intTypePromotion=1
ADSENSE

Báo cáo khoa học: Nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS Bế Văn Đàn - Hà Nội, năm 2013

Chia sẻ: _ _ | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:51

30
lượt xem
2
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Ngoài phần đặt vấn đề, kiến nghị và tài liệu tham khảo, Báo cáo khoa học "Nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS Bế Văn Đàn - Hà Nội, năm 2013" tập trung trình bày 3 chương: Chương 1 tổng quan tài liệu, chương 2 trình bày đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu, chương 3 trình bày kết quả nghiên cứu. Mời các bạn cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo khoa học: Nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS Bế Văn Đàn - Hà Nội, năm 2013

  1. BÁO CÁO TỎNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN » Nghiên cứu thực trạng bệnh sâu răng và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh 12 tuổi tạl trường THCS Bế Văn Đàn - Hà Nội, năm 2013 Mã số: Nhóm ngành khoa học: Sinh viên thực hiện : Ngô Hoàng Long L ớ p : K9PN Chương trình học : Bác sĩ nha khoa Người hướng dẫn: TS. Võ Trương Như Ngọc Hà Nội, tháng 05 năm 2014
  2. L Ờ I CẢM ƠN Trong quá trình học tập và thực hiện bài nghiên cứu này, em dã nhận được sự giúp đỡ quý báu và tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình. Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS. Võ Trương Như Ngọc, người thẩy đã tận tình hướng đẫn, dìu dắt và chỉ bảo em trong quá trình học tập và thực hiện bài nghiên cứu. Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Vũ Xuân Đoàn, người thầy đã luôn động viên và đóng góp những ý kiến quý báu giúp em hoàn thành bài nghiên cửa nảy. Em chân thành cảm on Các thầy cô trong Khoa Quốc Tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Ban giám hiệu trường Trung học cơ sở Bế Văn Đàn - Quận Đổng Đa - Hà Nội cùng thầy hiệu trưởng Lê Hữu Hùng, các cô Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thị Ngọc Dung. Toàtì thể phụ huynh và học sinh trường Trung học cơ sở Bế Văn Đàn - Quận Đống Đa -H à Nội. Đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu. Cuối cùng, em xin bày tỏ lòng biết on sâu sẳc tới gia đình, bạn bè và người thân đã luôn động viên, khuyên khích, giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài nghiên cứu. Hà Nội, ngày 25 tháng 05 năm 2014 Sinh viên Ngô Hoàng Long 639
  3. DANH MỤC * CÁC CHỮ VIỂT TẮT 95% CI : Khoảng tin cậy 95% FDI (Federation đentaire Internationale) : Hiệp hội nha khoa quốc tể OHA : Hydroxyapatite OMS (Organisation monđiaỉe de la Santé) : Tổ chức Y tể thế giới OR : Odds ratio Sic : Significant Caries Index SL : Số lượng SMT : Sâu mất trám 640
