơ quan cấp trên. Báo cáo này bao gồm các thông tin về <br /> các công việc đã được triển khai thực hiện hoặc hoàn thành, các khoản viện trợ  đã  <br /> được giải ngân... Các Bộ, địa phương chủ quản có trách nhiệm thực hiện các báo cáo  <br /> quý về  tiến độ  triển  khai các dự  án ODA thuộc phạm vi quản lý của Bộ  và địa  <br /> phương mình. Bộ  Kế  hoạch và Đầu tư, Bộ  Tài chính, Ngân hàng Nhà nước có trách  <br /> nhiệm lập báo cáo nửa năm và hàng năm về  tình hình triển khai thực hiện các dự  án  <br /> ODA.<br /> <br /> Công tác giám sát, theo dõi và đánh giá các dự án ODA trong thời gian qua có một  <br /> số điểm đáng lưu ý như sau:<br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 16<br /> ­ Thứ nhất, công tác theo dõi và đánh giá dự  án bị  buông lỏng.  Thể  hiện chỉ  có <br /> khoảng 15% các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt công tác theo dõi và báo cáo  <br /> đúng thời hạn quy định. Nhiều cơ quan chủ quản ở Trung ương và các tỉnh chưa quản  <br /> lý được các dự án của mình. Kỷ luật báo cáo về tình hình thực hiện các chương trình,  <br /> dự án ODA thực hiện thiếu nghiêm túc. Công tác đánh giá sau khi dự án kết thúc hiện  <br /> chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay chỉ có nhà tài trợ thực hiện việc đánh giá dự <br /> án sau khi kết thúc trong khi các cơ quan liên quan của phía Việt Nam không có đầy đủ <br /> kinh phí thực hiện công tác này. Việc nhà tài trợ thực hiện công tác đánh giá hiệu quả <br /> của dự  án sau khi hoàn thành trong một số trường hợp không phản ánh đúng thực tế <br /> mà thể hiện quan điểm của nhà tài trợ và điều này ảnh hưởng đến việc rút ra các bài <br /> học kinh nghiệm cho công tác thu hút và sử dụng vốn ODA trong tương lai.<br /> <br /> ­ Thứ  hai, các thông tin về tình hình thực hiện dự án thường không được các cấp  <br /> thông báo kịp thời, các thông tin thường không đầy đủ. Điều này gây khó khăn cho các <br /> cơ quan tổng hợp, đặc biệt là Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong việc tổng hợp tình hình  <br /> thực hiện dự án để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Tuy vậy, nhiều chủ dự án khi gặp <br /> khó khăn trong quá trình thực hiện thì lại thường yêu cầu các cơ  quan cấp trên giải  <br /> quyết. Do thiếu các thông tin cập nhật thường xuyên nên việc giải quyết các vướng  <br /> mắc thường mang tính chất sự vụ, không có tính hệ thống, đồng bộ và kịp thời. <br /> <br /> Hệ  thống thông tin theo dõi trực tuyến từ  Trung  ương đến cơ  sở  chưa được xây  <br /> dựng hoàn chỉnh. Mặt khác, hệ thống thông tin kinh tế, xã hội, chính trị  của nền kinh  <br /> tế ngành, địa phương chưa được quản lý thống nhất và có sự chia sẻ thông tin hợp lý  <br /> giữa các cơ quan nhà nước, trong nội bộ các nhà tài trợ  cũng như  giữa nhà tài trợ  với  <br /> các cơ quan liên quan. Chính vì vậy, những thông tin về  vốn ODA có độ  xác thực và <br /> cập nhật chưa cao. Trong khi đó, nguồn vốn ODA ở Việt Nam cần một kênh thông tin  <br /> đa chiều để bên Việt Nam có thể  nâng cao khả năng điều phối tránh tình trạng trùng  <br /> lặp, tăng cường khả năng theo dõi và quản lý...