intTypePromotion=3
Array
(
    [0] => Array
        (
            [banner_id] => 140
            [banner_name] => KM1 - nhân đôi thời gian
            [banner_picture] => 964_1568020473.jpg
            [banner_picture2] => 839_1568020473.jpg
            [banner_picture3] => 620_1568020473.jpg
            [banner_picture4] => 994_1568779877.jpg
            [banner_picture5] => 
            [banner_type] => 8
            [banner_link] => https://tailieu.vn/nang-cap-tai-khoan-vip.html
            [banner_status] => 1
            [banner_priority] => 0
            [banner_lastmodify] => 2019-09-18 11:11:47
            [banner_startdate] => 2019-09-11 00:00:00
            [banner_enddate] => 2019-09-11 23:59:59
            [banner_isauto_active] => 0
            [banner_timeautoactive] => 
            [user_username] => sonpham
        )

)

Báo cáo tổng kết: Đề tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi

Chia sẻ: Minh Minh | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:51

0
161
lượt xem
41
download

Báo cáo tổng kết: Đề tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Báo cáo tổng kết: Đề tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi nhằm mục tiêu đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 -2010. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở miền núi. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 -2015.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Báo cáo tổng kết: Đề tài Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi

  1. UBND TỈNH QUẢNG NGÃI ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NGÃI BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ Tên đề tài: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI Chủ nhiệm đề tài: TS. Võ Tuấn Nhân Quảng Ngãi, 2011
  2. PHẦN I. MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi, ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, dự án và tổ chức triển khai thực hiện trên các lĩnh vực trong nhiều năm qua, đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo cơ sở cho sự phát triển. Ngân sách nhà nước đầu tư khá lớn cho khu vực miền núi. Tuy nhiên, kinh tế - xã hội tại miền núi vẫn còn rất nhiều khó khăn, bất cập. Đối với tỉnh Quảng Ngãi, nhiều năm qua Đảng bộ, chính quyền các cấp cũng rất quan tâm đến đầu tư cho miền núi và chắc chắn trong nhiều năm đến sẽ có sự đầu tư lớn cho phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi. Một thực tiễn rất đáng quan tâm là: có nhiều chương trình, dự án triển khai thực hiện ở miền núi với tổng số vốn đầu tư lớn, nhưng sau khi kết thúc, tính ổn định, phát huy không được giữ vững hoặc hiệu quả thấp. Do vậy, cần phải có sự đánh giá khoa học, khách quan về hiệu quả các chương trình, dự án đầu tư cho miền núi, đánh giá việc tổ chức thực hiện sao cho đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của chương trình, dự án được triển khai thực hiện trên địa bàn miền núi. Tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi Quảng Ngãi có nhiều kết quả, nhưng chuyển biến chưa mạnh, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và yêu cầu của quản lý. Cơ chế chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã có, nhưng trong giai đoạn hiện nay cần tập trung nhiều hơn nữa cho miền núi, nhất là việc nghiên cứu, triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP để giảm nghèo nhanh và bền vững. Vấn đề này cần phải có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học để đề xuất một số giải pháp đồng bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển miền núi trong sự phát triển chung của tỉnh. Từ trước đến nay, hàng năm các cơ quan nhà nước đều có các báo cáo đánh giá chung tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi Quảng Ngãi và đề ra nhiệm vụ thực hiện cho năm sau. Những báo cáo này phần nào đã phản ảnh thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chưa có điều kiện để thực hiện dưới góc độ một đề tài khoa học. Để đánh giá đúng thực trạng tình hình triển khai thực hiện các chương trình, dự án, chúng ta cần phải dựa trên các phương pháp khoa học, khách quan để xem xét về những vấn đề liên quan, đề xuất những giải pháp khả thi để tổ chức thực hiện hiệu quả hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi trong thời gian đến một cách nhanh và bền vững. Với những lý do chính yếu nêu trên nói lên sự cần thiết để tiến hành nghiên cứu đề tài này. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu của đề tài là:
  3. Đánh giá thực trạng tình hình tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn 2006 - 2010. Qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở miền núi. Đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015. Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài có nhiệm vụ: Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về sự phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực đầu tư ở miền núi. Xác định một số nhiệm vụ trọng tâm phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015. Đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. 3. Phương pháp nghiên cứu Về phương pháp luận, đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp luận chủ yếu của đề tài là lý luận Mác-xít được sử dụng trong toàn bộ nội dung của đề tài. Chủ nghĩa duy vật biện chứng giúp nhìn nhận mọi sự vật và hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến và chúng luôn vận động, biến đổi, phát triển không ngừng. Trên cơ sở quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển để xem xét và phân tích nội dung nghiên cứu của đề tài. Vận dụng các quan điểm này để làm cơ sở cho việc xem xét các sự kiện xã hội và quá trình phát triển của xã hội, mà cụ thể là kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, đề tài chủ yếu vận dụng hướng tiếp cận của Lý thuyết cấu trúc - chức năng, Lý thuyết phát triển, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình thực hiện đề tài. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài được trình bày ở mục 1.1 Chương 1 báo cáo này. Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu cụ thể là: Thu thập, phân tích tài liệu: Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên quan đã có từ các cơ quan Trung ương, ở tỉnh, 06 huyện miền núi trong tỉnh. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Sử dụng bảng hỏi được thiết kế phù hợp cho nội dung cần nghiên cứu (xem Phiếu khảo sát - Phụ lục 01). Số lượng mẫu là 1.000 phiếu, được điều tra tại tất cả 06 huyện miền núi trong tỉnh. Việc xử lý và phân tích số liệu phiếu điều tra được thực hiện bởi sự trợ giúp của máy vi tính, bằng phần mềm SPSS-11.5. Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung: Thực hiện với các đối tượng chủ yếu là cán bộ các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể cấp xã, cấp huyện, tỉnh và một số công dân tại các huyện miền núi. Phương pháp quan sát, được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu đề tài. 4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu đề tài
  4. Như tên gọi của đề tài được giao nhiệm vụ là:“Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng ngãi”, và được giới hạn trong mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên. Thời gian và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu còn hạn chế. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu “đánh giá thực trạng” ở đây cũng chỉ đi sâu vào một số lĩnh vực mà đề tài đặt ra. Các giải pháp đề xuất cũng trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài. 5. Ý nghĩa của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bám sát mục tiêu, nhận diện được những thành công, bất cập trong một số chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi trong thời gian qua; đề xuất các giải pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015. Vì vậy, đây là luận cứ khoa học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của tỉnh và trong việc thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội miền núi nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước. Đề tài góp phần quan trọng trong việc làm rõ thực trạng, đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học, sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi nhanh và bền vững. Vì vậy, đề tài có giá trị thực tiễn, giải quyết vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa lâu dài, đồng thời góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận, nhận thức sâu sắc hơn các vấn đề liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội miền núi. 6. Kết cấu của đề tài Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài được thể hiện trong ba chương: Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2. Đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội tại các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi. Chương 3. Các giải pháp góp phần phát triển kinh tế-xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi.
