intTypePromotion=1

Báo cáo " Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí , thực tiễn và mối quan hệ với vần đề tam nông "

Chia sẻ: Le Dang Hai | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:0

0
88
lượt xem
11
download

Báo cáo " Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí , thực tiễn và mối quan hệ với vần đề tam nông "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Vấn đề tam nông đang được Đảng, nhà nước và ngành nông nghiệp triển khai thực hiện nhằm tăng cường đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Chính sách miễn thuế nông nghiệp, chính sách miễn thủy lợi phí là những chính sách hướng tới vấn đề này.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo " Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí , thực tiễn và mối quan hệ với vần đề tam nông "

  1. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí, thực tiễn và mối quan hệ với vấn đề tam nông PGS.TS. Nguyễn Văn Song Đại học Nông nghiệp Hà Nội Tóm tắt Vấn đề tam nông đang được Đảng, Nhà nước và ngành nông nghiệp triển khai thực hiện nhằm tăng cường đầu tư cho lính vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Chính sách miễn thuế nông nghiệp, chính sách miễn thủy lợi phí là những chính sách hướng tới vấn đề này. Bài viết phân tích cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, chính sách miễn thủy lợi phí đồng thời phân tích các thuận lợi, khó khăn của quá trình thực thi hai chính sách này liên quan tới chủ trương về vấn đề tam nông. Từ khóa:cơ sở kinh tế, miễn thuế, miến thủy lợi phí, tam nông. 1. ĐẶT VẤN ĐỀ Nông nghiệp, nông thôn và nông dân đã được đưa ra bàn thảo nhằm tìm hướng đi “công bằng’ và “bền vững cho khu vực đông dân nhất của Việt Nam. “Với 70% dân số, 57% lao động sinh sống và làm việc ở khu vực nông thôn và nông thôn đang đóp góp 20% GDP” (Tăng Minh Lộc. 2007). Theo báo cáo của Bộ Tài Chính cho biết, tổng vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn ước tính chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu và chỉ chiếm khoảng 8,7% tổng đầu tư. Nhìn vào danh mục 94 dự án trọng điểm quốc gia mời gọi vốn FDI trong giai đoạn 2006-2010 (gần 26 tỷ USD) thấy rất rõ sự mất cân đối giữa khu vực công nghiệp - xây dựng với khu vực nông nghiệp - nông thôn. Trong danh mục này chỉ có 1 dự án dành cho nông nghiệp -chăn nuôi - lâm nghiệp và 4 dự án dành cho thủy sản. Chúng ta chưa sản xuất được sản phẩm nông nghiệp chuẩn mực vì chưa có nền sản xuất lớn, tập trung, chưa có các quy trình kỹ thuật chuẩn, chưa kết nối được sản xuất và tiêu thụ... Cho đến nay, 90% sản phẩm nông nghiệp vẫn bán ra ở dạng thô và 60% sản phẩm bị bán ép với giá thấp. Sản xuất còn rất manh mún, nhỏ lẻ. Bình quân mỗi hộ nông dân chỉ có 2,5 lao động (phần lớn là lao động nữ), và chỉ có khoảng 0,7ha canh tác. Theo điều tra của Bộ Nông nghiệp và PTNT, chỉ có khoảng 25% nông dân tiếp cận được với thông tin thị trường. Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn vừa chậm vừa không đồng đều, nên đến nay vẫn có tới 77% số hộ nông nghiệp thuần tuý, chỉ giảm được 1,6% so với 10 năm trước. (Báo Kinh tế nông thôn tháng 1.2008). Cũng theo báo Kinh tế nông thôn cho thấy, các chính sách thuộc nhóm “hộp xanh” của Việt Nam chiếm 84,5% tổng nhóm hỗ trợ trong nước, tập trung chủ yếu trong xây dựng kết cấu hạ tầng nông nghiệp, dịch vụ khuyến nông, các chương trình hỗ trợ vùng, hỗ trợ khắc phục thiên tai, dự trữ công vì mục đích đảm bảo an ninh lương thực. Các chính sách hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ kiểm tra giám sát dịch bệnh và sâu bệnh, hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng số chi hỗ trợ trong nhóm “hộp xanh”, 1 - 3%. Theo Bộ trưởng NN & PTNT, trong 3 vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân, thực tế khó có thể tách rời hoặc chú trọng một vấn đề nào mà cần có giải pháp tổng thể, toàn diện, trong đó lấy nông dân là trung tâm, động lực để giải quyết vấn đề tam nông hiện nay. GS. Tô Duy Hợp, Viện Xã hội học trong một hội nghị về “Công nghiệp hoá nông thôn và phát triển nông thôn Việt Nam - Đài Loan", do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Nghiên cứu Trung ương Đài Loan tổ chức gần đây tại Hà Nội, đưa ra 10 vấn đề xã hội bức xúc, nan giải trong quá trình đổi mới nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam trong 20 năm qua: Khoảng cách giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội; tình trạng thiếu việc làm, di dân tự phát, xung đột xã hội gia tăng; dân trí và quan trí thấp; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ yếu kém; đời sống văn hoá có nhiều biểu hiện tiêu cực, xuống cấp; năng lực quản lý xã hội, kết cấu hạ tầng thấp kém; môi 1
  2. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân trường bị ô nhiễm và suy thoái đến mức báo động. Mức độ giảm nghèo chung của Việt Nam diễn tiến liên tục, tuy nhiên, xu hướng phân hoá giàu nghèo gia tăng trong nội bộ khu vực nông thôn, đặc biệt là giữa nông thôn với đô thị do tình trạng luẩn quẩn của sự đói nghèo. Tại hội thảo về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (tam nông) ở TPHCM (2008), GS Tương Lai đã đúc kết một cách nghiệt ngã: Lâu nay, nông dân ta phải chịu nhiều cái "nhất": Cống hiến nhiều nhất, hy sinh nhiều nhất, được giúp đỡ ít nhất, bị mất nhiều nhất, phải cam chịu nhiều nhất, biết tha thứ nhất... Thuế nông nghiệp đã được miễn giảm từ tháng 7 năm 2003 cho nông dân. Ngược lại, chính sách miễn thủy lợi phí mới được thực hiện trong một vài năm gần đây cụ thể hóa bằng Nghị định 154 (2007) và Nghị định 115 (2008) của Chính phủ. Theo đại diện Bộ Tài chính, việc thu TLP không còn phát huy tác dụng. Cụ thể: năm 2006, cả nước chỉ thu được hơn 900 triệu đồng TLP; trong khi tổng nợ đọng TLP trên toàn quốc lên tới 377 tỉ đồng. ước tính, mỗi năm nông dân sẽ được hưởng lợi hơn 1.000 tỷ đồng nhờ chính sách này. Mục đích của bài viết này là nhằm phân tích cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí, thực tiễn thực hiện miễn thủy lợi phí trong hai năm qua đối với nông nghiệp và vấn đề tam nông do hai chính sách này mang lại. 2. NGUỒN SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU 2.1 Nguồn số liệu thứ cấp (đã được công bố) Để phân tích tình hình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí ở các cấp nguồn số liệu tổng thể về thuỷ lợi phí, các hoạt động của các tổ chức dịch vụ thuỷ lợi được điều tra từ các bộ phận như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh thuộc Đồng bằng Bắc bộ. Nguồn