intTypePromotion=3

Bàn về một số phương pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép trong giảng dạy dịch nói tại khoa tiếng Trung Quốc, Học viện Khoa học Quân sự

Chia sẻ: Kethamoi Kethamoi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:10

0
6
lượt xem
0
download

Bàn về một số phương pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép trong giảng dạy dịch nói tại khoa tiếng Trung Quốc, Học viện Khoa học Quân sự

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Trong hoạt động dịch nói, với một khoảng thời gian hữu hạn, khi lượng thông tin vượt quá khả năng ghi nhớ của não bộ, người phiên dịch phải dựa vào sự hỗ trợ của ghi chép. Kỹ thuật ghi chép trong dịch nói mang đặc thù riêng, rèn luyện kỹ thuật ghi chép góp phần đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả dịch nói. Xác định được tầm quan trọng của ghi chép, trong giảng dạy thực hành dịch nói, việc thiết kế những bài học rèn luyện kỹ thuật ghi chép cho người học, đào tạo ra đội ngũ phiên dịch viên có kỹ thuật dịch nói tốt, đáp ứng yêu cầu thực tế là điều hết sức cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu tổng kết thành quả của người đi trước, kết hợp khảo sát tổng kết kinh nghiệm thực tế, chúng tôi xin tóm tắt những đặc điểm của kỹ thuật ghi chép và một vài phương pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép cho học viên chuyên ngành ngôn ngữ Trung Quốc tại Học viện Khoa học Quân sự, mong rằng bài viết sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động giảng dạy, đào tạo phiên dịch tại Học viện Khoa học Quân sự.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bàn về một số phương pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép trong giảng dạy dịch nói tại khoa tiếng Trung Quốc, Học viện Khoa học Quân sự

  1. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v BÀN VỀ MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN LUYỆN KỸ THUẬT GHI CHÉP TRONG GIẢNG DẠY DỊCH NÓI TẠI KHOA TIẾNG TRUNG QUỐC HỌC VIỆN KHOA HỌC QUÂN SỰ NGUYỄN THỊ THIÊM* * Học viện Khoa học Quân sự,  tianruanshi@yahoo.com.vn Ngày nhận bài: 11/01/2019; ngày sửa chữa: 14/02/2019; ngày duyệt đăng: 15/5/2019 TÓM TẮT Trong hoạt động dịch nói, với một khoảng thời gian hữu hạn, khi lượng thông tin vượt quá khả năng ghi nhớ của não bộ, người phiên dịch phải dựa vào sự hỗ trợ của ghi chép. Kỹ thuật ghi chép trong dịch nói mang đặc thù riêng, rèn luyện kỹ thuật ghi chép góp phần đảm bảo chất lượng, nâng cao hiệu quả dịch nói. Xác định được tầm quan trọng của ghi chép, trong giảng dạy thực hành dịch nói, việc thiết kế những bài học rèn luyện kỹ thuật ghi chép cho người học, đào tạo ra đội ngũ phiên dịch viên có kỹ thuật dịch nói tốt, đáp ứng yêu cầu thực tế là điều hết sức cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu tổng kết thành quả của người đi trước, kết hợp khảo sát tổng kết kinh nghiệm thực tế, chúng tôi xin tóm tắt những đặc điểm của kỹ thuật ghi chép và một vài phương pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép cho học viên chuyên ngành ngôn ngữ Trung Quốc tại Học viện Khoa học Quân sự, mong rằng bài viết sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động giảng dạy, đào tạo phiên dịch tại Học viện Khoa học Quân sự. Từ khóa: dịch nói, phương pháp, ghi chép, ghi nhớ, ký hiệu 1. ĐẶT VẤN ĐỀ tr.107). Trong điều kiện dịch nói, người phiên dịch sử dụng trí nhớ tạm thời vào việc ghi nhớ các con Ghi chép là hoạt động quan trọng, kết hợp chặt số, tên riêng, hoặc ghi nhớ thuật ngữ, từ khóa... chẽ với hoạt động ghi nhớ, lý giải và biểu đạt trong Ngoài ra, người phiên dịch phải kích hoạt trí nhớ thực hành dịch nói. Đây không phải hoạt động ghi dài hạn để phân tích ngữ nghĩa, lý giải nội dung, chép thông thường nhằm mục tiêu lưu giữ thông tìm kiếm từ ngữ cần phiên dịch. Theo đó trí nhớ tin thuần túy. Thực tế cho thấy, khi hoạt động nói ngắn hạn và trí nhớ dài hạn cùng lúc được phát của diễn giả diễn ra trên 1 phút, người phiên dịch huy vào hoạt động phân tích, chuyển đổi ngôn bắt buộc phải tiến hành ghi chép. Theo nghiên cứu ngữ. Nếu hoạt động nói của diễn giả kéo dài hơn 1 của các nhà tâm lý học, trí nhớ ngắn hạn của con phút, cơ bản người phiên dịch phải dựa vào trí nhớ người thường chỉ phát huy tác dụng tốt nhất trong dài hạn, điều này làm tăng áp lực đối với ghi nhớ khoảng thời gian trên dưới 1 phút (桂诗春, 1985, trong dịch nói. Để giảm bớt áp lực cho hoạt động KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 20 (7/2019) 37