<br /> <br /> Theo tinh thần của Nghị định 131/2006/NĐ­CP, mỗi cơ quan quản lý, thực hiện các  <br /> chương trình dự  án ODA từ  Trung  ương đến địa phương sẽ  phải thành lập đơn vị <br /> chuyên trách về theo dõi và đánh giá dự án. Tuy nhiên công tác này mới chỉ được triển  <br /> khai ở một số cơ quan tổng hợp và quản lý dự án, chưa phát triển thành một hệ thống  <br /> thông tin bao quát được toàn bộ  hoạt động tiếp nhận và sử  dụng vốn ODA  ở  Việt <br /> Nam.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 17<br /> Tóm lại, tuy hệ thống các quy định về  việc giám sát, theo dõi dự  án đã được ban  <br /> hành đầy đủ, nhưng do thiếu các chế tài nên công tác này còn bị coi nhẹ và chưa thực  <br /> sự đáp ứng các nhu cầu đề ra.<br /> <br /> 2.4.3 Năng lực Cán Bộ quản lý và tình trạng thất thoát<br /> <br /> Cơ  cấu tổ  chức và năng lực cán bộ  trong công tác quản lý và thực hiện ODA còn <br /> yếu và chưa đáp  ứng những yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả  ODA. Theo bảng <br /> xếp hạng về cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố tháng 9  <br /> năm 2008, trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam xếp tới thứ  121. Sự  thất  <br /> thoát và tham nhũng ở dự án PMU18, những dự án lớn trong lĩnh vực dầu khí, vụ  hối  <br /> lội PCI vừa qua là những ví dụ về hạn chế trong quản lý và theo dõi ODA. Thách thức <br /> về đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý ODA từ phía Việt Nam đang <br /> là một vấn đề hết sức cấp thiết.<br /> <br /> Vụ hối lộ quan chức Việt Nam của công ty PCI (Pacific Consultants International,  <br /> viết tắt là PCI, Công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương, Nhật Bản) là vụ việc nổi  <br /> đình đám trong năm 2008 tại  Việt  Nam, liên quan đến việc đưa hối lộ  của một số  <br /> quan chức công ty PCI Nhật Bản với Ban Quản lý dự  án PMU tại thành phố  Hồ  Chí  <br /> Minh, cụ  thể  là với ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám đốc Sở  Giao thông Công chính  <br /> Thành phố Hồ Chí Minh kiêm Giám đốc Ban Quản lý PMU Đông­Tây. Năm 2007 là vụ  <br /> PMU 18 với con bạc triệu đô Bùi Tiến Dũng.<br /> <br /> 2.4.4. Chất lượng một số công trình sử dụng vốn ODA chưa bảo đảm<br /> <br /> Phần lớn các chương trình dự  án tập trung vào lĩnh vực xây dựng cơ  bản. Chất <br /> lượng một số  công trình sử  dụng vốn ODA chưa bảo đảm đúng những tiêu chuẩn  <br /> định mức của bản thiết kế đặt ra. Ban vận hành phải bỏ  chi phí đáng kể  ra để  bảo <br /> dưỡng tu sửa. Nguyên nhân là trong quá trình thực hiện xảy ra thất thoát, lãng phí. <br /> Thất thoát trong xây dựng cơ  bản hiện nay của Việt Nam chiếm khoảng 20%­30%  <br /> tổng vốn đầu tư  trong từng dự  án. Chẳng hạn trường hợp PMU đã không tiến hành  <br /> xác minh các khả năng khác của nhà thầu như: khả năng tài chính, kỹ thuật, tiến độ thi  <br /> công nên dẫn đến trường hợp nhiều nhà thầu đã ăn bớt, thay đổi nguyên liệu so với <br /> tiêu chuẩn kỹ thuật của bản thiết kế đề  ra như  công trình quốc lộ  18, nhà thầu thay  <br /> cát vàng bằng cát đen... <br /> <br /> Mặt khác, chất lượng, nội dung thiết kế kỹ  thuật tổng thể và chi tiết không phù  <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 18<br /> hợp với thực tế, không lường hết được biến cố  kỹ  thuật cũng như  sự  thay đổi bất  <br /> thường của môi trường nên phải chỉnh sửa thiết kế  hoặc thiết kế  lại toàn bộ  nội <br /> dung. Ví dụ, dự án đường xuyên á phải thiết kế lại gần như toàn bộ, và chậm so với <br /> thời gian tiến độ  ban đầu là một năm; tiểu dự  án đường Tuy Phong­ Nha Trang với  <br /> hợp đồng R100­R200 thì khối lượng công việc tăng lên 30% (Thay đổi đường từ <br /> 12,5m lên 18,6m và làm thêm 6 đường tránh).