  4. MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ........................................................................ ............................................ 647 CHƯƠNG 1: TỒNG QUAN TÀI LIỆU............................................................................ .648 1.1 ĐỊNH NGHĨA 1.2 C ơ CHẾ VÀ TIẾN TRÌNH SÂU RĂNG 1.3 CÁC YẾU TÓ TÁC ĐỘNG ĐÉN TIỂN TRÌNH SÂU RĂNG 1.4 CHỈ SỐ SMT, SIC VÀ CÁC NGHIÊN c ứ u DỊCH TÉ HỌC TRÊN THẾ GIỚI CHƯƠNG 2: ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN cửu VÀ PHƯƠNG PHẢP NGHIÊN CỨU...................................................................................................................................663 2.1 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG VÀ THỜI GIAN NGHIÊN c ứ u 2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu 2.3 KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC CỦA NGHIÊN c ứ u CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu ........................................................................ 669 3.1 MÔ TẢ KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u 3.2 ĐẢNH GIÁ MỐI LIẾN QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ VỚI BỆNH SÂU RĂNG CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN................................................................................................................... 683 4.1 THựC TRẠNG BỆNH SÂU RĂNG 4.2 THÓI QƯEN VÀ KIÉN THỨC CHĂM SÓC UẴNG MIỆNG KIÉN NGHỊ........ ............................................................................................................. 687 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 641
  5. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Phân bố các thành phần trong chỉ số SMT Bảng 3.2: Thời điểm bắt đầu tự chải răng của học sinh Bảng 3.3: Người dạy học sinh chải răng Bảng 3.4: sổ lần chải răng một ngày Bảng 3.5: Thời gian chải răng mồi lần Bảng 3.6: Thời gian thay bàn chải mới Bảng 3.7 : Các phương pháp vệ sinh răng miệng khác ngoài chải răng Bảng 3.8 : Đánh giá một số thói quen khác của học sinh trong chăm sóc răng miệng. Bảng 3.9 : Đánh giá kiển thức của học sinh về chăm sóc răng miệng Bảng 3.10 : Trình độ học vấn của phụ huynh học sinh Bảng 3.11: Thu nhập bình quân nhân khẩu của gia đình học sinh Bảng 3.12: Đánh giá mối Hên quan của các yếu tố giữa nhóm nằm trong SiC và nhóm ngoài SiC Bảng 3.13 : Tỉ suất nguy cơ của một số yếu tố Bảng 3.14: Đánh giá các yếu tố gia đình giữa nhóm học sinh trong SiC và nhóm học sinh ngoài SiC Bảng 3.15: Tỉ suất nguy cơ của các yếu tố liên quan đến gia đình Bảng 4.1: So sánh kểt quả của cuộc Điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2002 Biểu đồ 3.1: Phân bố giới tính trên mẫu nghiên cứu Biểu đồ 3.2: Thời điểm bắt đầu tự chải răng của học sinh Biểu đồ 3.3; Người dạy học sinh chải răng Biểu đồ 3.4: Đánh giá một số thỏi quen khác của học sinh trong chăm sóc răng miệng Biểu đồ 3.5: Đánh giá kiến thức của học sinh về chăm sóc răng miệng 642
  6. Biểu đồ 4.1: Tỉ lệ Sâu Mất Trám qua các năm Biểu đồ 4.2: So sánh tỉ ỉệ Sâu Mất Trám của Việt Nam với ú c và Pháp