  2. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY ghi nhớ, người phiên dịch phải sử dụng hình thức tổ hợp cấu trúc, tìm giải pháp chuyển ngữ... Mong ghi chép, ghi chép lại một cách hợp lý nội dung muốn ghi chép đầy đủ toàn bộ lời diễn giả trình cần dịch. Trong các hoạt động phiên dịch chuyên bày rồi nhìn vào bản ghi để “đọc”, hẳn là điều thực nghiệp, người phiên dịch thường phải tiến hành tế không thể thực hiện được và ngược lại trong ghi chép, việc ghi chép có thể diễn ra ngay từ khi nhiều trường hợp còn ảnh hưởng đến chất lượng diễn giả bắt đầu hoạt động nói. Trên thực tế, hoạt của ngôn ngữ dịch. Với công việc tốc ký chuyên động dịch nói là việc không đơn giản, người phiên nghiệp, mọi sự tập trung chú ý đều dành vào việc dịch khó đoán định diễn giả sẽ nói trong thời gian ghi chép, năng lượng tiêu hao của não bộ không bao lâuvà dừng lại, để họ bắt đầu hoạt động phiên kém gì so với hoạt động thực hành dịch nói. Ngoài dịch. Nhiều trường hợp diễn giả bị cuốn theo mạch ra, tốc ký là hoạt động ghi chép chỉ giới hạn trong nói, họ quên mất bên cạnh mình người phiên dịch một ngôn ngữ, hoàn toàn không liên quan đến hoạt đang chờ cơ hội chuyển ngữ. Vì vậy, trong hoạt động chuyển ngữ. Người phiên dịch dù có ghi động phiên dịch chuyên nghiệp, việc ghi chép luôn chép hết nội dung, họ cũng sẽ không còn nhiều được tiến hành ngay khi diễn giả bắt đầu hoạt động thời gian cho hoạt động phân tích, lý giải, tìm từ, nói. Thực tế chứng minh, đây là giải pháp hợp lý, tái cấu trúc và chuyển ngữ, kết quả sẽ ảnh hưởng trừ khi người phiên dịch đã quá quen thuộc hoặc đến chất lượng phiên dịch. Thêm vào đó, việc giải từng tham gia phiên dịch nội dung tương tự trước mã các ký hiệu ghi chép bằng tốc ký cũng đòi hỏi đó. Mặc dù ghi chép rất quan trọng trong dịch nói, phải hết sức tỉ mỉ, cẩn trọng. Thực tế cho thấy, việc song hoạt động ghi nhớ của não bộ vẫn đóng vai nhận biết được các ký hiệu tốc ký mất nhiều thời trò chủ đạo, ghi chép luôn là hoạt động hỗ trợ, nếu gian hơn so với ký hiệu ghi chép thông thường, quá phụ thuộc vào ghi chép sẽ ảnh hưởng đến tốc ngoài ra các yếu tố bất lợi khác như, ký hiệu tốc độ, chất lượng phiên dịch. ký không thể hiện cách dịch từ khóa, thông tin chủ yếu, ý tưởng nội dung của ngôn ngữ nguồn…, sẽ 2. ĐẶC ĐIỂM CỦA GHI CHÉP TRONG khiến người phiên dịch mất thời gian, tâm trí đọc DỊCH NÓI và giải mã rồi mới chuyển ngữ, thậm chí là ê a lần dịch theo từng ký hiệu. Như vậy, tốc độ phiên dịch 2.1. Phân biệt ghi chép trong dịch nói và tốc của người phiên dịch sẽ chậm lại, họ có thể lúng ký thông thường túng, ấp úng, dẫn đến nhầm lẫn, bỏ sót, biểu đạt kém lưu loát và thiếu lôgic. Những đặc điểm trên Tốc ký là ghi chép tốc độ nhanh, đầy đủ, tường cho thấy kỹ thuật tốc ký không phải là kỹ thuật ghi tận đến từng từ mà diễn giả đã trình bày (鲍刚, chép dành cho người phiên dịch, và cũng không 口译理论概述, 2005, tr.177). Tất cả các ký hiệu, thay thế được kỹ thuật ghi chép của người phiên con chữ trong tốc ký đều được giải mã, tránh tối dịch trong hoạt động dịch nói. Nói cách khác, ghi đa nhầm lẫn, sai sót. Ưu điểm của tốc ký là ghi lại chép trong hoạt động dịch nói là kỹ thuật mang toàn bộ lời nói của diễn giả, nhưng điều này không tính đặc thù riêng của hoạt động dịch nói. hoàn toàn phát huy tác dụng với người phiên dịch trong thực hành dịch nói, ngược lại còn ảnh hưởng 2.2. Ghi chép trong dịch nói mang tính gợi đến tốc độ hiệu quả chuyển ngữ. Vấn đề ở đây ý, hỗ trợ cho trí nhớ nghe có vẻ mâu thuẫn, tìm hiểu đặc điểm của tốc ký, giúp chúng ta có thể hiểu sâu hơn điều này. Tốc Khác với tốc ký thông thường như đã nêu ở ký thông thường thu hút sự chú ý của người phiên phần trên, ghi chép trong dịch nói là hình thức ghi dịch vào các ký hiệu âm thanh ngôn ngữ nguồn, chép mang tính gợi ý, thủ pháp chuyên nghiệp các hình thức biểu đạt, hoặc các hiện tượng ngôn được người phiên dịch thực hiện trong quá trình ngữ khác của ngôn ngữ nguồn. Do đó, người phiên chỉnh lý, sắp xếp tư tưởng nội dung ngôn ngữ dịch có thể bị phân tán sức tập trung vốn phải dành nguồn, tìm kiếm từ ngữ, tái cấu trúc và chuyển đổi cho việc lưu trữ từ khóa, nội dung trọng điểm, tái sang ngôn ngữ đích (王斌华, 2006, tr.305). Đây là KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 38 Số 20 (7/2019)