số liệu sơ cấp (số liệu mới) Nhằm phân tích tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của quá trình thực thi chính sách miễn thủy lợi phí tới các cấp địa phương liên quan và hộ nông dân số liệu được điều tra điển hình thông qua phỏng vấn trực tiếp các chủ nhiệm HTX dùng nước, các hộ nông dân thuộc bốn (4) tỉnh Đồng bằng sông Hồng: Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc và Nam Định. Số mẫu đã điều tra là 32 HTX dùng nước, và 120 hộ nông dân được chọn ngẫu nhiên và phân tổ theo các tiêu chí khác nhau nhằm phục vụ và làm nổi bật mục tiêu nghiên cứu đã được đề ra Phương pháp phân tích và xử lý số liệu Phương pháp phân tích được chi làm hai phần: thứ nhất phần cơ sở kinh tế được phân tích dựa trên các mô hình toán học; phần thứ hai, để phân tích tình hình thực thi chính sách miễn thuế, thủy lợi phí và vấn đề tam nông, nghiên cứu sử dụng chủ yếu các phương pháp điều tra và phân tích số liệu sau đây: Phương pháp hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm, nhằm tính toán giá thành một số sản phẩm chủ yếu trong nông nghiệp (lúa, rau màu...) nhằm tính được lợi ích tăng (giảm) chi phí trong sản xuất khi các sản phẩm nông nghiệp được hạch toán trong trường hợp miễn thuỷ lợi phí; Phương pháp so sánh, nghiên cứu sử dụng phương pháp này nhằm so sánh lợi ích của những người nông dân trước và sau khi thực thi chính sách miễn thuỷ lợi phí; Phương pháp phỏng vấn có sự tham gia của người dân, phương pháp này nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn trực tiếp từ cộng đồng những người dân được hưởng lợi, hoặc không được hưởng lợi từ chính sách miễn thuỷ lợi phí. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thuế nông nghiệp và miễn thủy lợi phí 3.1.1 Ảnh hưởng miễn thuế nông nghiệp đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân. 2
  3. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân Thuế là sự chuyển giao nguồn lực từ khu vực kinh tế tư nhân sang khu vực kinh tế công cộng và dựa vào nguồn thu ngân sách từ thuế, Chính phủ phân phối lại phúc lợi xã hội. S -Trước khi miễn Giá P thuế nông nghiệp S sau khi miễn thuế A Pt nông nghiệp Mức P* Phần mất trắng thuế * phúc lợi xã hội B không còn sau D PS khi miễn thuế C nông nghiệp P 0 QA Q* Sản lượng ngành nông nghiệp Hình 1. Miễn thuế nông nghiệp làm tăng sản lượng và tăng phúc lợi xã hội Khi thực hiện chính sách miễn thuế nông nghiệp, đường cung các sản phẩm nông nghiệp sẽ chuyển từ Sthuế về Ssau khi miễn thuế, mức sản lượng nông nghiệp vì vậy sẽ tăng lên từ QA đến Q*, như vậy mức an toàn lương thực sẽ cao hơn, sức cạnh tranh trong của sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam sẽ cao hơn do giá giảm từ Pt về P*. Tỉ lệ thất nghiệp trong khu nông nghiệp và nông thôn giảm do thu hút lao động vào trong ngành nông nghiệp. Đặc biệt, chính sách miễn thuế nông nghiệp sẽ tạo ra phúc lợi xã hội nhiều hơn do giảm được phần mất trắng của xã hội (diện tích có hình vảy cá). Một hạn chế duy nhất của miễn thuế nông nghiệp là Nhà nước không thu được phần doanh thu thuế (diện tích hình viên gạch). Như vậy, xét dưới góc độ của chính sách tam nông, miễn thuế sẽ khuyến khích phát triển nông nghiệp, tăng phúc lợi cho khu vực nông thôn và đặc biệt tăng thu nhập cho nông dân và giảm bớt tình trạng thiếu việc làm trong khu vực nông nghiệp hiện nay. 3.1.2 Ảnh hưởng thủy lợi phí nông nghiệp đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Nghị định số 154/2007/NĐ-CP (2007), Nghị định số 115/2008/NĐ-CP(2008) đã ban hành thống nhất chính sách miễn thủy lợi phí cho nông nghiệp trong phạp vi toàn quốc. Trên cơ sở kinh tế chính sách đã ảnh hưởng tới lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân như thế nào? Hình 2 thể hiện tác động của chính sách miễn thủy lợi phí tới nông nghiệp, nông thôn và nông dân như sau: S trước khi miễn TLP Giá P C S sau khi miễn TLP A P* PS Phần mất trắng B D phúc lợi hình thành sau khi miễn TLP 0 Q* Qsau miến TLP Sản lượng ngành nông nghiệp Hình 2. Miễn TLP làm tăng sản lượng nông nghiệp nhưng làm giảm phúc lợi 3 xã hội
  4. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân Sau khi miến thủy lợi phí được thực hiện, sản lượng nông nghiệp sẽ tăng lên từ Q* (điểm cân bằng của thị trường) tới Qsau miễn TLP. Điều này sẽ dẫn tới giá nông sản hạ hơn so với giá thị trường, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp. Cũng như miễn thuế nông nghiệp, một lực lượng lớn lao động trong khu vực nông thôn sẽ được thu hút vào lao động trong khu vực nông thôn. Nhưng xét dưới góc độ phúc lợi xã hội thì miễn thủy lợi phí sẽ gây ra tổn thất phúc lợi cho toàn xã hội với hai lý do chính đó là phải tăng thuế từ các ngành khác để trang trải cho chi phí thủy lợi phí, thứ nữa là tạo ra mức sản xuất Qsau miễn TLP không hiệu quả do chi phí xã hội (điểm C) lớn hơn lợi ích xã hội điểm B. Xét dưới góc độ của chính sách tam nông, chính sách miễn thủy lợi phí phân phối lại thặng dư xã hội, tăng cường đầu tư cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và tăng thu nhập cho khu vực nông thôn. Nhưng xét dưới góc độ công bằng trong phân phối thu nhập và giảm khoảng cách giàu nghèo thì chính sách này cần được nghiên cứu kỹ càng, và sẽ được phân tích trong phần thực tiễn thực hiện. 3.2 Thực thi chính sách miễn thuế nông nghiệp, miễn thủy lợi phí và vấn đề tam nông 3.2.1 Chính sách miễn thuế nông nghiệp và vấn đề tam nông Miễn thuế nông nghiệp đã được thùc hiện từ cuối năm 2003, chính sách này không những được người nông dân (người được hưởng lợi trực tiếp) hưởng ứng và đồng tình ủng hộ mà còn tránh được sự méo mó giá cả do thuế gây ra. Hàng ngàn tỉ thuế nông nghiệp trước đây phải đóng cho Chính phủ này ở lại tái đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn và tăng thu nhập cho người nông dân. Chính sách này đi đúng mong mong muốn của người dân và công bằng trong phân phối lại phúc lợi xã hội. 3.2.2 Chính sách miến thủy lợi phí nông nghiệp và vấn đề tam nông. 3.2.2.1 Chi phí sản xuất của các hộ trước và sau chính sách miễn thuỷ lợi phí Các hộ nhóm I (xem ghi chú của bảng 1) giảm 2,18% tương đương 20.000 đồng và nhóm II giảm 17.440,0 đồng (tức giảm 1,81%). Theo kết quả điều tra, mức độ giảm chi phí của các hộ nằm trong hệ thống tưới của công ty nhiều hơn so với các hộ nằm ngoài hệ thống tưới của công ty. Trước khi có chính sách, chi phí thuỷ lợi chiếm 3,64% trong tổng CPSX, khi tiến hành miễn TLP chi phí thuỷ lợi giảm còn 1,54% trong tổng chi phí sản xuất và chỉ tiêu này ở các hộ nhóm II lần lượt là 5,10% và 3,38%. Bình quân 1 sào lúa mỗi hộ giảm được 17.420,0 đồng. Tuy đây là khoản tiền rất nhỏ nhưng đã góp phần giúp các hộ nông dân giảm được phần nào gánh nặng về chi phí. Bảng 1: Chi phí sản xuất lúa của các hộ điều tra vùng đồng bằng sông Hồng năm 2008 (Tính bình quân cho 1 sào) ĐVT: Đồng Hộ đầu Hộ cuối Nhóm I Nhóm II So sánh (lần) Diễn giải nguồn nguồn (1) (2) (3) (4) (2)/(1) (4)/(3) 1.CP vật chất 471.350,0 485.490,5 474.350,1 479.205,6 1,03 1,01 2.CP dịch vụ 430.000,0 447.200,0 442.000,3 430.000,2 1,04 0,97 3.Chi TLP Chưa miễn TLP 34.080,0 50.078,4 32.000,0 55.364,0 1,47 1,73 Miễn TLP 14.080,0 32.638,4 13.500,0 39.120,5 2,32 2,9 4
  5. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân 4.Tổng CPSX* Chưa miễn TLP 935.430,0 982.768,9 948.350,4 964.569,8 1,05 1,02 Miễn TLP 915.430,0 965.328,9 929.850,4 948.326,3 1,05 1,02 Nguồn: Tổng hợp từ điều tra hộ, 2009; Ghi chú: * Tổng chi phí sản xuất chưa tính lao động gia đình; Nhóm I là nhóm các hộ nông dân có diện tích canh tác nằm trong vùng tưới của công ty, “hưởng nước” từ công trình thuỷ do công ty quản lý; Nhóm II là nhóm các hộ nông dân có diện tích canh tác nằm ngoài vùng tưới của công ty, “hưởng nước” từ công trình thuỷ lợi do HTX quản lý. Kết quả điều tra và phân tích cũng cho thấy, khi miễn TLP mặc dù chi phí thuỷ lợi giảm nhưng do chất lượng dịch vụ thuỷ lợi giảm sút dẫn đến các hộ không chủ động được việc tưới tiêu. Và đây cũng là nguyên nhân làm tăng thêm các chi phí khác của người dân (chi tiền điện bơm nước, tiền máy bơm dầu). Khoản tăng thêm này đối với nhóm hộ I là 10.000 đồng, nhóm hộ II tăng 12.560 đồng và ở các hộ đầu nguồn, cuối nguồn dao động từ 13.000 đồng đến 16.000 đồng. Tóm lại: Chính sách miễn thuỷ lợi phí có tác động làm giảm chi phí sản xuất của các hộ nông dân. Nhưng chính điều này đã gây ra sự mất công bằng giữa các nhóm hộ trong việc hưởng lợi từ chính sách miễn TLP. Miễn thuỷ lợi phí làm chi phí thuỷ lợi giảm song chất lượng dịch vụ thuỷ lợi kém đi, gây khó khăn cho người dân trong việc lấy nước, tác động xấu đến năng suất cây trồng 3.2.2.2 Ảnh hưởng của chính sách miễn thủy lợi phí tới diện tích gieo trồng của các hộ nông dân Trong các hộ, nhu cầu mở rộng sản xuất của các hộ đầu nguồn cao hơn các hộ cuối nguồn bởi các hộ đầu nguồn được cung cấp nước đầy đủ, kịp thời hơn so với các hộ cuối nguồn. Vì khi miễn TLP, CPSX của nhóm hộ này giảm nhiều hơn và mức tăng thu nhập cũng cao hơn so với các hộ cuối nguồn. Đặc biệt là số hộ bỏ cây vụ đông chiếm 28,33% tương đương 34 hộ. Nguyên nhân của tình trạng trên là do cây vụ đông cần nhiều nước và liên tục hơn so với cây lúa nhưng khả năng cung cấp nước cho vụ đông thấp, nước bơm không đều và liên tục ảnh hưởng tới sự sinh trưởng phát triển của cây. Bảng 2. Ảnh hưởng của chính sách miễn TLP đến diện tích gieo trồng lúa của các hộ điều tra Chỉ tiêu Số lượng (hộ) Cơ cấu (%) Số hộ điều tra 120 100,0 Hộ có DT gieo trồng tăng lên 32 26,7 Hộ có DT gieo trồng giảm đi 9 7,5 Hộ có DT gieo trồng không đổi 79 65,8 Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra, 2009 Nguyên nhân của tình trạng này là do vì miễn TLP làm giảm ý thức sử dụng tiết kiệm nước của người dân, gây lãng phí nước và gia tăng sự mất công bằng giữa các nhóm hộ trong việc sử dụng nước. Những hộ ở đầu nguồn sử dụng lãng phí nước không cần biết những hộ cuối nguồn có được cung cấp nước hay không. Ngoài ra, còn có hiện tượng nước đào xẻ, đắp chặn, dù đó là kênh bê tông của một số người dân chỉ vì thiếu nước, thiếu kênh nội đồng; Do sự giảm sút về thái độ phục vụ cũng như chất lượng phục tưới của các đơn vị cung ứng dịch vụ thủy lợi khi miễn. Bên cạnh đó chất lượng phục vụ tưới của các đơn vị cung ứng dịch vụ thuỷ lợi: Kết quả điều tra cho thấy, khi chưa miễn TLP có 76,35% ý kiến cho rằng được cung cấp nước kịp thời và và 84,33% đầy đủ. Nhưng khi miễn TLP con số này chỉ là 23,65% và 15, 67%.Theo đánh giá của người dân, nguyên nhân của tình trạng này là do miễn TLP các công ty không phải thu TLP của dân nên không còn “ràng buộc” với dân nên họ mất “tiếng nói” trong việc đưa ra ý kiến liên 5
  6. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân quan đến dịch vụ nước họ được hưởng miễn phí. Gần 42% số hộ nông dân cho rằng thái độ phục vụ kém hơn trước trong khi chỉ có 10% cho ý kiến là thái độ phục vụ không thay đổi, số còn lại không cho ý kiến. Đa số cho rằng trước mắt có giảm chi phí sản xuất của hộ nhưng về lâu dài sẽ sinh ra tiêu cực và năng suất cây trồng và vật nuôi sẽ giảm do lịch tưới không được đảm bảo! 3.2.2.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện chính sách miễn TLP ở Đồng bằng Sông Hồng Qua quá trình điều tra hơn 49% số hộ nông dân (kết quả điều tra ở khu vực đồng bằng sông Hồng) cho rằng không muốn miễn thủy lợi phí! Vì sao gần 1 nửa số người được hưởng lợi trực tiếp lại không muốn tiếp tục chính sách này, bên cạnh những hạn chế đã được phân tích và nêu ở phần trên (3.2.2.1 & 3.2.2.2) sau đây là những thuận lợi và khó khăn cơ bản trong quá trình thực thi chính sách miến thủy lợi phí. Bảng 3. Một số thuận lợi và khó khăn cơ bản trong quá trình thực thi chính sách miễn TLP ở các cấp Các đối tượng điều tra Thuận lợi Khó khăn khảo sát - Quản lý tốt hơn - Triển khai thực hiện chính sách gặp nhiều diện tích tưới, tiêu của khó khăn, vướng mắc (thiếu văn bản hướng dẫn, các đơn vị quản lý và không có sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý) Cơ quan quản KTCTTL - Cấp bù thuỷ lợi phí chậm và thiếu, không lý Nhà nước - Tỉnh không phải đủ đầu tư cho thuỷ lợi cấp kinh phí cho việc cấp - Không đảm bảo công bằng giữa các vùng, bù sau Nghị định 115 các đối tượng hưởng lợi. - Diện tích ký hợp - Khó khăn trong việc giải quyết nợ đọng đồng dịch vụ với công ty những năm trước tăng lên, tổng mức đạt - Cấp bù thuỷ lợi phí chậm và thiếu gây khó cao và ổn định (trên 90%) khăn cho hoạt động của công ty - Ít phụ thuộc hơn - Phân cấp quản lý chưa rõ ràng, gây khó Công ty KTCTTL chính quyền địa phương khăn cho quản lý, bảo vệ và phân bổ kinh phí đầu - Tạo hành lang tư pháp lý giúp công ty kiện toàn tổ chức bộ máy tốt hơn - Không phải thực - Nguồn thu giảm, người dân không nộp TLP hiện thu - nộp thuỷ lợi nội đồng phí nữa - Việc chậm trễ trong cấp bù TLP ảnh hưởng Hợp tác xã - Không còn sự tranh đến hoạt động tưới, tiêu chấp về diện tích tưới với -Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể tới HTX công ty tạo nhiều vướng mắc trong thực thi - Mất công bằng giữa các hộ trong sử dụng - Giảm các khoản nước (hộ giàu trồng nhiều hưởng lợi nhiều và hộ đóng góp, giảm chi phí nghèo; hộ có nhiều diện tích canh tác ở đầu nguồn Người nông dân sản xuất và cuối nguồn - Tăng thu nhập do - Hệ thống kênh mương không đảm bảo, chất giảm chi một phần chi phí lượng dịch vụ nước giảm do cơ chế “xin cho” tái xuất hiện, yêu cầu (tưới, tiêu) của người dân khó 6
  7. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân khăn hơn - Giảm ý thức của người dân trong việc sử dụng nước, bảo vệ công trình thuỷ lợi và thanh toán nợ đọng Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra 2009 4. KẾT LUẬN Trên cơ sở kinh tế, chính sách miễn thuế nông nghiệp mang lại tổng phúc lợi xã hội cao hơn do loại bỏ được phần mất trắng phúc lợi xã hội do thuế gây ra cho ngành nông nghiệp, nâng cao lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam đối với khu vực và quốc tế, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho khu vực nông thôn vì vậy mà góp phần giảm lượng lớn tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp ở khu vực nông thôn, người nông dân được tăng thu nhập chuyển nguồn lực nhiều hơn về khu vực nông thôn và người nông dân. Một nhược duy nhất của chính sách này là nguồn thu ngân sách từ sản xuất nông nghiệp không còn đối với Chính phủ. Chính sách này phù hợp với vấn đề tam nông của Đảng và Nhà nước. Chính sách này cũng tạo ra được sự công bằng trong phân phối lại thặng dư xã hội Cơ sở kinh tế của chính sách miễn thủy lợi phí cho thấy rằng, người nông dân là người được hưởng lợi, giá cả nông sản sẽ thấp hơn giá thị trường cạnh tranh (do được trợ giá đầu vào), giải quyết được một phần hiện tượng thất nghiệp trong khu vực nông thôn. Xet dưới góc độ phúc lợi của toàn xã hội thì miễn TLP sẽ tạo ra mất mát phúc lợi xã hội (ngược với miễn thuế giảm sự mất trắng của phúc lợi xã hội), nguyên nhân là do phải dùng ngân sách Chính phủ (từ thuế) bù cho chi phí thủy lợi, tạo ra sức ì trong sản xuất nông nghiệp. Trong thực tế qua nghiên cứu quá trình thực thi chính sách miễn TLP có một số hạn chế bước đầu nhận định như sau: Phân hóa giàu nghèo trong khu vực nông thôn sẽ cao hơn do người giàu sẽ giàu hơn vì những người nông dân giàu thường canh tác và sản xuất nhiều hơn, sẽ được hưởng lợi nhiều hơn từ chính sách này. Diện tích tưới tiêu bình quân tăng 4,6% nhưng chất lượng phục vụ của các xí nghiệp đối với các hộ dân điều tra lại giảm sút, tưới tiêu đủ và kịp thời được đạt 85% các hộ điều tra đánh giá là tương đương với trước khi thực thi chính sách. Miễn thuỷ lợi phí các hộ dân sẽ được lợi là không phải đóng TLP nữa và bớt được một khoản chi phí trong sản xuất (khoảng 3% trong tổng CPSX) và tăng thêm một phần thu nhập cho người dân. Cụ thể đối với chi phí sản xuất lúa thì nhóm hộ nằm trong hệ thống tưới của công ty chi phí giảm 2,18% (giảm từ 935.430đ/sào xuống 915.430 đ/sào), hộ ngoài hệ thống tưới của công ty giảm 1,81%, hộ đầu nguồn giảm 1,99%, hộ cuối nguồn chi phí giảm 1,71%. Và thu nhập của các nhóm hộ đều tăng lên: Đối với nhóm hộ nằm trong hệ thống tưới của công ty tăng 20.000 đồng tương đương 2,88%, các hộ ngoài hệ thống tưới công ty tăng 3,11% (17.440,0 đồng). Nhóm hộ đầu nguồn tăng 2,28%; nhóm hộ cuối nguồn tăng 3,34%. Tuy được hưởng lợi về một số mặt