<br /> <br /> Một số  dự  án hỗ  trợ  kỹ  thuật viện trợ  không hoàn lại cũng chưa đạt được hiệu <br /> quả như mong muốn vì dự án còn nặng về các yếu tố đầu vào (nhập xe con, đi khảo  <br /> sát ở  nước ngoài...), nhẹ  về các kết quả  đầu ra. Hậu quả  là nhiều dự  án chồng chéo  <br /> nhau về  nội dung, kết quả  dự  án không được khai thác và sử  dụng một cách thích  <br /> đáng...<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 19<br /> CHƯƠNG III<br /> <br /> GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG <br /> <br /> VỐN ODA TẠI VIỆT NAM TRONG TƯƠNG LAI.<br /> <br /> <br /> <br /> 3.1 Định hướng sử dụng trong tương lai <br /> <br /> Tiếp tục thu hút ODA,  chú trọng đến việc nâng cao hiệu quả  quản lý, sử  dụng  <br /> ODA và đảm bảo khả  năng trả nợ. Các lĩnh vực  ưu tiên sử dụng vốn ODA trong thời  <br /> kỳ  này bao gồm: phát triển nông nghiệp, nông thôn; xây dựng cơ  sở hạ  tầng kinh tế <br /> đồng bộ  và hiện đại; xây dựng kết cấu hạ  tầng xã hội; bảo vệ  môi trường và các  <br /> nguồn tài nguyên thiên nhiên; tăng cường năng lực thể  chế  và phát triển nguồn nhân <br /> lực; chuyển giao công nghệ, năng lực nghiên cứu và triển khai.<br /> <br /> Trong những năm tới, nhu cầu về  xây dưng cơ  sở hạ  tầng vẫn rất lớn nhằm đáp <br /> ứng sự  gia tăng của sản xuất công nghiệp. Chính phủ  Việt Nam đặt ra mục tiêu cho <br /> những năm tới là phát triển những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động và giảm  <br /> tỷ  lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Theo sự thay đổi cơ  cấu kinh tế  này, một  <br /> chiến lược mới sử dụng ODA là rất cần thiết. Một mặt, phát triển cơ sở hạ tầng, đặc  <br /> biệt là các ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông và điện, cần được xem là  <br /> những  ưu tiên cao nhất. Mặt khác, ODA cần được phân bổ  cho các khu vực và vùng <br /> ưu tiên, như các vùng nghèo và khó khăn. Sự ưu tiên ODA cho cơ sở hạ tầng và những <br /> vùng  ưu tiên là cần thiết nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế  bền vững và giảm đói <br /> nghèo. <br /> <br /> Việt Nam đang hướng tới nguồn vốn vay thương mại sau năm 2010. Theo kinh <br /> nghiệm quốc tế, một nước đang phát triển được xếp có mức thu nhập trung bình <br /> (GDP bình quân đầu người đạt trên 1,000 USD) sẽ  nhận được ít vốn ODA có điều <br /> kiện ưu đãi cao hơn. Mặt khác, khi Việt Nam trở thành một nước mà nhiều người dân  <br /> có mức thu nhập trung bình, những vấn đề mới sẽ nảy sinh. Thực tế cho thấy, ở một  <br /> số  nước như  Philippines hay Sri Lanka không có sự  cải thiện nào sau khi đạt được  <br /> mức thu nhập trung bình. Do vậy, Việt Nam không nên theo bước chân của những <br /> nước này. Thay vào đó, Việt Nam cần phải xây dựng và đi theo chiến lược riêng của <br /> <br /> <br /> <br /> Đánh giá nguồn vốn hỗ trợ chính thức 20<br /> mình, đặc bi
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2