  3. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v hoạt động song song với hoạt động lý giải và ghi phải một hệ thống ký hiệu chung, và chỉ cá nhân nhớ trong dịch nói và không phải là hình thức ghi người phiên dịch hiểu được. chép thuần túy nhằm lưu trữ thông tin dài hạn. Hay nói cách khác, ghi chép trong dịch nói là hình thức Là hệ thống được sắp đặt trước, người phiên gợi ý, hỗ trợ cho trí nhớ ngắn hạn, hoặc trí nhớ dịch có thể tự tạo trước một hệ thống ký hiệu cố dài hạn được kích hoạt tại thời điểm diễn ra hoạt định cho riêng mình, và vận dụng trong hoạt động thực hành dịch nói. Ví dụ, cùng biểu đạt ý nghĩa động dịch nói của người phiên dịch. Việc ghi chép quá khứ, có phiên dịch viên dùng ký hiệu “↵” để không thể thay thế hoàn toàn chức năng ghi nhớ biểu đạt quá khứ, nhưng với phiên dịch viên khác của người phiên dịch, nhưng lại có tác dụng gợi ý lại có thể dùng ký hiệu “ ×” để biểu đạt quá và có thể ví như những ký hiệu “chỉ đường” (鲍刚, khứ; hay như có phiên dịch viên dùng ký hiệu “∙ /” 2005, tr.180). Nhìn vào nội dung ghi chép, người để biểu thị sự kết thúc, nhưng cũng có phiên dịch phiên dịch có thể nhớ được những thông tin mình viên dùng ký hiệu “┤” để biểu thị kết thúc... và còn cần xử lý, tái cấu trúc và truyền đạt lại bằng ngôn rất nhiều ví dụ khác nữa. ngữ mục tiêu. Điều này có nghĩa, xét từ góc độ hoạt động tư duy, ghi chép trong dịch nói là hoạt Là những ký hiệu có thể thay đổi ý nghĩa biểu động song song với hoạt động lý giải và tái cấu đạt khác nhau. Ý nghĩa của các ký hiệu có thể thay trúc ngôn ngữ. Người phiên dịch vừa ghi chép, vừa đổi tùy theo hoàn cảnh giao tiếp hoặc ngữ cảnh cụ phân tích lý giải, tái cấu trúc nội dung cần dịch. thể. Ví dụ cùng là một ký hiệu “ ” , tùy vào Đây cũng là hoạt động nội tại mang tính chuyên hoàn cảnh có thể biểu đạt sự hướng ra bên ngoài nghiệp của trí nhớ. Sự chuyển đổi chuyên nghiệp hoặc biểu đạt sự mở rộng hay quảng bá mà người diễn ra trong nội tại trí nhớ này là điểm khác biệt phiên dịch đã quy định trong bộ quy tắc viết tắt căn bản giữa ghi chép trong dịch nói và các hình của mình. thức ghi chép khác. Tính chất này phản ánh cơ chế Là hệ thống ký hiệu mang tính giản lược và nội tại hết sức quan trọng của ghi chép trong dịch có ý nghĩa khái quát. Đây là hệ thống ký hiệu đơn nói. Các hình thức bên ngoài khác chỉ là các biểu giản có tính khái quát ý nghĩa nội dung cần chuyển hiện khác nhau trong các hoàn cảnh khác nhau của ngữ, thuận tiện cho việc ghi chép. cơ chế nội tại này. Những đặc điểm này cho thấy, ghi chép trong 2.3. Ghi chép trong dịch nói có giá trị tạm thời dịch nói không giống với các hình thức ghi chép thông thường khác. Không khó để có thể nhận ra, Ghi chép trong dịch nói mang tính tạm thời, hệ thống ký hiệu người phiên dịch sử dụng đa phần diễn ra trong thời gian ngắn. Ngoài đặc điểm là được chuẩn bị từ trước. Tuy nhiên, trong thực tế hình thức ghi chép mang tính gợi ý, ghi chép trong dịch nói, việc xử lý thông tin nhanh, chính xác đòi dịch nói cho thấy rõ đặc điểm ứng dụng nhất thời hỏi một hệ thống ký hiệu tinh giản, khái quát, hữu của nó. Ghi chép là để hỗ trợ trí nhớ ngắn hạn hoặc dụng với từng người phiên dịch. Không thể có một trí nhớ dài hạn được kích hoạt tại thời điểm diễn hệ thống quy tắc, ký hiệu trở thành quy định chung ra hoạt động dịch nói, đồng thời mang đậm phong cho tất cả các phiên dịch, đây chính là đặc điểm cách, thói quen cá nhân người phiên dịch (王斌华, khác biệt giữa ghi chép trong dịch nói và các hình 口译:理论、技巧、实践, 2006, tr.309). Điều thức ghi chép khác. này hoàn toàn có thể nhận thấy qua quan sát các ký hiệu, tầng bậc lôgic, sơ đồ trình bày nội dung 2.4. Ghi chép trong dịch nói mang tính thực dụng cao của các bản ghi chép được khảo sát. Thực tế khảo sát cho thấy, hệ thống ký hiệu ghi chép trong dịch Ghi chép trong dịch nói chú trọng tính thực nói mang những đặc điểm sau: dụng. Một bản ghi gọn gàng, rõ chữ, sẽ là rất tốt với tất cả các hình thức ghi chép. Tuy nhiên, trong Là hệ thống ký hiệu mang tính cá nhân, không KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 20 (7/2019) 39
  4. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY dịch nói, do yêu cầu về thời gian, người phiên dịch tải lớn, khổ giấy lớn sẽ bất tiện cho việc lật trang, không thể nắn nót để có bản ghi thật gọn gàng đẹp hơn thế trong trường hợp phải di chuyển nhiều thì mắt (梅德明, 2011, tr.465). Yêu cầu đặt ra ở đây đây lại là điều bất tiện. Vì vậy, đa phần các phiên là thời gian và độ chính xác, vì vậy người phiên dịch thường dùng sổ ghi chép khổ nhỏ, tiện cho di dịch khó có thể trình bày một bản ghi đẹp mắt với chuyển và mang theo, nhất là phiên dịch ở những những con chữ ngay ngắn. Trên thực tế, yêu cầu nơi như công trường, nhà máy... Có không ít phiên một bản ghi rõ ràng dễ nhận biết là điều hết sức dịch, không qua rèn luyện kỹ thuật bài bản chuyên cần thiết, tránh trường hợp sau khi ghi chép xong, nghiệp, họ dùng sổ ghi chép khổ nhỏ và mở ngang ngay chính tác giả của bản ghi cũng không giải từ phải qua trái, theo thói quen thông thường mà mã được. Người phiên dịch có thể sử dụng các ký không biết điều đó là bất tiện, có thể ảnh hưởng hiệu đặc biệt, các ký hiệu do chính bản thân người đến sức tập trung và lãng phí thời gian chuyển ngữ. phiên dịch quy định từ trước và