  5. PHẦN II. NỘI DUNG ĐỀ TÀI Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ 1.1. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài Trong phạm vi của đề tài, các tác giả tập trung tìm hiểu, vận dụng một số lý thuyết: “Cấu trúc - chức năng”, “Lý thuyết phát triển”, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta có liên quan để nghiên cứu đề tài. 1.1.1. Vận dụng Lý thuyết cấu trúc - chức năng Lý thuyết cấu trúc - chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội học nổi tiếng như: H. Spencer, E. Durkheim, T. Parsons, là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích xã hội học. Lý thuyết này nhấn mạnh đến những đóng góp chức năng của mỗi bộ phận trong xã hội để duy trì cấu trúc cũ, giúp ta vận dụng xem xét cấu trúc kinh tế - xã hội một vùng, một khu vực nhất định (mà ở đây là khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi). Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng giúp ta nhìn nhận: Xã hội là một hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự ổn định bền vững của tổng thể. Để giải thích tồn tại của một thiết chế xã hội, chúng ta phải tìm hiểu hệ thống xã hội, như một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó phải được thoả mãn như thế nào. Bởi vì chỉ trong một trạng thái như vậy thì mới bảo đảm cho các chức năng hoạt động mà xã hội luôn trong trạng thái cân bằng. Do vậy, khi xem xét về thực trạng và giải pháp triển kinh tế - xã hội miền núi, chúng ta cần thấy được các chức năng mới xuất hiện và có những chức năng cũ sẽ bị triệt tiêu vì không có cơ sở để tồn tại dẫn đến sự biến đổi về kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư khu vực miền núi. Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng phân tích nội dung đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi”; nhằm thấy được cơ cấu mới của cơ cấu xã hội cũng như chức năng bộ phận của cơ cấu ấy trong phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Sự tác động của các bộ phận mới với các chức năng mới sẽ tạo cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của xã hội và dẫn đến sự biến đổi xã hội của cộng đồng dân cư, trong đó cộng đồng dân cư khu vực nghiên cứu cũng nằm trong mối quan hệ chung đó. 1.1.2. Vận dụng Lý thuyết phát triển Lý thuyết phát triển được nhiều nhà khoa học quan tâm và vận dụng nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội. Nhưng có rất nhiều quan điểm khác nhau khi nói đến thuật ngữ “phát triển”. Có quan điểm coi phát triển và tăng trưởng có cùng nội dung. Chúng ta không thể hiểu phát triển như là một hiện tượng kinh tế mà phải được xem như là toàn bộ quá trình bao gồm các đặc điểm kinh tế - chính trị - xã hội và văn hoá. Trên quan điểm về kinh tế - xã hội, phát triển giúp cho con người hướng tới một cuộc sống đầy đủ hơn, giàu có hơn. Lý thuyết về sự phát triển hiện nay đang có xu hướng giảm bớt những vấn đề thuần tuý có tính kinh tế. Lý thuyết phát triển ngày nay chú ý nhiều hơn các vấn đề phi kinh tế trong quá trình phát triển, về lĩnh vực văn hoá, xã hội... Do đó, phát triển xã hội không còn đồng nhất với tăng trưởng kinh tế mà là sự phát
  6. triển một cách tổng thể. Với yêu cầu như vậy, khi vận dụng Lý thuyết phát triển vào nghiên cứu đề tài đòi hỏi chúng ta phải xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu trên cơ sở của lý thuyết phát triển hiện đại. 1.1.3. Quan điểm của Đảng và Nhà nước Tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới phát triển đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010; Cùng với những chủ trương, đường lối phát triển chung của đất nước, công tác Dân tộc và miền núi luôn được Đảng và Nhà nước xác định có vị trí chiến lược quan trọng. Kế thừa và phát huy kết quả sau 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước chuyển biến quan trọng. Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của miền núi và đã có rất nhiều chủ trương lớn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện phát triển kinh tế-xã hội trong nhiều năm qua. Những năm gần đây, trong các Nghị quyết của Đảng và Nhà nước đều rất quan tâm và có chủ trương đầu tư ngày càng nhiều cho miền núi. Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo, với quan điểm xoá đói giảm nghèo là chủ trương lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân. Phải huy động nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của từng dịa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông nghiệp để xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) xác định:... Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất lượng dân số của đồng bào các dân tộc thiểu số.Chú trọng phát triển hạ tầng kinh tế, xã hội. Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng đã xác định nhiệm vụ trong 5 năm tới đối với vùng trung du, miền núi. Phát triển kinh tế - xã hội hài hoà giữa các vùng, đô thị và nông thôn. Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng với tầm nhìn dài hạn, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa phương trong vùng; ...Tăng cường chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã có nhiều chủ trương để phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Tỉnh ủy khóa XVII đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU Về phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi 2006-2010; Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 17/2007/NQ-HĐND ngày 16/7/2007 nhằm cụ thể hoá Nghị quyết trên và Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây dựng , ban hành Quyết định số 295/QĐ-UBND ngày 28/02/2008 Về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi của tỉnh đến năm 2010để triển khai thực hiện. 1.2. Điều kiện tự nhiên và dân cư
  7. 1.2.1. Điều kiện tự nhiên Miền núi tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nằm giữa hai trung tâm kinh tế lớn là Thành phố Đà Nẵng và Thành phố Quy Nhơn trong trục kinh tế trọng điểm của Miền Trung, là cửa ngõ nối liền giữa Miền Trung với Tây Nguyên và vùng Hạ Lào qua Quốc lộ 24A và là cầu nối Bắc - Nam với nước ngoài qua tuyến giao thông Thủy - Bộ. Với vị trí địa lý trên đã tạo cho Quảng Ngãi những yếu tố thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong nước và nước ngoài. Là một địa bàn chiến lược quan trọng về quân sự, là căn cứ địa cách mạng gắn liền với lịch sử chống áp bức giai cấp và chống ngoại xâm của nhân dân Quảng Ngãi. - Về khí hậu, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa nóng (từ tháng 3 đến tháng 8); mùa mưa (từ tháng 9 đến tháng 12) và được phân theo ba tiểu vùng khí hậu. - Về địa hình, có nhiều rừng núi trùng điệp. Vùng núi thấp: Có độ cao từ 300 - 700m, phân bố thành dãy núi hẹp, chạy dọc theo hướng Bắc - Nam, lượn vòng theo các cánh cung của dãy Trường Sơn, độ dốc trung bình 200 - 250. Vùng thung lũng và gò đồi: Có độ cao dưới 300m so với mặt nước biển, độ dốc dưới 150. Vùng địa hình núi trung bình và núi cao tập trung phần lớn ở phía Tây; địa hình được chia thành nhiều bậc có độ cao trung bình trên 700m, độ dốc trên 250, địa hình chia cắt mạnh có nhiều núi cao. - Về đất đai, có 6 loại đất chính: Nhóm đất phù sa suối (P): Diện tích 9.470ha chiếm 2,93% diện tích toàn vùng; Nhóm đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): Diện tích 97.190,2ha, chiếm 30,04% diện tích toàn vùng; Nhóm đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): Diện tích 93.555,5ha, chiếm 28,92% diện tích; Nhóm đất dốc tụ (D): Diện tích 5.608ha, chiếm 1,73% tổng diện tích; Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FL): Diện tích 3.059ha, chiếm 0,94% tổng diện tích; Đất mùn trên núi cao (H): Diện tích 114.668,3ha, chiếm 33,44% tổng diện tích toàn vùng. - Về nguồn nước: Hệ thống sông suối tỉnh Quảng Ngãi đều được bắt nguồn từ những vùng núi cao của các huyện miền núi đổ vào các con sông lớn như Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu… Đặc tính của các con sông này là ngắn, dốc và lưu lượng dòng chảy lớn, nên thường gây ra lũ lụt vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô. - Về tài nguyên rừng: Nhìn chung thực vật rừng khá phong phú, trong tổng số 560 loài được phát hiện được, có 19 loài quý hiếm được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. Núi rừng Quảng Ngãi là kho tài nguyên phong phú về lâm thổ sản với nhiều loại gỗ quý như: lim, giổi, sao cát, vênh vênh, chò, trắc, huỳnh đàng, kiền kiền, gõ. Ngoài gỗ, rừng Quảng Ngãi còn có nhiều loại cây thuốc như sa nhân, hà thủ ô, thiên niên kiện, ngũ gia bì, sâm; các loại cây có sợi, cây có dầu, trầm hương, cây lấy nhựa và các loại cây lấy nấm. Cây quế là đặc sản nổi tiếng với diện tích rộng, sản lượng lớn.Về động vật, có trên 478 loài động vật, trong đó có 76 loài thú, 308 loài chim, 65 loài bò sát và 29 loài ếch nhái. Có 55 loài quý hiếm được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. - Về tài nguyên khoáng sản: Đá xây dựng có ở nhiều nơi, nhất là ở Trà Bồng; Nước khoáng Thạch Bích ở Trà Bồng; Wolfram ở Minh Long; vàng, đồng, kẽm có ở Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ...