  7. DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1: Quá trình hủy khoáng diễn ra theo trục c của trụ men Hình 1.2: Tinh thể hydroxyapatite bị hòa tan tại vùng trung tâm theo hình lục lăng Hình 1.3: Sự hoà tan thường diễn ra theo trục c. a, b, c diễn tả 3 giai đoạn Hên tiếp của sự huỷ khoáng ở tính thề OHA Hình 1.4: Thương tổn sớm dạng đốm trắng Hình 1.5: Sâu răng bất hoạt Hình 1.6: Hình ảnh lóp men được tái khoáng hoá Hình 1.7: Sơ đồ hủy khoáng - tải khoáng Hình 1.8: Biểu đồ Keyes sửa đổi Hình 1.9: Những nhân tố có mặt ữong căn nguyên bệnh sâu răng Hình 1.10: Đường cong Stephan. Sự thay đổi pH sau khi súc miệng bằng đung dịch 10% Glucose Hình 1.11: Đường biểu diễn chỉ số SMT các nước có xu hướng hội tụ Hình 1.12: Bản đồ chỉ sổ SMT ở trẻ Ỉ2 tuổi năm 2000 644
  8. CHƯƠNG1: TỎNGQUANTÀI LIỆU 1.1 ĐỊNH NGHĨA Sâu răng là bệnh nhiễm khuẩn thường trực ảnh hưởng tới sức khoẻ răng miệng suốt cuộc đời mỗi người [28]. Nỏ cũng là nguyên nhân chỉnh gây mất răng và các cơn đau trong miệng [11]. Hom nữa sâu răng còn nguy hiềm hon qua việc nó phát triển một cách âm thầm. Tồ chức Y Te thế giới định nghĩa bệnh sâu răng như sau: « Một tiến trình bệnh học khu trú, có nguồn gốc từ bên ngoài, xuất hiện sau khi mọc răng, đi kèm là sự phả hủy những mô cứng và tiến tới hình thành lo sâu trên răng » 1.2 C ơ CHẺ VÀ TIẾN TRÌNH SÂU RĂNG Trong môi trường miệng không bị sâu răng, các tinh thề hydroxyapatite (OHA) cùa men răng, nhất là các tinh thể nằm trên các bề mặt của răng luôn duy trì cân bằng động với môi trường nước bọt (nơi có chứa các tiểu cầu calcium phosphate). Sự trao đổi ion thường xuyên giữa các tinh thể OHA và nước bọt dẫn đến sự hủy khoáng và tái khoáng hóa thay phiên nhau. Sâu răng xảy ra khi cân bằng giữa hủy khoáng và tái khoáng bị phá vỡ (Selwitz, 2007) 1.2.1 Q uá trình huỷ khoáng Quả trình huỷ khoáng diễn ra có ỉiên quan tới tinh thể OHA sinh học Cai 0(PO 4)6(OH)2, là thành phần khoáng tạo nên mô cứng của cơ thể như xương, men, ngà và cément của răng. Ở men răng, thành phần khoảng cấu tạo chủ yếu từ OHA chiếm 96%, ở ngà là 70- 75% và ở cément là 65%. Các phản ứng hoá học do chuyển hoá đường thành acide hay việc hấp thu các proton (H+) trong miệng (có trong đồ ngọt, nước uống có gas, thực phẩm có tính acide cao) phá huỷ bề mặt răng khi độ pH trong miệng giảm xuống dưới ngưỡng ăn mòn là pH < 5,5 [10]. Khi đó tinh thẻ OHA phản ứng trên bề mặt với các ion hydrogène. Sự giảm pH phụ thuộc 645
  9. trực tiếp vào hoạt động của vi khuẩn qua quá trình lên men Carbone hydrate, tạo nên nhiều dạng acide hữu cơ và ỉàm giảm độ pH. Nghiên cứu của Imfeld năm 1978 đã chứng minh rằng súc miệng với dung dịch đường 10% ỉàm giảm đáng kể độ pH xuống dưới 4 ở những vùng có màng bám giữa kẽ răng [16]. Khi độ pH trong miệng giảm, đầu tiên proton H+ sẽ bị trung hòa bởi hệ thống đệm có trong mảng bám và trong nước bọt. Nồng độ các ion OH' và P O /‘ sẽ giảm mạnh sau khi phản ứng với H* tạo nên H 2O vả HPO42". Chỉ sau đó tinh thể hydroxyapatite của men răng mới bắt đầu bị hòa tan khi độ pH của môi trường vẫn giữ ở mức thắp dưới 5,5. Quá trình hủy khoáng xét theo quan điểm tinh