trình bày theo một Theo khảo sát kinh nghiệm phiên dịch thực tế của quy tắc riêng của mình, miễn sao khi nhìn vào là nhiều người, nếu sử dụng một cuốn sổ ghi chép có thể giải mã, chuyển mã được ngay. Mỗi bản ghi khổ nhỏ, lựa chọn tốt nhất là sử dụng sổ lật dọc đều là hệ thống qui định biểu đạt riêng của từng theo chiều từ dưới lên trên. Nếu người phiên dịch người phiên dịch, các phiên dịch viên khác có thể thuận tay phải, tay trái sẽ là điểm tựa giữ sổ, tay không hiểu được, hoặc rất khó có thể luận đọc, giải phải ghi chép và lật trang, các ngón tay bàn tay trái mã. Bởi lẽ, song song với hoạt động ghi chép là nhịp nhàng phối hợp giữ và kẹp sổ, đảm bảo cho quá trình bắt tin, giải mã, chuyển mã như đã nêu ở việc ghi chép diễn ra thuận lợi. Thông thường, việc phần trên. Hoạt động ghi chép mang tính cá nhân, ghi chép như vậy chỉ thực hiện trên một mặt giấy, vì vậy, quan trọng nó hữu dụng với chính bản thân người phiên dịch có thể để cách trang, sau khi ghi người phiên dịch, chủ nhân của bản ghi chép. hết một chiều mặt giấy có thể đảo lại sổ, ghi chép Bản ghi chép không nhất thiết phải đạt đến yêu tiếp mặt còn lại theo một chiều ngược lại. Thực tế cầu đầy đủ, đẹp mắt, rõ chữ, như vậy sẽ mất nhiều một số thói quen trong công việc không phải lúc thời gian ảnh hưởng tới quá trình chuyển ngữ. nào cũng ảnh hưởng đến kết quả của công việc và mỗi người phiên dịch đều có những thói quen làm 2.5. Ghi chép trong dịch nói là hoạt động có việc của mình. Yếu tố quyết định đến chất lượng qui trình bài bản công việc là ở thái độ, trách nhiệm của người tiếp nhận công việc. Một người phiên dịch nghiêm túc, Mỗi người phiên dịch đều tự tạo cho mình trong điều kiện làm việc thuận lợi, họ hoàn toàn có một hình thức, qui tắc ghi chép riêng. Nhìn chung, thể tác nghiệp theo thói quen yêu thích của mình trong điều kiện cho phép, những phiên dịch có mà vẫn đảm bảo được chất lượng chuyển ngữ. kinh nghiệm thường sử dụng một kẹp giấy cứng, khổ giấy lớn, đặt trực tiếp trên bàn và ghi chép. Khảo sát cho thấy, những phiên dịch có kinh Tuy nhiên, trường hợp tác nghiệp trong điều kiện nghiệm, được rèn luyện kỹ thuật ghi chép bài phải đứng, không có điểm tựa như trên mặt bàn, bản, họ đều có đặc điểm chung là ghi chép không kẹp giấy có thể được tì trên cánh tay tạo thành nhiều, nhưng nội dung đầy đủ bao quát. Đa phần mặt phẳng cứng, thuận tiện cho ghi chép. Dùng các bản ghi chép đều chú ý đến các ký hiệu như khổ giấy lớn để ghi chép sẽ thuận tiện cho việc những mốc “chỉ đường” tới nội dung trọng tâm, tập hợp toàn bộ nội dung diễn giả trình bày trên mạch ý chính. Ghi chép có thể không nhiều, không cùng một mặt giấy, tránh việc sang trang, lật mặt thể hiện đến từng chi tiết diễn giả trình bày, nhưng giấy, sẽ làm mất thời gian hoặc phân tán sức tập nhờ những ký hiệu như những mốc “chỉ đường” trung của người phiên dịch. Song việc sử dụng này, kết hợp với nội dung đã được ghi lại trong não khổ giấy lớn để ghi chép cũng có mặt hạn chế, bộ, người phiên dịch có thể thực hiện chuyển ngữ trường hợp nội dung nhiều, dung lượng chuyển một cách suôn sẻ. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 40 Số 20 (7/2019)
  5. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v 3. LỰA CHỌN NGÔN NGỮ GHI CHÉP dịch không mấy gặp trở ngại với việc nghe bắt thông tin, vì vậy thông tin liên tiếp được thu nạp và Nhiều chuyên gia cho rằng, rèn luyện kỹ thuật người phiên dịch có thể ghi chép liên tục. Sau khi ghi chép trong thực hành dịch nói luôn đứng trước diễn giả dừng trình bày, người phiên dịch có một câu hỏi “ghi chép bằng ngôn ngữ mẹ đẻ hay ghi bản ghi chép tương đối đầy đủ, rõ ràng. Công việc chép bằng ngôn ngữ mục tiêu” hiệu quả sẽ tốt hơn. lúc này của người phiên dịch là ung dung nhìn bản Như trên đã phân tích, hoạt động ghi chép trong ghi chép và tiến hành chuyển ngữ. Nói vậy không thực hành dịch nói được tiến thành đồng thời với các hoạt động: Nghe bắt thông tin, lý giải, phân có nghĩa ghi chép bằng tiếng mẹ đẻ không có mặt tích, tái tổ hợp cấu trúc. Trên thực tế, người phiên hạn chế. Chính vì nghe được hầu hết nội dung dịch có thể ghi chép bằng ngôn ngữ nguồn, cũng thông điệp của diễn giả trình bày, người phiên dịch có thể ghi chép bằng ngôn ngữ đích, đồng thời kết có thể bị cuốn vào ghi chép từ, hoặc ghi chép toàn hợp với hệ thống ký hiệu phổ quát, kể cả những bộ lời nói của diễn giả, làm cho bản ghi trở nên rối cách viết tắt, những từ viết tắt đã trở thành hệ mắt, nặng nề. Trong khi ghi chép trong thực hành thống và được chấp nhận trong một cộng đồng, dịch nói phải chú trọng tóm bắt mạch ý của diễn hoặc trên toàn thế giới. Ngoài ra người phiên dịch giả, phân tích, tìm kiếm giải pháp chuyển ngữ. Với