nhưng quyết định sản xuất của các nhóm hộ lại có nhiều thay đổi. Đặc biệt đối với kết quả điều tra về diện tích trồng cây vụ đông có sự sụt giảm mạnh, nhiều hộ đã giảm hoặc bỏ hẳn việc trồng cây vụ đông do khó khăn về nước tưới (chiếm 28% tổng số hộ điều tra). Ngoài ra, chính sách miễn TLP đã tác động làm giảm ý thức của các hộ nông dân gây ra tình trạng lãng phí nước, sự mất công bằng giữa các nhóm hộ và làm hệ thống công trình thủy nông bị xuống cấp. Như vậy, xét dưới góc độ quan điểm tam nông thì chính sách sách miễn thuế phù hợp hơn, tạo công bằng hơn, không gây tổn thất cho xã hội hơn là chính sách miễn TLP. Chính sách miễn TLP cần phải được hoàn thiện, chi tiết và cụ thể hóa để tránh hiện tượng người giàu trong nông thôn được hưởng lợi nhiều hơn (do có nhiều vốn, đất đai lao động canh tác nhiều hơn) người nghèo (có ít vốn, ít đất đai và lao động) điều này tạo ra khoảng cách giàu nghèo lớn hơn. Hiện tượng không công bằng giữa các hộ có nhiều diện tích canh tác ở đầu hệ thống kênh mương và cuối hệ thống 7
  8. Nguyễn Văn Song. 2010. Tạp chí Kinh & tế Phát triển. Số 155. trang 85 -90. tháng 5/2010 – Đại học Kinh tế Quốc dân kênh mương cũng cần phải giải quyết. Để giảm thiểu những hạn chế của chính sách và quá trình thực thi chính sách miễn TLP, gắn kết chính sách này với chương trình chính sách tam nông của Đảng và nhà nước cần phải có các giải pháp cụ thể đó là: cụ thể hóa bằng các chỉ thị, nghị quyết và hướng dẫn quá trình thực thi tới tận các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp; hoàn thiện chính sách cũng như quá trình thực thi theo hướng tạo sự công bằng trong phân phối lại phúc lợi xã hội, hỗ trợ nâng cao trình độ thâm canh, trình độ về tiếp cận thị trường hơn là trợ giá đầu vào như miễn TLP; hạn chế tối đa xu hướng và ảnh hưởng của cơ chế “xin cho” trong dịch vụ tưới tiêu; có biện pháp cụ thể nhằm tránh hiện tượng khai khống diện tích tưới tiêu và sửa chứa kênh mương nhằm lấy ngân sách của Nhà nước; nâng cao ý thức của người dân trong tiết kiệm, sử dụng nước, bảo quản, duy trì hệ thống kênh mương các cấp./. Tài liệu tham khảo Báo kinh tế nông thôn (tháng 1.2008). http://www.kinhtenongthon.com.vn/Story/VandeSukien/2008/1/8632.html Chính phủ (2007). Nghị định số 154/2007/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Chính phủ, Hà Nội. Chính phủ (2008). Nghị định số 115/2008/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143/2003/NĐ - CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ của Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi, Chính phủ, Hà Nội. Liên ngành tài chính - NN &PTNT (2007) Hướng dẫn số 57/HD-LN ngày 11/6/2007 liên ngành Tài chính - NN&PTNT về việc thực hiện miễn giảm TLP NN tỉnh Hưng Yên năm 2007 Tăng Minh Lộc (2008), Phó Cục trưởng Cục Hợp tác xã, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tô Duy Hợp. (12. 2007). Hội thảo về công nghiệp hoá nông thôn và phát triển nông thôn Việt Nam - Đài Loan. Viện Xã hội học Báo Lao động. (12.6.2008). http://www.laodong.com.vn/Home/Tam-nong-nen-bat-dau-tu-giai-quyet-buc- xuc/20086/92650.laodong Tương Lai (2008). Hội thảo về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (tam nông) - TPHCM 8
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2