  8. Khu vực miền núi Quảng Ngãi có nhiều địa danh có thể khai thác phục vụ du lịch như núi Cà Đam huyện Trà Bồng, Hồ chứa nước Nước Trong, Khu căn cứ địa cách mạng Ba Tơ và di tích quốc gia Trường Thành… 1.2.2. Dân cư - Dân tộc Khu vực miền núi có diện tích chiếm 3.245 Km2, dân cư hiện nay có 200.783 người, mật độ dân cư là 61,87 người/km2. Miền núi Quảng Ngãi có các dân tộc Kinh, Hrê, Cor, Ca Dong sinh sống. Các dân tộc thiểu số là cư dân bản địa lâu đời, sống theo từng khu vực và có sự đan xen nhất định, có sự giao lưu, buôn bán với nhau và với người Kinh ở miền xuôi lên buôn bán, khai khẩn. Nói đến dân cư, dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi chủ yếu là các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong và Kinh. Người Kinh cư trú chủ yếu ở các thị tứ, thị trấn các huyện miền núi, một số ít sinh sống đan xen với người dân tộc thiểu số. Khu vực miền núi, dân tộc Kinh có 50.579 người, chiếm tỷ lệ khoảng 25,2%. Người Kinh ở miền núi Quảng Ngãi còn giữ khá đầy đủ các hình thức canh tác, phong tục tập quán như ở miền xuôi. Người Hrê ở miền núi Quảng Ngãi có 107.171 người, chiếm tỷ lệ 53,4%. Người Hrê cư trú tập trung ở các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long. Các làng Hrê đan xen với người Ca Dong ở địa bàn phía Đông huyện Sơn Tây và sống đan xen với người Cor ở các xã phía Nam của huyện Trà Bồng. Người Cor có số dân đông thứ hai trong các dân tộc thiểu số, sau dân tộc Hrê. Người Cor ở miền núi Quảng Ngãi có 26.643 người, chiếm tỷ lệ 13,4%. Dân tộc Cor sống chủ yếu ở các huyện Trà Bồng, Tây Trà. Người Ca Dong có số dân đông thứ ba trong các dân tộc thiểu số, sau dân tộc Hrê, Cor. Người Ca Dong ở miền núi Quảng Ngãi có 15.940 người, chiếm tỷ lệ gần 8,0%. Địa bàn cư trú của người Ca Dong phân bố chủ yếu ở các huyện Sơn Tây, sau đó là Sơn Hà, Tây Trà. Các dân tộc thiểu số Quảng Ngãi cùng nằm trong một khu vực lịch sử - dân tộc học, có chung một vận mệnh lịch sử lâu đời, đã cùng nhau tham gia vào những cuộc đấu tranh chống áp bức, bóc lột của các triều đại phong kiến và xâm lược. Đặc biệt, sống trong vùng thiên nhiên phong phú, đa dạng nhưng vô cùng khắc nghiệt, đồng bào các dân tộc miền núi đã xây dựng nên truyền thống đoàn kết, gắn bó cùng nhau để sinh tồn. Các mối liên hệ chặt chẽ về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc đã có từ lâu đời. Nhưng mỗi tộc người đều có những đặc điểm riêng. Về kinh tế, quan hệ mua bán, trao đổi giữa các dân tộc thực hiện bằng nhiều hình thức, đã được xác lập từ lâu đời. Đồng bào trao đổi với nhau các công cụ lao động như dao, rựa, những sản vật từ săn bắt, hái lượm được hoặc những đặc sản như quế, trầu, cau, chè... Mối quan hệ giao lưu kinh tế đó diễn ra không chỉ trong nội bộ tộc người mà còn diễn ra giữa các tộc người cận cư, đặc biệt là với người Kinh để trao đổi, mua bán các sản phẩm và nhu yếu phẩm cần thiết cho cuộc sống. Về ngôn ngữ, mỗi dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi thường không chỉ nói ngôn ngữ mẹ đẻ, mà còn biết tiếng nói các dân tộc láng giềng. Vì cùng chung hệ ngôn ngữ Môn - Khơme nên các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong rất dễ dàng hiểu
  9. tiếng nói của nhau. Hiện nay, sự giao lưu văn hóa, mối quan hệ giữa các dân tộc miền núi Quảng Ngãi ngày càng được củng cố và phát triển về mọi mặt, phù hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của bà con các dân tộc miền núi trên con đường hội nhập đi lên xây dựng cuộc sống mới. II. THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI 1.1. Khái quát chung về thực trạng kinh tế - xã hội Nhìn chung, kinh tế các huyện miền núi đang trong quá trình thoát ra tình trạng tự cấp tự túc, từng bước tiếp cận thị trường. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 chậm, tăng 13,66%, trong đó N-L-TS tăng 10,25%; CN-XDCB tăng 22,39%; Dịch vụ tăng 18,97%. Tổng giá trị sản xuất toàn vùng (theo giá 1994) năm 2006 đạt 688.904 triệu đồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng. Về cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành N-L-TS giảm dần. Tỷ trọng CN-TTCN tăng chậm. Dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp nhưng cáo xu hướng tăng dần. Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng, năm 2010 đạt 27,831 tỷ đồng, tuy nhiên còn rất nhỏ. Mức thu này chưa thể có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế của các huyện trong vùng mà chủ yếu dựa vào sự hỗ trợ ngân sách của cấp trên. Thu nhập bình quân đầu người được cải thiện, năm 2006 là 3.052 ngàn đồng, đến năm 2009 là 4.384 ngàn đồng; Lương thực bình quân đầu người năm 2006 là 296 kg/người/năm, đến năm 2010 là 327 kg/người/năm. Đầu tư xây dựng cơ bản của khu vực miền núi được chú trọng, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá, nhất là hệ thống thủy lợi, đường giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, kè chống xói lở bờ sông... Đến nay, 100% các huyện trong vùng có điện lưới quốc gia và mạng lưới bưu chính viễn thông. Lĩnh vực văn hoá - xã hội, nhất là giáo dục, y tế, văn hoá thông tin có những bước tiến triển mới, gắn kết hơn với quá trình phát triển kinh tế - xã hội chung của toàn tỉnh và trong nội bộ vùng. Công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, tỷ lệ nghèo năm 2010 là 35,23%, chất lượng cuộc sống có mặt được nâng lên. Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể. Thế trận quốc phòng - an ninh được giữ vững. Khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố và tăng cường. Tuy nhiên, kinh tế - xã hội các huyện miền núi vẫn còn chậm phát triển và nhiều khó khăn.Tính tự phát, manh mún trong sản xuất còn phổ biến. Sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thế mạnh kinh tế rừng chưa được phát huy đúng mức; công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng còn nhiều yếu kém, một số nơi rừng bị tàn phá nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hệ thống dịch vụ còn sơ khai. Tiềm năng du lịch chưa được khai thác. Hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội còn yếu kém. Các vấn đề thiết yếu như: nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản. Đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp xa so với các vùng khác trong tỉnh. Trình độ dân trí thấp,
  10. điều kiện phát triển giáo dục, y tế khó khăn, học sinh bỏ học còn nhiều; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao. Đồng bào dân tộc vẫn còn tồn tại một số tập tục lạc hậu. 1.2. Thực trạng về các ngành kinh tế 1.2.1. Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản + Sản xuất Nông nghiệp - Về trồng trọt: Cây lúa: Từ năm 2001 đến nay, tuy diện tích có tăng có giảm, nhưng năng suất bình quân trong vùng tăng đều: từ 26,6 tạ/ha (2001), 31,2 tạ/ha (2005) lên 40,2 (2010) làm cho sản lượng tăng lên. Cây ngô: Sản xuất ngô có nhiều tiến bộ cả về mở rộng diện tích thâm canh tăng năng suất. Diện tích ngô lai đang thay thế dần các giống ngô cũ năng suất thấp. Phương thức trồng ngô thâm canh cũng đang thay thế dần trồng ngô quảng canh. Năng suất bình quân trong vùng tăng từ: 18,8 tạ/ha (2001), 21,8 tạ/ha (2005) lên 28,7 tạ/ha (2010). Cây sắn: Cùng với sự phát triển của hai nhà máy chế biến tinh bột sắn của tỉnh kéo theo vùng nguyên liệu phát triển không ngừng. Năng suất bình quân trong vùng tăng từ: 85,8 tạ/ha (2001), 107,9 tạ/ha (2005) lên 134,1 tạ/ha (2010). Việc phát triển cây sắn hiện nay cần có giải pháp quy hoạch hợp lý và canh tác khoa học để không dẫn đến phá rừng và huỷ hoại môi trường. Ngoài ra, trong vùng còn có khoai lang, rau đậu các loại: Diện tích có lúc giảm lúc tăng, nhưng sản lượng và năng suất các năm đều tăng do áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất. Cây công nghiệp ngắn ngày: Trong vùng có trồng các loại cây công nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, vừng… Diện tích mía có tăng có giảm qua các năm, năng suất bình quân trong vùng không ổn định từ: 372,2 tấn/ha (2001), 449,9 tấn/ha (2005) giảm còn 336,6 tấn/ha (2010). Diện tích và sản lượng cây lạc tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất lại ngày càng tăng. Năm 2001 diện tích 1.340 ha, sản lượng 1.643 tấn, năng suất chỉ đạt 12,3 tạ/ha. Đế năm 2008 diện tích giảm xuống còn 872 ha, nhưng nhờ năng suất tăng lên 15,7 tạ/ha nên sản lượng đạt 1.358 tấn. Diện tích trồng cây vừng tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất và sản lượng hàng năm đều tăng. Năm 2001 diện tích 29,0 ha đến 2002 diện tích tăng lên 74,0 ha, nhưng năm 2008 diện tích lại giảm xuống còn 63,0 ha. Năng suất tăng từ 1,7 tạ/ha năm 2001 lên 3,9 tạ/ha năm 2008. Sản lượng tăng từ 5,0 tấn năm 2001 lên 24,3 tấn năm 2008. Cây công nghiệp dài ngày: Cây quế (Diện tích 2.521 ha, sản lượng 2.255 tấn); Cây cau (Diện tích 620 ha, sản lượng 6.875 tấn); Cây chè (Diện tích 140 ha, sản lượng 252 tấn); Cây ăn quả: Diện tích 663 ha, sản lượng 3.434 tấn. Trồng phân tán trong vườn các hộ gia đình. - Về chăn nuôi: + Đàn trâu, bò: Hình thức chăn nuôi hiện nay vẫn là chăn nuôi quảng canh, chưa phát triển thành các trang trại chăn nuôi tập trung trong khi vùng có các điều kiện để phát triển. Số lượng đàn trâu, bò có xu hướng ngày càng gia tăng.
  11. - Đàn lợn: Số lượng đàn lợn tương đối ổn định, tuy có năm tăng, năm giảm. + Đàn gia cầm: Sản lượng thịt gia cầm trong 5 năm trở lại đây có xu hướng gia tăng, năm 2004 sản lượng thịt gia cầm 290 tấn đến năm 2008 tăng lên 560 tấn. Nhìn chung, chăn nuôi chậm phát triển so với trồng trọt, chủ yếu hướng tự cung, tự cấp, chưa định hướng sản xuất hàng hóa. - Ngành lâm nghiệp Diện tích đất lâm nghiệp hiện nay là 175.307,1 ha chiếm 54,18% diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Năm 2006 tổng doanh thu của ngành lâm nghiệp là 56.460 triệu đồng, chiếm 17,02% giá trị ngành Nông - Lâm - Ngư nghiệp. Ngoài diện tích rừng tự nhiên đã được khoán bảo vệ, chăm sóc hàng năm. Các huyện miền núi còn tiến hành trồng, khoanh nuôi, tái sinh bảo vệ được diện tích rừng khá lớn. Công tác trồng rừng và bảo vệ rừng được quan tâm trong những năm gần đây. Diện tích rừng trồng chủ yếu các cây Sao đen, Lim, Dầu, keo, bạch đàn, quế… Keo hiện nay chiếm diện tích khá lớn, năng suất bình quân khu vực trong khoảng từ 70 - 88 tấn/ha và ngày càng đem lại nguồn lợi kinh tế khá cao. - Thủy sản Ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của vùng miền núi quá nhỏ bé, sản lượng và giá trị sản phẩm không đáng kể, chủ yếu chỉ đáp ứng một phần nhu cầu nội vùng. Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản toàn vùng đạt 210 tấn. Tiềm năng khai thác không lớn. 1.2.2. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Xây dựng Trong những năm qua, ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Xây dựng đã có sự phát triển đáng kể. Hầu hết các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đều nhỏ bé và tập trung ở các thị trấn, trung tâm huyện lỵ và các trung tâm cụm xã. Tuy nhiên, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất của vùng. Năm 2008, trên toàn địa bàn 06 huyện miền núi có tổng số 1.605 cơ sở thì hầu hết đều thuộc loại hình hộ kinh doanh cá thể và tư nhân (1.600 cơ sở), chỉ có 02 cơ sở sản xuất thuộc loại hình nhà nước, 03 cơ sở tập thể. 1.2.3. Thương mại - Dịch vụ và Du lịch Những sản phẩm hàng hóa của vùng trao đổi với bên ngoài chủ yếu là gỗ và sản phẩm chế biến từ gỗ, cây mía, cây quế và một số lâm sản khác. Còn các sản phẩm nhập vào trong vùng là nguyên vật liệu xây dựng, nhiên liệu, phân bón, lương thực và đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày. Về dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá, ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu kinh tế. Các hoạt động dịch vụ vận tải, ngân hàng phát triển, có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Tuy nhiên, vận tải trong vùng chủ yếu là đường bộ, phương tiện chính là xe ô tô và chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong vùng. Du lịch trên địa bàn chưa được đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng còn quá khó khăn, khâu dịch vụ chưa phát triển. 1.3. Thực trạng về xã hội và an ninh quốc phòng
  12. Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho đồng bào dân tộc trong vùng từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ y tế được tăng cường. Các chương trình y tế đều đạt kế hoạch đề ra, góp phần hạ thấp tỷ lệ các bệnh như sốt rét, bướu cổ...Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong trong vùng còn cao. Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc xây dựng đời sống văn hóa, nhất là Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và các chính sách phát triển văn hóa của nhà nước trong vùng tiếp tục được chú trọng thực hiện. Sự nghiệp giáo dục - đào tạo được các cấp, các ngành quan tâm, hiện nay tỷ lệ học sinh tới trường đạt 80% so với độ tuổi đi học. Tuy nhiên, chất lượng giáo dục trên địa bàn vẫn còn thấp, nhất là trong vùng các xã đặc biệt khó khăn. Hệ thống trường lớp và trang thiết bị còn thiếu, phòng học tranh tre, phòng tạm vẫn còn. Hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục. Công tác ứng dụng, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật được triển khai thực hiện bằng nhiêu mô hình. Năng lực cán bộ chuyển giao tuy đã có kiến thức và kinh nghiệm nhưng còn rất thiếu trang thiết bị, phương tiện. Cơ sở vật chất kỹ thuật tại các huyện còn thiếu nhiều và quá sơ sài. Về an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội ở các huyện miền núi luôn được ổn định và giữ vững. Thực hiện có kết quả các chủ trương về xây dựng khu vực phòng thủ, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. 1.4. Thực trạng kết cấu hạ tầng Hệ thống giao thông còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng lớn đến việc lưu thông kinh tế giữa các địa phương trong vùng, đặc biệt vào mùa mưa. Các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ nhìn chung đã được xây dựng tương đối khá, một số tuyến khác đang có dự án đầu tư. Nhiều tuyến đường liên xã, thôn xóm còn quá kém, hệ thống cầu cống và hệ thống thoát nước đã có nhưng còn nhiều hạn chế. Về thủy lợi: Trong vùng hiện có 279 công trình thủy lợi, tổng diện tích tưới 4.128 ha. Tuy nhiên, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất của người dân. Về điện năng: Hệ thống điện chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất và sinh hoạt. Hiện nay số hộ có điện trong vùng chỉ là 34.140 hộ, chiếm 81% toàn vùng. Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Chương trình NS&VSMTNT cùng với các nguồn từ các chương trình khác đã đầu tư 162 công trình với tổng vốn khoảng 53.978 triệu đồng, cấp nước cho khoảng 9.997 hộ, nâng tổng số hộ được cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến năm 2010 chiếm khoảng 76,83% dân số toàn vùng. Về bưu chính viễn thông: Nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản của dịch vụ bưu chính viễn thông trong vùng. Toàn vùng có 15.167 máy điện thoại cố định, bình quân 7,63 máy/100 dân, tổng số thuê bao Internet là 786 thuê bao. Về văn hóa thông tin: Đến nay, trong vùng đã có 6 đài truyền thanh - phát lại truyền hình, tập trung vào tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị địa phương. Hệ thống văn hóa thông tin mới chỉ đáp ứng được ở khu vực trung tâm huyện và các trung tâm
  13. cụm xã, còn đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa được đầu tư nhiều để đảm bảo yêu cầu thiết yếu. Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thể dục thể thao chưa phát triển. Toàn vùng hiện có 17 sân vận động, vận động viên chủ yếu chỉ tập trung từ các xã, thị trấn khi có phong trào thi đấu. Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường chưa được chú trọng đầu tư. Phương thức sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng không ít đến đời sống của nhân dân, là mầm mống gây ra các dịch bệnh. Tóm lại, cả sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều là những huyện nghèo và có sự phát triển không đồng đều theo vùng lãnh thổ và theo lĩnh vực sản xuất. Theo vùng lãnh thổ, có huyện có điều kiện phát triển mạnh như Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng; có huyện kinh tế khó phát triển hơn như: Tây Trà, Sơn Tây, Minh Long. Có huyện cơ sở hạ tầng khá như: Ba Tơ, Sơn Hà; có huyện cơ sở hạ tầng yếu kém như Tây Trà, Sơn Tây. Theo lĩnh vực sản xuất, có huyện có hướng phát triển công nghiệp vì nguyên liệu dồi dào như: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, nhưng cũng có huyện ít có lợi thế phát triển công nghiệp mà chỉ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề, như Tây Trà, Sơn Tây. Thực trạng nêu trên là những chỉ báo rất đáng quan tâm trong quá trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội miền núi tỉnh Quảng Ngãi trong những năm đến. Chương 2. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN MỘT SỐ CHÍNH SÁCH, CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI I. CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC XÃ ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN MIỀN NÚI VÀ VÙNG SÂU VÙNG XA (CHƯƠNG TRÌNH 135) 1.1. Chương trình 135 giai đoạn I a. Nội dung của Chương trình là: Quy hoạch bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết; Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm; Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và bố trí lại dân cư; Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã; Đào tạo cán bộ xã, bản, làng, phum, sóc.
  14. - Thời gian thực hiện: Từ năm 1999-2005. - Phạm vi thực hiện trên địa bàn các xã ĐBKK, cụ thể: Năm 1999:22 xã; năm 2000: 44 xã; từ năm 2001-2005: 57 xã. b. Đánh giá kết quả Những kết quả đạt được: Chương trình đã góp phần xây dựng được hệ thống CSHT quan trọng, là lực lượng vật chất to lớn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, tạo tiền đề cho phát triển vùng dân tộc và miền núi. Đưa kỹ thuật canh tác mới với những giống cây trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt đã dần thay thế những tập quán sản xuất lạc hậu; diện tích khai hoang ruộng lúa nước và năng lực tưới tiêu tăng lên giúp ổn định một phần lương thực. Góp phần cải thiện đời sống của đồng bào trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và sức khỏe cộng đồng: Về cơ bản trên địa bàn không còn hộ đói kinh niên, tốc độ giảm nghèo hàng năm khá, từ 65% (trước khi có Chương trình) xuống còn 23,84% (cuối năm 2005), bình quân giảm 4-5%/năm. Hầu hết các xã đều có trường tiểu học và THCS kiên cố, thu hút trên 95% số trẻ em tiểu học, trên 75 % trẻ em THCS trong độ tuổi đến trường; nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS; có trạm y tế đã ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh; đời sống văn hoá được nâng cao một bước, văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư đã góp phần ổn định đời sống, giúp đồng bào được tiếp cận các hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ xã hội. Những tồn tại, hạn chế: - Về tổ chức thực hiện: Chưa sát thực tế nên dẫn đến nhiều biến động về số xã thuộc Chương trình: Số xã thuộc diện đầu tư đã tăng dần từ 21 đến 57 xã. Chưa có chính sách khuyến khích các địa phương thoát khỏi Chương trình.Chỉ có 14/57 xã hoàn thành mục tiêu, đạt tỷ lệ rất thấp 24,56%. Mặt khác, do không có sự đánh giá khách quan và tâm lý không muốn thoát khỏi Chương trình. Công tác quản lý, chỉ đạo các dự án chưa được tập trung. Sự phối hợp giữa Ban chỉ đạo và các Sở, ngành chưa được chặt chẽ, đồng bộ. Công tác tuyên truyền phổ biến chưa được quan tâm đúng mức. Nhiệm vụ giám sát thiếu chặt chẽ, kém hiệu lực. Thực hiện đầu tư còn dàn trãi, chưa đồng bộ. Nội dung thiếu mục tiêu cụ thể cho từng vùng đầu tư. Dự án quy hoạch bố trí lại dân cư chỉ mới thực hiện được việc hỗ trợ dãn dân, công tác quy hoạch dân cư chỉ dừng ở bước lập dự án quy hoạch... Trong xây dựng CSHT, cơ cấu đầu tư còn nặng về các công trình giao thông (chiếm 42,90%); trong khi vốn đầu tư cho thủy lợi (33,75%), nước sinh hoạt (7,39%), điện (3,6%), trường học (11,35%) và khai hoang (0,68%) là chưa hợp lý. - Về quản lý các nguồn vốn đầu tư: Chương trình do UBND các huyện trực tiếp quản lý, trong khi trình độ cán bộ còn nhiều hạn chế. Tuy chưa có vi phạm lớn nhưng còn biểu hiện những sai sót và lãng phí. Quy trình chọn và đánh giá nhà thầu thi công chưa tốt. Ở nhiều địa phương chọn nhà thầu không đủ năng lực. Công tác nghiệm thu thiếu cán bộ có chuyên môn phù hợp; một số công trình chưa đảm bảo chất lượng. Một số địa phương có thực hiện huy động dân khai thác vật liệu xây dựng tại chỗ, tham gia xây dựng công trình nhưng tỷ lệ rất thấp. Hầu hết, các công trình CSHT do nhà thầu làm, sự tham gia của người dân bản xứ là rất thấp. Một số nơi, việc lựa chọn công trình ít được thảo
  15. luận rộng rãi với dân, hoặc chỉ là hình thức, nên đầu tư không hợp lý, kém hiệu quả. - Về công tác quản lý vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình: UBND tỉnh đã ban hành Quy chế quản lý, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, nâng cấp và khai thác các công trình cơ sở hạ tầng tại xã miền núi. Tuy nhiên, nguồn lực chủ yếu để thực hiện là công lao động của nhân dân địa phương và vốn duy tu, bảo dưỡng của địa phương rất hạn hẹp, việc thực hiện còn nhiều bất cập. - Về lồng ghép các chương trình, dự án: Có gặp nhiều khó khăn do mỗi chương trình, dự án đầu tư đều có mục tiêu, cơ quan chủ trì riêng, cơ chế quản lý và thời điểm thực hiện khác nhau, cùng với những hạn chế trong công tác quy hoạch và cơ chế lồng ghép không rõ ràng nên hiệu quả chưa cao, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực đầu tư. 1.2. Chương trình 135 giai đoạn II (2006 - 2010) a. Nội dung của chương trình là: Hỗ trợ phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ sản xuất của đồng bào các dân tộc; Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở, nâng cao trình độ quản lý hành chính và kinh tế; đào tạo nâng cao năng lực cộng đồng; Trợ giúp pháp lý để nâng cao nhận thức pháp luật. - Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010. - Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Gồm 43 xã ĐBKK miền núi và 31 thôn ĐBKK thuộc các xã khu vực II. b. Đánh giá kết quả thực hiện Những kết quả đạt được: Chương trình đã đạt được phần lớn các nội dung; về cơ bản, không còn tình trạng hộ đói thường xuyên; tỷ lệ hộ nghèo của các xã, thôn ĐBKK đã giảm từ 71,56% đầu năm 2006 xuống còn 44,24% vào giữa năm 2010 (giảm 27,32%, bình quân mỗi năm giảm khoảng 5,5%). - Một số chỉ tiêu đạt kế hoạch: Tỷ lệ xã có công trình thủy lợi nhỏ đảm bảo phục vụ cho sản xuất đạt 93,33% (MT 80%); Tỷ lệ thôn bản có điện ở các cụm dân cư đạt 88,81% (MT 80%); Tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi được đến trường là 99,53% (MT 95%); Tỷ lệ học sinh THCS trong độ tuổi được đến trường là 91,17% (MT 75%); Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh đạt 52,33% (MT 50%); Tỷ lệ người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn phí là 100 % (MT 95%). - Về phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể nhờ áp dụng giống cây trồng, vật nuôi mới và ứng dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên. Đồng bào các dân tộc thiểu số đã từng bước thay thế dần tập quán sản xuất lạc hậu. Tỷ lệ hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm của vùng tăng từ 26,71% năm 2006 lên 44,59% vào năm 2010. - Về hoàn thiện cơ sở hạ tầng: Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các địa bàn ĐBKK đã được quy hoạch và triển khai thực hiện đầu tư từ nguồn vốn của CT 135-II, cùng với nguồn lực từ các chương trình, dự án khác đã cơ bản phục vụ được phần lớn những yêu cầu cấp thiết nhất trong sản xuất và sinh hoạt của
  16. người dân tại các địa bàn này. - Đời sống văn hoá, xã hội đã có bước chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường đều cao; số hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, số hộ được sử dụng điện đều tăng và đạt mục tiêu của Chương trình. - Về nâng cao năng lực: Trình độ, năng lực quản lý CT 135-II cũng như các chương trình, chính sách khác của cán bộ cấp xã và thôn được nâng lên một bước; đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn đã được trang bị các kiến thức, kỹ năng về quản lý điều hành, quản lý đầu tư cũng như trình độ chuyên môn nghiệp vụ về xóa đói giảm nghèo. Vì vậy, trong giai đoạn 2006-2010, số lượng xã được giao làm chủ đầu tư các dự án, chính sách thuộc CT 135-II tăng lên: năm 2006 có 13,95%, đến năm 2010 có 81,3% xã; hợp phần Hỗ trợ sản xuất đến năm 2008 có 100% xã làm chủ đầu tư. Năng lực của cộng đồng được nâng lên, ngày càng có nhiều hộ biết áp dụng khoa học kỹ thuật và sử dụng loại giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao vào sản xuất để tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân. Những tồn tại, hạn chế: - Các mục tiêu, chỉ tiêu chưa đạt được: Mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn ĐBKK của tỉnh năm 2010 đã giảm 27,32% so với năm 2006. Tuy nhiên, vẫn còn ở mức khá cao là 44,24% (MT dưới 30%). - Về phát triển cơ sở hạ tầng: Tỷ lệ xã có đường giao thông cho xe cơ giới từ trung tâm xã đến thôn bản chỉ đạt 76,8% (MT 80%); Tỷ lệ xã có đủ trường học, lớp học kiên cố chỉ đạt 95,34% (MT 100%); Tỷ lệ xã có Trạm y tế kiên cố, đúng tiêu chuẩn chỉ đạt 51,16% (MT 100%). -Về phân cấp cho cấp xã làm chủ đầu tư: Chỉ có 81,3% số xã ĐBKK được giao làm chủ đầu tư các công trình CSHT (MT 100%). Chỉ có 01xã hoàn thành mục tiêu chương trình (xã Ba Dinh, huyện Ba Tơ). Qua điều tra lấy ý kiến nhân dân về Chương trình, có 45,5% ý kiến cho rằng“chưa hiệu quả lắm” so với 30,6% ý kiến “hiệu quả tốt”. - Trong chỉ đạo, điều hành: Việc tổ chức triển khai chương trình còn nhiều lúng túng, nhiều văn bản hướng dẫn ban hành chậm. Một số nội dung của văn bản hướng dẫn phải sửa đổi nhiều lần gây khó khăn cho các địa phương. - Trong tổ chức thực hiện: Việc phân bổ vốn thực hiện Chương trình còn chậm, thường phân thành nhiều đợt đã gây khó khăn cho các địa phương trong việc lập kế hoạch tổ chức thực hiện cũng như giải ngân vốn. Nguyên tắc “xã có công trình, dân có việc làm, tăng thêm thu nhập từ việc tham gia lao động công trình tại xã” chưa được thực hiện tốt. Vai trò và nhiệm vụ của một số cơ quan cấp tỉnh, huyện trong quá trình tham mưu và tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình có lúc, có việc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời. Công tác quản lý, tổ chức triển khai thực hiện của cán bộ xã nhiều nơi còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn. II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẤT SẢN SUẤT, ĐẤT Ở, NHÀ Ở VÀ NƯỚC SINH HOẠT CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN (CHƯƠNG TRÌNH 134) 2.1. Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình - Nội dungchương trình: Giao đất sản xuất nương rẫy, đất ruộng lúa; Giao
  17. đất ở tối thiểu cho hộ đồng bào; Hỗ trợ nhân dân xây dựng nhà ở theo phương châm: Nhân dân tự làm, nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ; Hỗ trợ giải quyết nước sinh hoạt tập trung, phân tán. - Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 - 2008. - Phạm vi thực hiện: 67 xã, 329 thôn thuộc 9 huyện (trọng tâm là 6 huyện miền núi). Số hộ thụ hưởng là: 13.907 hộ, được điều chỉnh lên 29.019 hộ. 2.2. Đánh giá kết quả Những kết quả đạt được: Chương trình bước đầu đã giải quyết cơ bản tình trạng khó khăn về đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt: Khai thác được tiềm năng đất đai, lao động và cải thiện đời sống người dân; đảm bảo một bộ phận đồng bào có điều kiện phát triển sản xuất, tạo cơ hội phấn đấu, nâng cao ý thức trách nhiệm và nghĩa vụ để vươn lên thoát nghèo. Quy chế dân chủ được phát huy: Việc hỗ trợ một số chính sách được công khai dân chủ từ khâu lập và phân bổ kế hoạch, đến khâu giám sát thực hiện; công tác xã hội hóa trong việc kiểm tra, giám sát đã được hình thành và rõ nét hơn trong mỗi người dân. Nhiều địa phương đã chủ động thực hiện tốt các phương thức quản lý dự án: Nhiều xã thực hiện tốt trách nhiệm ký kết hợp đồng xây nhà cho dân (trường hợp hộ dân có nhu cầu) và đã làm tốt vai trò chủ đầu tư xây dựng công trình nước sinh hoạt tập trung. Nhận thức của người dân địa phương về chính sách của nhà nước được nâng lên. Ý thức tương trợ giúp đỡ trong cộng động cũng được nâng cao. Giải quyết cơ bản vấn đề nhà ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt: Hỗ trợ cho 15.333 hộ có nhà ở được cứng hoá khung nhà, 597 hộ có đủ đất sản xuất và đại bộ phận cư dân trên vùng được dùng nước sạch, cải thiện chất lượng cuộc sống. Những tồn tại, hạn chế: Công tác điều tra, khảo sát còn hạn chế: Một số huyện điều tra thiếu chính xác, dẫn đến chỉ tiêu một số chính sách trong Đề án không sát với thực tế. Nguyên nhân là lực lượng và điều kiện để điều tra, khảo sát ban đầu gặp nhiều khó khăn, Trung ương quy định thời gian điều tra, khảo sát, lập Đề án là quá ngắn. Một số quy định về chính sách chưa phù hợp thực tế: Đối tượng thụ hưởng ở các xã thuộc các khu vực I, II, III có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và khả năng nguồn lực của từng địa phương khác nhau, nhưng mức hỗ trợ nhà ở, đất sản xuất theo kiểu bình quân là chưa phù hợp; Mức hỗ trợ khai hoang, đền bù thu hồi đất 6 triệu đồng/ha là quá thấp. Do đó, địa phương gặp nhiều lúng túng, chưa tạo được cơ hội cho đồng bào có đủ đất sản xuất. Về công tác tổ chức thực hiện còn hạn chế. Chưa ban hành các quy định về huy động, lồng ghép các nguồn vốn; hướng dẫn cơ chế lồng ghép các nguồn vốn và cân đối nguồn vốn lồng ghép trên địa bàn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp để thực hiện Chương trình đạt hiệu quả cao. Việc phân công cán bộ cấp huyện, xã còn phải kiêm nhiệm nhiều chương trình, nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo, khối lượng công việc nhiều, nên công tác chỉ đạo chưa được tập trung. Công tác khảo sát thiết kế công trình tồn tại nhiều yếu kém. Nhiều công trình nước sinh hoạt không phát huy hiệu quả do khảo sát nguồn nước; công suất thiết kế không phù hợp với nguồn nước và nhu cầu sử dụng. Nhiều công trình bảo quản kém nên chỉ cần hư hỏng nhỏ ở đầu nguồn là công trình không sử dụng được. Công tác sơ kết rút kinh nghiệm, phổ biến kinh nghiệm cho cộng đồng, nhân rộng điển hình chưa kịp thời. III. DỰ ÁN TRỒNG MỚI 5 TRIỆU HA RỪNG (DỰ ÁN 661)
  18. 3.1.Nội dung dự án, thời gian, phạm vi Dự án - Nội dung: Bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện có; Thực hiện ngay từ giai đoạn đầu việc giao đất, giao rừng cho các tổ chức, hộ gia đình cá nhân gắn với định canh, định cư, xóa đói giảm nghèo để bảo vệ, khoanh nuôi rừng kết hợp trồng bổ sung và trồng mới; Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ rừng đặc dụng và trồng 3 triệu ha rừng sản xuất. - Thời gian thực hiện: Từ năm 1998 - 2010. - Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn 10 huyện, với quy hoạch tiềm năng đất trồng rừng đã phê duyệt đến năm 2010 là 46.000 ha (trong đó: 6 huyện miền núi là 35.100 ha, chiếm 76,30% diện tích). 3.2. Đánh giá tình hình thực hiện Những kết quả đạt được: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách thực hiện Dự án: Được thực hiện từ Trung ương, đến địa phương kịp thời và rõ ràng, giúp các cấp chính quyền làm cơ sở triển khai thực hiện. Công tác chỉ đạo, điều hành: Việc tổ chức, hoạt động của Ban chỉ đạo, Ban quản lý Dự án 661 được sự chỉ đạo thống nhất và xuyên suốt từ Chính phủ đến các cấp chính quyền địa phương. Việc đầu tư NSNN, huy động vốn: Việc đầu tư NSNN và thu hút được nhiều nguồn vốn khác để thực hiện dự án là nỗ lực lớn nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường, xóa đói giảm nghèo cho người dân tham gia nghề rừng. Việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của Dự án: Đến nay, tỉnh cơ bản thực hiện bằng và vượt so với kế hoạch được giao: Trồng mới và chăm sóc rừng phòng hộ: 21.132 ha/19.550 ha, đạt 108%; Quản lý bảo vệ rừng: 554.265/382.100 ha, đạt 145,1%; Khoanh nuôi tái sinh rừng: 73.271/82.724 ha, đạt 88,6%. Diện tích thành rừng là 66.529 ha. Hiệu quả về kinh tế - xã hội, môi trường của Dự án: Từ năm 1998 - 2009, diện tích có rừng tăng từ 126.602 ha lên 234.799 ha, độ che phủ tăng từ 24,6% lên 41,68%. Kết quả Quy hoạch lại 3 loại rừng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ rừng phòng hộ, giao cho các BQL rừng phòng hộ và chính quyền địa phương quản lý. Dự án đã đưa gần 80.000 ha đất trống đồi núi trọc để trồng rừng, giao khoán hàng trăm nghìn lượt ha bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tạo việc làm cho gần 10.000 hộ, hình thành trong cộng đồng dân cư miền núi biết làm nghề rừng, giữ rừng và xóa bỏ dần tập quán du canh du cư phát rừng làm nương rẫy. Qua điều tra cho thấy người dân đánh giá cao việc thực hiện chương trình, với 86,1% ý kiến cho là có hiệu quả. Những tồn tại, hạn chế: Công tác chỉ đạo triển khai chưa kịp thời: Một số văn bản quan trọng để chỉ đạo thực hiện dự án chưa kịp thời. Trong đó, văn bản quan trọng nhất để làm căn cứ xây dựng Dự án 661 là Quyết định 154/2004/QĐ-UB của UBND tỉnh Về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2002-2010, đến năm 2004 mới ban hành. Công tác chỉ đạo giai đoạn 1998-2004 dựa vào Quyết định 2356/QĐ-UB ngày 27/8/1996 Về việc phê duyệt dự án tổng quan lâm nông công nghiệp giai đoạn 1993-2000. Vì vậy, việc rà soát, sắp xếp lại quỹ đất lâm nghiệp, chuyển mục đích sử dụng diện tích vùng phòng hộ không xung yếu sang đất sản xuất chưa kịp thời, làm nảy sinh tranh chấp và xâm hại rừng. Việc quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp chưa thật chặt chẽ: Từ năm 2002 trở về trước, người dân địa phương không có nhu cầu sử dụng đất rừng. Để thực hiện Nghị định 02/CP ngày 15/01/1994,
  19. chính quyền một số xã và Lâm trường đã cho tổ chức, cá nhân mượn hoặc thuê đất để trồng cây nguyên liệu, nhưng chưa được sự cho phép của cấp có thẩm quyền và chưa được cấp GCNQSDĐ, trong đó có người không thuộc hộ khẩu địa phương và tổ chức không có chức năng trồng rừng. Đến nay, khi người dân địa phương có nhu cầu đất sản xuất và đòi phải trả lại đất để chia cho dân, thì chưa giải quyết được vì cây trồng chưa đến kỳ khai thác. Việc thực hiện các giải pháp lâm sinh chưa tạo điều kiện cho cây trồng chính phát triển. Suất đầu tư cho các công trình lâm sinh còn thấp, từ khoán quản lý bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, đến trồng rừng. Tình trạng xâm hại rừng và tranh chấp đất lâm nghiệp diễn ra khá phức tạp.Nạn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép diễn ra nhiều nơi. IV. ĐỀ ÁN PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN – MIỀN NÚI Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh, Đề án phát triển giao thông nông thôn - miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2006-2010. 4.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án - Mục tiêu: Thực hiện nhựa hóa, cứng hóa ít nhất 1.500 km tuyến đường huyện, xã, thôn, khối phố, trong đó: Đường huyện: 500 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, V. Phấn đấu đến năm 2010 nhựa hóa, cứng hóa bình quân ít nhất 70% tuyến; Đường xã, phường, thị trấn (đường xã): 750 km, đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A, B. Phấn đấu đến năm 2010 cứng hóa mặt đường BTXM bình quân ít nhất 60% tuyến; Đường thôn, khối phố (Đường thôn): 250 km, đạt tiệu chuẩn GTNT loại A, B. Từng bước cứng hóa mặt đường BTXM, gạch hoặc cấp phối các tuyến đường thôn, đường ra đồng ruộng. Riêng đường nội phố, bê tông hóa 100% các đường hẻm nội thành. - Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010. - Phạm vi Đề án: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn). 4.2. Đánh giá tình hình thực hiện Những kết quả đạt được: Đề án triển khai phù hợp với chủ trương và yêu cầu thực tiễn. Công tác chỉ đạo được tập trung thực hiệnChính quyền các cấp đã tích cực chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Các cơ chế, chính sách được quán triệt sâu rộng trong quần chúng nhân dân, nhất là chủ trương huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng ở xã, phường, thị trấn. Những tồn tại, hạn chế: Nguồn vốn bố trí và huy động thấp so với nhu cầu nên khó hoàn thành kế hoạch: Nguồn vốn ngân sách bố trí đầu tư mặt đường nhựa, đường BTXM còn rất thấp so với kế hoạch. Do đó, đến năm 2009, tổng số Km trong toàn tỉnh được nhựa hoá, cứng hoá đạt thấp: Đường huyện đạt 41,14%; Đường xã đạt 35,11% so với kế hoạch. Từ năm 2008, tỉnh giao kế hoạch vốn vay tín dụng ưu đãi cho UBND các huyện và khấu trừ vào vốn XDCB hàng năm. Theo Đề án, đầu tư đường xã thì vốn Ngân sách tỉnh bố trí (50% ở xã đồng bằng; 80% ở xã miền núi), còn lại ngân sách cấp huyện, cấp xã và các nguồn huy động của xã. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư tại cấp huyện gặp khó khăn về vốn ngân sách của huyện, xã và huy động trong dân.
  20. Đề án tập trung phần lớn dự án thực hiện trên địa bàn các huyện miền núi (chiếm 20/33 dự án giai đoạn 2009-2010) nhưng chủ yếu thực hiện từ các nguồn: ngân sách tỉnh, Chương trình 30a, Trái phiếu Chính phủ, Giao thông nông thôn 3, còn nguồn ngân sách huyện, xã và huy động trong dân với tỷ lệ rất thấp và hầu như không thực hiện được. Trên địa bàn miền núi, nhiều tuyến đường đạt chất lượng thấp do địa hình phức tạp, thiết kế và nguồn lực đầu tư thấp. Các tuyến đường ở khu vực miền núi những năm qua chủ yếu đầu tư nền đường và công trình thoát nước, còn mặt đường chưa được đầu tư nên thường bị hư hỏng sau mùa mưa lũ. Qua điều tra xã hội học, phần lớn người dân đều nhận thấy vai trò quan trọng của mạng lưới giao thông và đánh giá mức độ “hiệu quả tốt” chiếm 39,1%. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến cho thấy hiệu quả các Đề án giao thông nông thôn còn hạn chế, chiếm 33,9% “chưa hiệu quả lắm” và 20% “không hiệu quả”. V. ĐỀ ÁN KIÊN CỐ HÓA KÊNH MƯƠNG - THỦY LỢI Đề án được thực hiện theo chủ trương của tỉnh, Đề án Chương trình Kiên cố hóa kênh mương thủy lợi giai đoạn 2006-2010. 5.1. Mục tiêu, thời gian, phạm vi Đề án - Mục tiêu: Kiên cố hóa (KCH) 500 km kênh mương, trong đó: Kênh loại II: 53 km; Kênh loại III: 247 km. Kiên cố hóa được đầu tư từ chương trình, dự án lồng ghép khác: 200 km. - Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010. - Phạm vi thực hiện: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn). 5.2. Đánh giá tình hình thực hiện Những kết quả đạt được: Đề án góp phần nâng cao năng lực tưới tiêu, phục vụ phát triển sản xuất nông nghiệp. Đồng bào dân tộc miền núi đã bước đầu tiếp cận, tận nguồn thủy lợi để thâm canh lúa nước, trồng ngô, nuôi trồng thủy sản. Đề án được sự quan tâm chỉ đạo điều hành của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị. Được sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân, người dân nhiều nơi tỏ ra tích cực trong việc tham gia phần vốn 30-40% đóng góp, nhiều HTX chủ động vận động thu trước khi có vốn hỗ trợ của tỉnh. Góp phần nâng cao nhận thức của người dân trong xây dựng, khái thác và bảo vệ công trình thủy lợi. Một số huyện miền núi như Sơn Hà, Minh Long nhờ thực hiện lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình khác triển khai trên địa bàn, nên đã huy động được nguồn vốn lớn để thực hiện đạt và vượt mục tiêu Đề án. Những tồn tại, hạn chế: Phương án cân đối nguồn vốn để thực hiện mục tiêu chưa khả thi. Việc huy động nguồn vốn đóng góp của nhân dân vùng hưởng lợi ở các huyện miền núi là rất khó, do đời sống nhân dân còn nghèo, nguồn vốn góp của các địa phương cũng hạn chế. Vì vậy, khả năng cân đối ngân sách chưa đáp ứng được yêu cầu để thực hiện theo chương trình. Bộ máy thực hiện chưa đảm bảo yêu cầu. Do thiếu cán bộ chuyên môn thủy lợi và không có bộ phận chuyên trách đầu tư XDCB nên các hồ sơ thủ tục, lập hồ sơ thiết kế chậm và cơ chế quản lý tài chính còn lúng túng. Sự phối hợp giữa các Sở, ngành chưa chặt chẽ. Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc. VI. CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN NGƯ

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

AMBIENT
Đồng bộ tài khoản