cũng có thể ghi chép bằng ngữ nguồn hoặc ngữ một bản ghi như vậy, người phiên dịch dễ mắc đích kết hợp với hệ thống ký hiệu do chính người phải lỗi dịch từng từ, lần theo từng hàng chữ đã phiên dịch xây dựng riêng cho mình theo những ghi chép để chuyển ngữ, dẫn đến câu dịch không nguyên tắc nhất định (Nguyễn Quốc Hùng, 2007, thoát khỏi cấu trúc tiếng Việt, ê a thiếu lôgic. Vì tr.107). Hệ thống ký hiệu cá nhân do người phiên vậy người phiên dịch cần phải kết hợp giữa ghi dịch tự xây dựng thường hết sức phong phú, nó chép với nghe bắt tin, phân tích, tái tạo cấu trúc, phục vụ riêng cho từng cá nhân người phiên dịch. chuyển ngữ. Ví dụ ghi chép nội dung đoạn băng Tuy nhiên, khi sử dụng hệ thống ký hiệu riêng, đầy diễn giả trình bày sau đây bằng tiếng Việt: sáng tạo này, người phiên dịch cũng phải hết sức thận trọng, tránh tình trạng luận giải sai, hiểu sai “Theo nhận định chung của các nhà khoa học, ý hoặc sau khi ghi chép, chính người phiên dịch Việt Nam được xác định là một trong những nước cũng không luận giải được những ký hiệu mình bị tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Đặc đã ghi chép. Vì vậy, dù là hệ thống ký hiệu do biệt là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi có chính bản thân người phiên dịch sáng tạo, cũng phải được xây dựng theo một qui tắc nhất định, trên 80% diện tích mặt đất có độ cao thấp hơn 2,5m khoa học, có hệ thống, dễ nhận biết, tính ổn định so với mặt nước biển. Kịch bản nước biển dâng mà cao. Tránh những ký hiệu chỉ mang tính bột phát, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố cảnh báo biểu đạt ý nghĩa vào một thời điểm nhất định nào vào năm 2100, mực nước Biển Đông sẽ cao hơn đó, rồi lại quên đi, như vậy sẽ không có tác dụng hiện nay khoảng 1m. Mức nước lũ của đồng bằng hỗ trợ cho quy trình gợi nhớ và lý giải. Chẳng hạn sông Cửu Long sẽ tăng thêm khoảng gần 2m so như những phiên dịch là người Việt Nam khi thực với mức lũ hiện nay, hậu quả của nước biển dâng hành dịch nói từ tiếng Việt sang tiếng Hán, họ có cao không phải chỉ có ngập tĩnh, các vùng ven bờ thể lựa chọn tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt hoặc tiếng và cửa sông bị xâm thực làm cho cơ sở hạ tầng ven nước ngoài là tiếng Hán để ghi chép. Tuy nhiên dù biển bị đe dọa lớn hơn…” là ghi chép bằng tiếng Việt hay tiếng Hán cũng đều có những thuận lợi và khó khăn nhất định. Bảng 1. Sơ đồ ghi chép nội dung đoạn văn 3.1. Ghi chép bằng tiếng Việt trong phiên diễn giả trình bày bằng tiếng Việt dịch Việt-Hán Ghi chép bằng tiếng Việt trong phiên dịch Việt - Hán, với người Việt Nam có thể nói có rất nhiều thuận lợi. Khi nghe diễn giả trình bày, người phiên KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 20 (7/2019) 41
  6. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY 3.2. Ghi chép bằng tiếng Hán trong phiên sau, người phiên dịch có thể kết hợp cả tiếng Việt và dịch Việt-Hán tiếng Hán: Ngược lại với hình thức ghi chép ở phần trên, “中国和越南山水相连,两国人民长期互相 khi sử dụng tiếng Hán ghi chép lời diễn giả trình 支持,结下了深厚情谊。我曾经于2011年12月 bày trong thực hành dịch nói Việt-Hán cũng có 访问越南,并会见了参加第十二届中越青年友 những thuận lợi nhất định. Bởi lẽ, quá trình ghi 好会见的两国青年代表。几百名年轻人同唱歌 chép đồng thời là quá trình dịch. Mặc dù người 颂两国传统友谊的歌曲《越南—中国》,给我 phiên dịch nghe được đầy đủ nội dung diễn giả 留下了深刻印象。听说有部分代表今天也来到 trình bày, nhưng vì vừa ghi vừa phải sắp ý theo 了人民大会堂,欢迎你们! ngôn ngữ mục tiêu, nên người phiên dịch không thể ghi chép từng từ, mà phải trình bày theo sơ đồ 当前,中国人民正在为全面建成小康社 ý với các ký hiệu giản tiện, rõ ràng. Tuy nhiên, ghi 会、实现中华民族伟大复兴的中国梦而团结奋 chép bằng tiếng Hán cũng có những hạn chế nhất 斗,协调推进全面建成小康社会、全面深化改 định. Chữ Hán là hệ chữ vuông, đa phần các con 革、全面依法治国、全面从严治党,越南也在 chữ được cấu tạo từ nhiều nét khác nhau, vì vậy, 全力推进革新事业。在发展道路上,双方应该 việc ghi chép bằng tiếng Hán không phải là việc 继续加强人文交流、增进睦邻友好,使中越传 thuận tiện dễ dàng với người phiên dịch là người 统友谊在两国人民中代代相传” 。 Việt Nam dù người đó có biết qui tắc viết chữ thảo. Khảo sát cho thấy, các bản ghi chép thông thường Bảng 2. Sơ đồ ghi chép nội dung đoạn văn kết hợp cả tiếng tiếng Việt và tiếng Hán với hệ diễn giả trình bày bằng tiếng Hán thống ký hiệu phổ quát và hệ thống ký hiệu do người phiên dịch tự sáng tạo. Ví dụ: “人d ” nghĩa là “người dân, nhân dân”; “人d中” nghĩa là người dân Trung Quốc hoặc nhân dân Trung Quốc. Tương tự như trên, ghi chép khi phiên dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt, người phiên dịch là người Việt Nam cũng gặp những thuận lợi và khó khăn Lưu trữ nội dung thông tin diễn giả trình bày nhất định. Khi diễn giả trình bày bằng tiếng Hán, được người phiên dịch thực hiện dựa vào hai cách, người phiên dịch chịu áp lực về nghe và nắm bắt ghi nhớ trong não bộ và ghi chép trên giấy. Trong thông tin. Họ phải tập trung cao độ để bắt ý, lý giải hoạt động dịch nói, trí nhớ được phát huy tối đa, khi phân tích nội dung diễn giả trình bày. Cũng vì lý đó, diễn giả trình bày nội dung quá phạm vi lưu trữ của việc ghi chép buộc phải tập trung vào ghi ý, người trí nhớ ngắn hạn, người phiên dịch phải nhờ vào sự phiên dịch phải trình bày mạch ý của diễn giả theo hỗ trợ của ghi chép. Có thể thấy ghi chép đóng vai một sơ đồ lôgic, rõ ràng. Tuy nhiên, trong trường trò quan trọng, hỗ trợ cho trí nhớ, giúp hoạt động hợp này, việc ghi chép bằng tiếng Việt đồng thời là phiên dịch diễn ra suôn sẻ, đầy đủ và chính xác. quá trình phiên dịch, khi diễn giả dừng trình bày, Người phiên dịch chỉ ghi chép ý chính, không nặng người phiên dịch nhìn vào bản ghi chép và thực hiện về ghi chép toàn bộ như tốc ký thông thường, quá chuyển ngữ. Nhìn chung, trong trường hợp dịch từ sa đà vào ghi chép đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến việc tiếng Hán sang tiếng Việt, đa phần các phiên dịch là lý giải, cấu trúc lại ngôn ngữ nguồn và chuyển ngữ. người Việt Nam đều lựa chọn ghi chép bằng tiếng Nội dung ghi chép trong hoạt động dịch nói chủ yếu Việt, họ chỉ sử dụng tiếng Hán trong những trường là các khái niệm, mệnh đề, tên riêng, con số, cơ cấu hợp con chữ ít nét, có tính khái quát và nằm trong hệ tổ chức, các mối quan hệ lôgic. Ghi chép trong dịch thống qui tắc tự xác lập của mình. Ví dụ, ghi chép nói thường dùng những từ ngữ, ký hiệu biểu đạt một lại đoạn băng diễn giả trình bày có nội dung như tập hợp ý. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 42 Số 20 (7/2019)
  7. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v 4. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP RÈN KỸ THUẬT 4.2. Ghi chép có giới hạn thời gian GHI CHÉP TRONG GIẢNG DẠY DỊCH NÓI Ghi chép có giới hạn thời gian là hình thức Để ghi chép hiệu quả trong hoạt động dịch nói, ghi chép diễn ra trong khoảng thời gian xác định. người phiên dịch cần rèn luyện kỹ thuật ghi chép Thông thường sau khi dừng băng hình, người học thật nghiêm túc và bài bản. Kỹ thuật ghi chép là hoàn thành việc ghi chép trong khoảng thời gian kỹ thuật sử dụng hệ thống ký hiệu, cách nói tắt và ít nhất bằng thời gian chạy băng hình hoặc hơn những qui tắc riêng, tạo nên hệ thống sơ đồ ý, kết một chút. Ví dụ, sau khi xem một đoạn băng hình hợp nội dung lưu trữ bằng trí nhớ ngắn hạn, dài hạn, dài 1 phút 30 giây, người học có thể hoàn thành nhằm phục vụ cho quá trình chuyển ngữ (王斌华, ghi chép nội dung đoạn băng trong 1 phút 45 giây, 2006, tr.312). Nhìn chung để có kỹ thuật ghi chép tính từ thời điểm dừng băng. Sau khi hoàn thành tốt, người phiên dịch phải có kế hoạch rèn luyện kỹ việc ghi chép, người học thuật lại nội dung đoạn thuật ghi chép một cách nghiêm túc. Xác định được băng vừa xem bằng ngôn ngữ nguồn, hoặc ngôn tầm quan trọng của ghi chép, trong các giờ học thực ngữ đích. Nếu người học hoàn thành việc ghi chép hành dịch nói tại nhà trường, giảng viên có thể thiết trong 1 phút 45 giây, lần luyện tập tiếp theo sẽ rút kế các bài học, lựa chọn các băng hình, xác định ngắn thời gian ghi chép xuống 1 phút 35 giây. Sau mục tiêu yêu cầu cụ thể, lựa chọn phương pháp phù khi đạt được mục tiêu luyện tập, tiếp tục rút ngắn hợp, giúp người học rèn luyện và từng bước nâng thời gian lần ghi chép tiếp theo xuống 1 phút 30 giây, hoặc 1 phút 25 giây và thuật lại nội dung sau cao kỹ thuật ghi chép, đặt nền móng vững chắc cho mỗi lần ghi chép. Hình thức luyện tập này tạo cho công việc thực tế sau này. người học áp lực về thời gian, trên cơ sở đó, người 4.1. Ghi chép không giới hạn thời gian học rèn luyện năng lực nhận biết, nắm bắt thông tin, sắp xếp chỉnh ý, điều chỉnh cách ghi chép, Ghi chép không giới hạn thời gian là hoạt động nâng cao kỹ thuật ghi chép. ghi chép được tiến hành từ khi bắt đầu bật băng hình, người học vừa xem băng hình, vừa phân tích 4.3. Luyện tập ghi chép băng hình tiếng Việt lôgic nội dung, vừa ghi chép, cho đến khi hoàn theo các cấp độ thời gian thành việc ghi chép. Sau khi hoàn thành việc ghi Luyện tập ghi chép băng hình tiếng Việt là hình chép, người học nhìn vào bản ghi chép và thuật lại thức xem băng hình tiếng Việt, ghi chép lại nội bằng lời. Trước hết, người học thuật lại nội dung dung, sau khi hoàn thành việc ghi chép, người học băng hình bằng ngôn ngữ nguồn, tiếp đến thuật lại sẽ dùng tiếng Hán để thuật lại nội dung mình vừa bằng ngôn ngữ mục tiêu. Việc thuật lại nội dung ghi chép. Cùng một đoạn băng hình, người học ghi chép có thể diễn ra nhiều lần, sau mỗi lần tiến hành luyện tập nhiều lần, đồng thời tiến hành