thể hóa học là một quá trình rất phức tạp, đã được nghiên cứu in vitro bởi Voegeỉ và Frank, 1977; Arends, 1978; Driessens, 1982; Thomann 1990. Người ta nhận thẩy đỏ không phải chỉ là một quá trình đơn lẻ mà là một chuỗi các phản ứng hòa tan, kết tủa và tái tinh thể hóa. Trên mức độ tinh thể, sự ăn mòn do acide diễn ra một cách hệ thống và rất chính xác theo các phương tinh thể học. Đầu tiên các trụ men sắp xếp vuông góc với bề mặt men răng sẽ bị phá huỷ. Thương tổn lan rộng theo trục c , các tinh thề trở nên có dạng trụ rỗng [22] (Hình 1.1). Cuối cùng các vùng thương tổn kết thúc bằng việc nối liền với nhau và cắt tinh thể ra thành nhiều mảnh. (Hình 1.3). ~-■ 646
  10. Hình L l: Quá trình huỷ khoáng diễn ra Hình 1.2: Tinh thể hyđroxyapatite bị hòa tan theo trục c của trụ men [ 12 ]. tại vùng trung tâm theo hình ỉục lãng [ 12 ]. Hình 1.3: Sự hoà lan thường diễn ra theo trục c. a, b, c diễn tả 3 giai đoạn liên tiếp của sự huỷ khoáng ở tinh thể OHA. [12] 1.2.2 Quá trình tải khoáng hoá Quá trình tái khoáng hoá (ten Cate JM, Arends J, 1977) là một quá trinh bù đắp cho huỷ khoáng, khi độ pH của môi trường gần bề mặt tinh thể OHA trở về trung tính hoặc kiềm, các ion Ca2+ và PO 43' từ nước bọt và mảng bám tập trung với số lượng lớn trên bề mặt men răng và tham gia vào quá trình tái khoáng hóa. Calcium phosphate trong thành phần khoáng ít ổn định nhất phát triển theo hướng ổn định hơn, trong thương tổn sâu răng phosphate dicaỉcique có thể được biến đổi thành apatite theo phản ứng sau: 6CaHPƠ 4 + 4Ca2+ + H20 C a 10(PO4)6(OH )2 + m + Mửc độ tái khoáng hóa phụ thuộc vào nồng độ ion Ca2+ và PO 43" tại chỗ và pH của môi trường miệng. Quá trĩnh này diễn ra dễ dàng hơn khi có mặt cùa ion fluor. Hiện tượng huỷ 647
  11. khoáng - tái khoáng hoá giống nhau ở cả men, ngà và cément. Tuy nhiên sự khác biệt trong cấu trúc mô học và trong thành phần hữu cơ của răng sẽ thay đổi một cách đáng kể bản chất và tiến trình thương tổn sâu răng. Quá trình tái khoáng hóa có thể quan sát được trên lấm sàng khi một thương tổn sớm dạng “đốm ưắng” (Hình 1.4) dừng lại và chuyển thành thương tổn bất hoạt có màu nâu (Hình 1.5), thậm chí biến mất hoàn toàn. Hiện tượng này thường thấy khi môi trường miệng trở về trạng thái cân bằng, khi nha sĩ sử dụng các biện pháp để ỉoại bỏ mảng bám, fluor hoá tại chồ và các biện pháp tái khoáng hoá. Hình 1.6: Hình ảnh lớp men được tái khoáng hoá [12] Quá trình huỷ khoáng - tái khoáng hoá được tóm tắt bằng sơ đồ sau: a- Men răng nguyên vẹn b- Vùng huỷ khoáng
  12. c- Dưới tác động thường trực của acide, vùng huỷ khoáng mở rộng ra và phá huỷ tinh thể trụ men d- Tái khoáng nhờ vào sự hình thành các tinh thể mới đo tác động của fhior. Hình 1.7: Sơ đồ hủy khoáng - tái khoáng (Silverstone etal, 1981) 1.3 CÁC YẾU TỐ TẢC BỘNG ĐÉN TIẾN TRÌN H SÂƯ RĂNG Mô hình giải thích nguyên nhân gây sâu răng được trình bày lần đầu tiên bởi Keyes vào năm 1960, gồm có 3 nhân tố cơ địa, hệ vi sinh vật và chế độ dinh dưỡng. Nhân tố thời gian đã được Newbrun thêm vào mô hình năm 1978. Trên thực tế thì 3 nhân tố đó phải được diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định thì sâu răng mỏfi có thể phát triển (Newbran, 1983). (Hình 1.8). Sâu răng chỉ biểu hiện khi cỏ mặt tất cả những nhân tố ở trên. Ngược lại, nó trở nên bất hoạt khi thiếu chỉ một nhân tố [22]. Vệ sinh răng m íệĩìs Các loại đưòrns c h ê đ ộ đinh đường Vi ki Streptococcus mutans Thời gian Lactobaâllus Sâu a u tr e s ... C ơ d ịa Fluor Men răng^iước bọt 649
  13. Hình í.8: Biểu đồ Keyes sửa đổi [22] Theo một khái niệm hiện đại hơn, sâu răng phụ thuộc cả vào các điều kiện kinh tế - xã hội cũng như yếu tó tâm lí và sinh học (Charland, 200Ỉ) (Hình 1.9). Điều đócho phép phân biệt3 nhóm nhân té tác động đến quá trình sâu răng dựa trên mức độ ảnh hưởng của nó như sau: -Những nhân tố liên quan trực tiếp đến sự phát triển của sâu răng -Những nhân tố liên quan đến môi trường miệng -Những nhân tố gắn liền với từng cá thể Hình 1.9: Những nhân tố có mặt trong căn nguyên bệnh sâu răng [28] 650
  14. 1.3.1 N hững nhân tỗ liên quan trự c tiếp đến sự p h ảt triển sâu răng Gồm những thành phần sau: - Cơ địa : Men và ngà răng (hình thể, cấu trúc, độ dày, độ khoáng hỏa), nước bọt (thành phần, lưu lượng nước bọt tiết ra) - Hệ vi sinh vật trong màng sinh học (thành phần, sự có mặt của các vi khuẩn gây sâu răng) - Chế độ dinh dưỡng (hấp thụ số lượng lớn với tần suất cao các loại đường dễ bị Jêỉ2 men) 1.3.2 N hững nhân tố Hên quan đến môi trường miệng a. M àng sỉntỉ học Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn gây nên bởi các vi khuẩn sâu răng, cư trú trên bề mặt răng và tạo thành lóp màng sinh học thường được gọi là mảng bám. Sự hủy khoáng trên các mô khoáng của răng xảy ra do các acide hữu cơ sản sinh ra sau quá trình chuyển hóa đường của vi khuẩn trong mảng bám. Rất nhiều loài vi khuẩn trong nước bọt và trong mảng bám được cho là có liên quan tới bệnh sâu răng, nhưng có 3 chỉ vi khuẩn có khả năng gây bệnh lớn nhất, đó là chi Streptocoque (chiếm 50% số lượng vi khuẩn trong mảng bám), Lactobaciile (20%) và Actinomyce (2%). Loài S.mutans nồi trội nhất trong số các loài vi khuẩn gây sâu răng có mặt trong mảng bám, đóng vai ưò trong việc khởi nguồn và phát triền tiến trình sâu răng do khả năng sử dụng đường saccharose tốt [4]: - Lấy năng lượng từ đường saccharose cung cấp cho quá trình sinh trưởng và gia tăng số lượng - Chuyển hóa đường saccharose thành các sản phẩm polysaccharide ngoại bào - Chuyển hóa đường saccharose để sản sinh ra các aciđe hữu cơ với số lượng lớn (nguyên nhân gây sâu răng), trong đó có acỉde ỉactique ăn mòn men răng. Khả 651
  15. năng này của S.mutans nhanh hơn rất nhiều so với các vi khuẩn khác cùng chi Streptocoque có mặt trong mảng bám. - Có khả năng sống sót và tiếp tục hoạt động chuyển hóa các chất trong môi trường có tính aciđe cao, khi mà phần lớn các loài vi khuẩn khác bị bất hoạt Các vi khuẩn thuộc chi Lactobacille có khả năng sinh trưởng trong môi trường pH thấp, với sự cỏ mặt của các chất dinh dưỡng phức tạp như acide amine, peptide, vitamine và các acide béo. Các ioài thường gặp nhất khi phân lập là Lactobacillus acidophilus, Lactobacillus casei, Lactobacillus oris, Lactobacillus salivarius. Lactobacille bám dính kém vào các bể mặt nhẵn, người ta thường gặp trong các hố rãnh nghèo oxy. Ở một sâu răng mới hình thành, tỉ lệ mật độ latobacille so với strepíocoque là 1:4, sau đó nhanh chóng trở nên cân bằng sau 4 tuần. Sự gia tăng số lượng của lactobacille trong các lóp dưới cùng của sâu răng đi kèm với sự giảm số lượng của S.mutans và Actinomyce [17]. Nhiều loài actinomyce tham gia vào quá trình hình thành mảng bám nhờ vào khả năng bám dính tốt của nó trên bề mặt răng, thuận lợi cho sự gia táng mảng bám. Các loài như A.naeslundil và A.odontolyticus là những loài tiên phong trong số các vi khuẩn có mặt trên màng bám mới hình thành. b. Chế độ dinh dưỡng Chế độ đinh dưỡng bao gồm các ỉoại thực phẩm có khả năng gây sâu răng và các loại thực phẩm kiểm soát sâu răng. Trong số 3 dạng thực phẩm chính thì các protiđes có tính chống sâu răng, ỉipiđes không có khả năng gây sâu răng còn glucides có khả năng gây sâu răng do bị chuyển hỏa bởi các vi khuẩn tạo nên các acides hữu cơ [17]. Tuy nhiên không phải loại đường nào cũng có khả năng gây sâu răng giống nhau. Đường saccharose bị coi ỉà có khả năng gây sâu răng lớn nhất do: - Là loại đường thông dụng nhất được con người sử dụng - Dễ dàng bị lên men thành acides hữu cơ bởi các vi khuẩn có ữong mảng bám - Thuận lợi cho việc cư trú của vi khuẩn trong miệng 652
  16. - Làm gia tăng mảng bám do được sử dụng để sản sinh ra các polysaccharides Ị ngoại bảo của vi khuẩn ) Nhiều ỉoại đường khác cùng có khả năng gây sâu rang như đường glucose, maỉtose, .....ị fructose và ngay cả đường amidon trong thực vật cũng cỏ nguy cơ cao khi bị nấu chín. Sự thủy phân đường amidon trong quá trình nấu sẽ cắt nhỏ các phân tử đường làm nó dễ bị phân hủy. Hon nữa việc nấu chín làm amidon trở nên dính khi tiếp xúc vói nước bọt, tăng cường nguy cơ gây sâu răng [13]. Ị 'ị Gustafsson và cộng sự năm 1954 [15] đã thực hiện một nghiên cứu lâm sàng bằng cách gây sâu răng ừên một tập hợp các bệnh nhân thiểu năng trí tuệ. Nghiên cửu của các tác giả ị Thụy Điển này (thường được gọi là nghiên cứu Vipeholm) tuy không phù hợp về đạo đức nhưng cũng đã cho phép đánh giá tác động đến bệnh sâu răng của tần suất sừ dụng đường ngoải các bữa ăn chính- Các gluciđes được hấp thụ với số lượng ỉớn trong các bữa ăn không gây tổn hại nhiều đến răng, trong khi việc hấp thụ thường xuyên đường trong ngày ị (qua việc ăn vặt...), ngay cả với số lượng nhỏ cững gây nên những thương tồn không thể 'ỉ hồi phục. Trên thực tế, việc sản sinh liên tục các acides bởi vi khuẩn làm cho tính đệm của Ị nước bọt không thể trung hòa kịp. Độ pH trong miệng luôn giữ ở mức thấp dưới 5,5 là điều kiện thuận lợi cho quá trình hủy khoảng và sự phát triển của mảng bám gây sâu răng. Ị Stephan vào năm 1940 cũng đã từng đưa ra đường cong biểu diễn độ pH giảm xuống ngưỡng ăn mòn do mảng bám sau khi thực hiện thí nghiệm cho bệnh nhân súc miệng bằng dung dịch chứa 10% glucose [29] (Hình 1.10). 653
  17. Hình 1.10: Đường cong Stephan. Sự thay đổi pH sau khi súc miệng bằng dung dịch 10% Glucose [17] Ngoài bản chất và tần suất hấp thụ của đường, kết cấu của dạng thức ăn chứa đường, dính hay không dính, dạng cứng hay dạng lỏng, cũng ảnh hưởng đến thời gian tiếp xúc cũng như khả năng lưu giữ trên răng (Mundorff et a ỉ 1990, Lingstrom et aỉ., 2000). Thời điểm sử dụng đường cũng rất quan trọng do nước bọt giúp trang hòa và rửa trôi acides của mảng bám được tiết ra nhiều vào bữa ăn hơn là giữa các bữa ăn, nhiều vào ban ngày hơn ỉà ban đêm [6]. Các ỉoại thực phẩm làm giảm hoặc kìm hãm các phản ứng của đường hay ngăn ngừa sự hình thành mảng bám được coi có tính bảo vệ răng. Những chất kìm hãm tự nhiên sự hủy khoáng có mặt trong nhiều loại thực phẩm, như acide phytique trong ngũ cổc, acide giycyrrhizinique ừong cam thảo và một sổ chát chưa được định danh trong cacao. Những chất này đễ bị loại bỏ trong quá trình tinh chế thực phẩm. Ngoài ra các hiệu ứng có lợi còn được tìm thấy trong phomai do hàm iượng calcium và phosphate cao [8]. Các loại chất ngọt thay thế đường cũng làm giảm nguy cơ sâu răng như đường xylitol, sorbitol.
  18. Nước bọt đóng vai trò bảo vệ chính chống ỉại các tác nhân có hại của vi khuẩn gây sâu răng. Cân bằng động giữa hủy khoáng và tái khoáng hóa phụ thuộc phần lớn vào thành phần và lượng nước bọt được tiết ra. Nước bọt cỏ thành Dhần chủ yếu từ nước, các chất điện giải, các proteine và gỉycoproteine. Nước bọt bảo vệ chúng ta khỏi sâu răng bằng bốn cách. Đầu tiên nước bọt trung hòa và rửa trôi các mảng thức ăn còn lại ứên kẽ răng hoặc trong các hố rãnh ưên mặt nhai. Thứ hai nước bọt đóng vai trò lớp đệm trung hòa các acides sản sinh bởi các vi khuẩn trong mảng bám. Nước bọt còn có tính kháng khuẩn nhờ vào các immunoglobuHne IgA, các enzyme như iysozyme, catalase, lactoperoxydase và các enzyme khác [20]. Cuối cùng nước bọt có nồng độ ion calcium và phosphate cao tham gia vào quá trình tái khoáng hóa [7]. Nước bọt đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe răng miệng được biểu lộ trên những bệnh nhân có lưu ỉượng nước bọt giảm do bệnh lí, điều trị xạ tộ hoặc do đùng thuốc. 1.3.3 Những nhân tố gắn liền với tù n g cả thể Những nhân tố ở vị trí thứ ba này không thể bị xem nhẹ vì nỏ quyết định tới thái độ của bệnh nhân trước các vấn đề về sức khỏe răng miệng, động lực và khả năng hợp tác với nha sĩ. Nó bao gồm các yếu tố về kinh tế - xã hội, về thu nhập, về quyền lợi bảo hiểm y tế, về kiến thức chăm sóc răng miệng, trình độ giáo dục, thỏi quen sống (nghiện thuốc lá, rượu) và cuối cùng là về thói quen ăn uống. Khi những yếu tố trên mang tính tiêu cực, nguy cơ sâu răng tăng lên rõ rệt. Những bệnh nhân sợ phải đến nha sĩ, những người Gần được chăm sóc đặc biệt, người già, phạm nhân là những người nằm trong nhóm nguy cơ cao mắc các bệnh về răng miệng. Cuối cùng, những người bẩm sinh mang gene nguy cơ cao về sâu răng cũng không thể bị loại trừ. Điều đó có thể giải thích lí do một số người dễ đàng bị sâu răng mặc dù họ không có các yếu tố nguy cơ, trong khi một số khác ít bị sâu răng hơn mặc dù mức độ phơi nhiễm cao (AI-Hashimi et a i , 2006; Deeley et al., 2007). 1.4 CHỈ SỎ SMT, SIC VÀ CÁC NGHIÊN c ứ u ĐỊCH TỄ HỌC TRỀN THẾ GIỚI ❖ C hỉsốSM T 655
  19. Chỉ sổ SMT (hay DMFT trong các tài liệu tiêng Anh hoặc CAOD trong tài liệu tiếng Pháp) được hoàn thiện bởi Klein và Paỉmer vào năm 1938 [18] và được sử dụng kể từ đó bởi OMS trong các nghiên cứu dịch tễ về bệnh sâu răng. Cách tỉnh SMT như sau: Số răng bị sâu (S) + số răng mất (M) + số răng được trám (T) SMT chi dùng để tính trên các răng vĩnh viễn, không tính trên các răng khôn. Không tính 2 ỉần cho cùng một răng nếu răng đó được trám nhưng xuất hiện sâu răng ở vị trí khác. Cho từng cá thể, SMT = s + M + T. Giá trị của nó là từ 0 < SMT < 32 Trong một quằn thể, Giá trị trung bình SMT = TSng giitrlS M T cùattegcithg Qua các đữ liệu thu thập được từ các công trình nghiên cứu trên nhiều quốc gia, OMS đã lần đầu tiên đưa ra biểu đồ về tình trạng bệnh sâu răng trên trẻ em 12 tuổi vào năm 1969 (Hình 1.11). .T— r ^ -T-------------------------------- ,r ^ r ~ T[--- T ^ r ..... 1880 m m :m -m m m? m m « m m « m m ím m m ệ | ----------- C ầ c ,m m ỹ H tiĩ ổ tt ĩk m c & m m ■ á ụ ồ é '$ « £ phát-t ó i n
  20. Hình 1.11: Đường biểu diễn chỉ số SMT các nước có xu hướng hội tụ [24] Nếu như nhưng năm 70 thể hiện sự cách biệt rõ ràng về chỉ số SMT ở trẻ 12 tuổi (chỉ số SMT ở các nước phát triển lớn hơn các nước đang phát triển 3 lần) thì vào cuối những năm 90 các chỉ số này hội tụ trong khoảng giá trị từ 2 đến 3. Sự suy giảm về chỉ số này được gắn liền với nhiều yếu tố (Peterson, 1996; Gibbons, 1996). Ở các nước phát triển đã có sự cải thiện về hiểu biết và thói quen của người dân trong việc chăm sóc răng miệng, nhất là việc sử dụng fluor trong nước uống và trong kem đánh răng giúp làm giảm tần suất bệnh sâu rang trong dân số (Konig KG, 2004; Marthaler, 2004; Brown, 1995). Bên cạnh đó ở các nước đang phát triển, thói quen sử dụng đường tăng lên đi kèm với việc bệnh sâu răng ngày càng phổ biến. Năm 1981, OMS et FDI đã đặt ra 2 mục tiêu cho năm 2000 [24]: - C hỉ số SM T < 3 ở trẻ 12 tuổi - 50% số trẻ 5 tuổi không có răng nào bị sâu Những dữ liệu thu thập được vào năm 1990 và 1995 ở 28 nước Trung Âu cho thấy chỉ số SMT trung bình là 2,4 ở trẻ 12 tuổi. Vào năm 2000, chỉ có 51% trong tổng số 107 nước có dữ liệu đạt được mục tiêu của OMS [24] (Hình 1.12). Năm 2004, chỉ số SMT trung bình trên trẻ 12 tuổi của 188 quốc gia là 1,61, với 74% số quốc gia cỏ chỉ số nhỏ hơn hoặc bằng 3 [23- Cho năm 2020, OMS và FDI đặt ra mục tiêu mới như sau 119]: - Chỉ số SMT < 1,5 ở trẻ 12 tuổi 657
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2