người học có thể chỉnh sửa, rút kinh nghiệm sao so sánh việc ghi chép giữa các lần thực hành, từ đó cho có bản dịch ngắn gọn, đủ ý nhất. Hình thức rút kinh nghệm, chỉnh sửa để có bản ghi chép hiệu luyện tập này không chịu áp lực về nghe bắt thông quả. Với người học là người Việt Nam, việc xem tin, không bị giới hạn về thời gian, đây là hình băng hình tiếng mẹ đẻ sẽ không mấy khó khăn, thức dễ nắm bắt và thuần thục đối với những người không ảnh hưởng đến hoạt động nắm bắt thông mới học. Yêu cầu của hình thức này là người học tin. Việc rèn luyện kỹ thuật ghi chép nên bắt đầu phải rèn kỹ thuật bắt ý, tóm ý, trình bày ý theo tiến hành từ ghi chép nội dung các băng hình bằng một sơ đồ ý đầy đủ và vắn tắt. Giảng viên có thể tiếng Việt, chú ý cách phân bố sức tập trung, phối lựa chọn băng hình luyện tập ghi chép bằng tiếng hợp nhịp nhàng giữa nghe và ghi chép, luyện tập Việt hoặc tiếng Hán phù hợp. Trên cơ sở luyện tập, từ không giới hạn thời gian, đến có giới hạn thời người học rút kinh nghiệm và bắt đầu hình thành gian, chú trọng rèn luyện biểu đạt nội dung sơ đồ ý cho mình hệ thống ký hiệu và bộ qui tắc ghi chép. đã ghi chép từ tiếng Việt sang tiếng Hán. KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 20 (7/2019) 43
  8. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY 4.4. Ghi chép nội dung băng hình tiếng Hán phiên dịch, nhưng cơ bản nằm trong hệ thống ký tốc độ chậm hiệu phổ quát, đa số mọi người có thể hiểu được. Và dù bộ quy tắc ký hiệu có gọn nhẹ đến mức Ghi chép theo băng hình tiếng Hán tốc độ nào, thì nó phải là hệ thống ký hiệu mà bộ não con chậm là hình thức xem băng hình tiếng Hán với người dễ nhận biết, tránh những phiền toái không tốc độ chậm và tiến hành ghi chép lại nội dung. cần thiết dẫn đến làm chậm tốc độ phiên dịch, thậm Sau khi hoàn thành việc ghi chép, người học thuật chí dẫn đến sai lệch ảnh hưởng chất lượng phiên lại nội dung băng hình bằng tiếng Việt. Cùng một dịch. Người phiên dịch có thể dựa vào hệ thống đoạn băng hình, có thể luyện tập lặp lại nhiều lần, các ký hiệu quốc tế để hình thành cho mình bộ quy với yêu cầu khác nhau về mặt thời gian và so sánh kết quả ghi chép sau mỗi lần, tìm ra những điểm tắc viết tắt riêng. Đây là bộ quy tắc riêng của từng tồn tại, rút kinh nghiệm, chỉnh sửa cho đến khi có người phiên dịch, không phải hệ thống qui tắc viết bản ghi chép đạt hiệu quả trong thời gian ngắn tắt mặc định cho tất cả mọi người. Tuy nhiên, đó nhất. Mặc dù tốc độ nói trong băng hình chậm, là hệ thống qui tắc mang tính gợi ý, có thể áp dụng nhưng vì tiếng Hán với người Việt Nam là ngoại rộng rãi, ví dụ một số ký hiệu dưới đây có thể biểu ngữ, nên đòi hỏi người học phải có khả năng nghe đạt ý theo một quy tắc nhất định: hiểu, sàng lọc thông tin và sắp xếp ý tốt. Việc phân bố sức tập trung giữa nghe và ghi chép là hết sức Bảng 3. Một số ký hiệu phổ quát có thể áp quan trọng, cần rèn luyện sao cho hoạt động ghi dụng ghi chép trong dịch nói chép không ảnh hưởng đến hoạt động nghe, nắm bắt thông tin và ngược lại. Ký Ký hiệu Ý biểu đạt Ý biểu đạt hiệu 4.5. Luyện tập ghi chép băng hình tiếng Hán ↑ Tăng lên, phát triển, gia ⃝ Quốc gia, đất nước tăng tốc độ chuẩn ↓ Giảm xuống, đi xuống, Ω Bao gồm trong đó, bao thụt lùi hàm cả, thâu tóm trọn vẹn Về mặt hình thức, luyện tập ghi chép băng ↑↑ Ngày càng mạnh, tăng ≠ Không giống với, khác so hình tiếng Hán tốc độ chuẩn cũng tương tự như mạnh, nỗ lực hết mức với, biến đổi các hình thức luyện tập trên. Để khắc phục áp lực ↓↓ Ngày càng yếu, giảm = Bằng với, đồng nghĩa với, nghe để nắm bắt thông tin, cần phải lựa chọn các mạnh, trượt mạnh có nghĩa là băng hình tiếng Hán từ dễ đến khó, từ băng hình ↕ Xuyên suốt trên dưới Mãi mãi, dài lâu, trường tồn có nội dung quen thuộc đến băng hình có nội dung → Suy ra, dẫn đến, kéo theo ≈ Tương đương với, ngang mới, từ không giới hạn thời gian đến có giới hạn với thời gian, từng bước giảm áp lực nghe bắt thông ← Nhìn lại phía trước, trở về ≡ Tồn tại tin. Nội dung băng hình cũng có thể tăng dần độ trước khó, từ những bài phát biểu, đối thoại có kết cấu rõ ↔ Tác động hai chiểu, tương √ Chính xác, đạt tiêu chuẩn ràng, đến những bài có kết cấu lôgic nội dung phức quan tạp hơn, đòi hỏi sự phân tích như phỏng vấn, đưa * Xuất sắc, ưu tú, tuyệt vời × Không chính xác, sai, bỏ đi tin, phát biểu hội nghị... Luyện tập lặp lại nhiều *: Cảnh báo ϴ Đe dọa lần với cùng một băng hình, khi đã thuần thục, tiếp ~ Liên quan đến, có quan hệ ≤ Nhỏ hơn hoặc ngang tục luyện tập vừa nghe vừa ghi, cho đến khi hoạt với, quan hệ, liên hệ bằng với động ghi chép kết thúc cùng lúc với hoạt động nói ≥ ø Vô tác dụng, ko có gì, Lớn hơn hoặc ngang bằng của diễn giả. trống rỗng với ? Nguyên nhân, nghi vấn, є Thuộc về, qui về 4.6. Một số ký hiệu phổ quát có thể áp dụng tại sao vào ghi chép trong dịch nói Δ Đại diện cho, tượng trưng ˃˂ Trái ngược với, mâu thuẫn, cho xung đột, đối đầu Các ký hiệu hoặc viết tắt dùng ghi chép trong ++ Cực mạnh, cực tốt, cực || Tuy nhiên, vả lại dịch nói tuy mang tính cá nhân của mỗi người nhiều KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 44 Số 20 (7/2019)
  9. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY v ˗˗ Vô cùng yếu, vô cùng tệ // Song song với, đồng thời lựa chọn các phương pháp rèn luyện phù hợp, đặt với, cùng lúc với ra yêu cầu và hướng dẫn người học từng bước rèn / bên cạnh đó § Sự kết nối luyện, đi đến thuần thục kỹ thuật này. | chấm dứt, ngăn chặn $ Tiền bạc )+ Ngoài giới hạn, đã vượt ∑ Tổng cộng 5. KẾT LUẬN mức +) Trong giới hạn, chưa vượt ∞ Vô cùng, vô tận Trong dịch nói, ghi chép đóng vai trò hỗ trợ rất mức ⃝ Xâm nhập, xâm lấn ∀ Tất cả, mọi thứ lớn cho ghi nhớ, giúp giảm áp lực và bù đắp những → hạn chế cho trí nhớ ngắn hạn của người phiên dịch. : Nhận định, cho rằng, thể ┤ Dừng lại ở…, tính đến… Bên cạnh đó, trong quá trình dịch nói, ghi chép còn hiện dừng lại + Nổ lực phát triển, nỗ lực - Tăng trưởng âm, thụt lùi... là quá trình sắp xếp, tái cấu trúc ngôn ngữ nguồn, phấn đấu giúp hoạt động ghi nhớ chuyển từ bị động sang chủ động, nâng cao hiệu quả hoạt động ghi nhớ. Nắm Ghi chép trong dịch nói đòi hỏi tốc độ nhanh, bắt đặc điểm, vai trò của ghi chép, thiết kế chương ý cô đọng, tránh tối đa sự cẩu thả, rối rắm khó trình rèn luyện kỹ thuật ghi chép hợp lý sẽ góp nhận biết. Nội dung thông tin thu được từ ngôn phần nâng cao chất lượng đào tạo phiên dịch. Trên ngữ nguồn qua đi rất nhanh, người phiên dịch phải cơ sở nghiên cứu, áp dụng thành quả của người đi có ý thức rèn luyện khả năng ghi chép nhanh, ký trước, tổng kết thực tiễn giảng dạy và học tập môn hiệu rõ ràng dễ nhận biết. Ghi chép có thể dùng ngôn ngữ nguồn hoặc ngôn ngữ đích để lưu lại nội thực hành dịch nói tiếng Trung Quốc tại Học viện dung của diễn giả, cũng có thể kết hợp cùng lúc Khoa học Quân sự, chúng tôi tóm tắt một số đặc cả ngôn ngữ nguồn và ngôn ngữ đích. Ngoài ra hệ điểm và phương pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép thống ký hiệu phổ quát, hệ thống ký hiệu riêng do trong dịch nói. Hy vọng, nội dung đề cập trong bài mỗi cá nhân tự tạo nên cũng có thể được tận dụng viết sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động để đẩy nhanh tốc độ ghi chép. Có nhiều phương giảng dạy, đào tạo phiên dịch tại Học viện Khoa pháp rèn luyện kỹ thuật ghi chép, giảng viên có thể học Quân sự./. Tài liệu tham khảo: Phan Vũ Tuấn Anh (2013), Giáo trình Phiên dịch Trung-Việt đối ngoại, Học viện Ngoại giao, Hà Nội. Nguyễn Hữu Cầu (2007), Lý thuyết đối dịch Hán-Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội. Nguyễn Quốc Hùng (2007), Hướng dẫn kỹ thuật phiên dịch Anh-Việt Việt-Anh, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh. Hồ Đắc Túc (2012), Dịch thuật và tự do, NXB Hồng Đức, Hà Nội. 鲍刚(2005),口译理论概述,中国对外翻译出版公司,北京。 刘和平(2005),口译理论与教学,中国对外翻译出版公司,北京。 刘建珠(2012),口译技能训练教程,武汉大学出版社,武汉。 桂诗春(1985),心理语言学,上海外语教育出版社,上海。 王斌华(2006),口译:理论、技巧、实践,武汉大学出版社,武汉。 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ Số 20 (7/2019) 45
  10. v PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY SOME METHODS FOR NOTE-TAKING SKILL PRACTICE IN INTERPRETATION TEACHING BY CHINESE FACULTY, MILITARY SCIENCE ACADEMY NGUYEN THI THIEM Abstract: In translating activity, for a limited amount of time, when the amount of information exceeds the memory capacity of the brain, the translator must rely on the support of the note- taking. Techniques of note-taking in spoken translation have specific characteristics, training note- taking techniques contribute to assure quality and improve translation efficiency. Determining the importance of taking notes, in teaching practice of speaking, the design of lessons that trains note- taking technique for learners, training a team of interpreters with good skills to translate to meet practical requirements is essential. Basing on the study of summarizing the results of previous people, combined with a review of practical experience, we summarize the characteristics of note-taking techniques and some methods of training note-taking techniques for Chinese major students at Military Science Academy. Keywords: translation, methods, note-taking techniques, memorizing, system of symbols Received: 11/01/2019; Revised: 14/02/2019; Accepted: 15/5/2019 KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ 46 Số 20 (7/2019)

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản