intTypePromotion=1

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP:" ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG "

Chia sẻ: Nguyễn Nhi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:65

0
103
lượt xem
12
download

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP:" ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG "

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

III. Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do hoàn toàn thống trị là việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước kém phát triển hơn. Nhưng đến cuối thế kỷ 20, với sự hình thành các tổ chức độc quyền, thì trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện thêm hình thức xuất khẩu mới-xuất khẩu tư bản. Bằng việc xuất khẩu tư bản, nhà tư bản tổ chức việc sản xuất ở nước ngoài, hàng hóa sản xuất ra của các xí nghiệp nước ngoài sẽ thay thế một phần cho việc xuất khẩu...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BÁO CÁO TỐT NGHIỆP:" ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG "

  1. TRƯỜNG …………………. KHOA………………………. ----- ----- Báo cáo tốt nghiệp Đề tài: ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  2. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ( FDI : FOREIGN DIRECT INVESTMENT ) I. Đầu tư nước ngoài và các loại hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1. Khái niệm về đầu tư nước ngoài Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do hoàn toàn thống trị là việc xuất khẩu hàng hóa sang các nước kém phát triển hơn. Nhưng đến cuối thế kỷ 20, với sự hình thành các tổ chức độc quyền, thì trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện thêm hình thức xuất khẩu mới-xuất khẩu tư bản. Bằng việc xuất khẩu tư bản, nhà tư bản tổ chức việc sản xuất ở nước ngoài, hàng hóa sản xuất ra của các xí nghiệp nước ngoài sẽ thay thế một phần cho việc xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu tư bản được thực hiện dưới hình thức đầu tư quốc tế. Đầu tư quốc tế là một quá trình kinh tế trong đó các nhà đ ầu tư nước ngoài ( tổ chức hoặc cá nhân) đưa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nước nhận đầu tư đ ể thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận hoặc đạt được các hiệu quả xã hội. Sự hợp tác đầu tư quốc tế giữa hai bên và nhiều bên là xu hướng có tính chất quy luật trong điều kiện tăng cường quốc tế hoá đời sống kinh tế hiện nay, tuy rằng trên thực tế, sự hợp tác này không đơn giản mà trái lại luôn chứa đựng một sự cạnh tranh gay gắt. Song d ù sao trong hợp tác đầu tư, lợi ích của các bên tham gia cũng khá gắn liền với nhau. Nhận thức rõ của xu hướng này và sử dụng nó một cách khôn ngoan là một trong những cách bảo đảm cho sự thành công của một con đường phát triên trong giai đoạn hiện nay của mỗi nước. 2. Các loại hình đầu tư nước ngoài Theo quan niệm của OECD thì các nguồn tài trợ cho nước ngoài bao gồm: 2.1. Tài trợ phát triển chính thức (ODF): bao gồm viện trợ phát triển chính thức (ODA) và các hình thức ODF khác, song phương cũng như đa phương. 2.2. Tín dụng xuất khẩu 2.3. Tài trợ tư nhân: bao gồm vay tư ngân hàng quốc tế (WB), vay tín phiếu, đầu tư thị trực tiếp, các nguồn tài trợ tư nhân khác, viện trợ cho không của các tổ chức phi chính phủ. Như vậy, theo quan niệm của tổ chức này, đầu tư trực tiếp là một trong những nguồn tài trợ tư nhân. Nhưng trong thực tế đầu tư thời gian qua chúng ta thấy rằng, chủ thể của FDI không thể có duy nhất tư nhân mà
  3. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG còn có nhà nước và tổ chức phi chính phủ khác (mặc dù số lượng ít hơn nhiều). Bởi vậy quan niệm như trên chưa thật hoàn toàn đ ầy đ ủ. Theo IMF (1993), đ ầu tư trực tiếp nước ngoài được định nghĩa là loại “đầu tư phản ánh mục tiêu nhằm đạt được lợi ích lâu dài của một tổ chức sở tại trong một nền kinh tế ( doanh nghiệp nước ngoài hay công ty mẹ ) ở một doanh nghiệp đặt ở một nền kinh tế khác ( doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngo ài )”. Lợi ích lâu dài bao hàm quan hệ lâu dài của các nhà đầu tư trực tiếp với doanh nghiệp ( nước ngoài ) và một mức độ ảnh hưởng dáng kể của nhà đâu tư lên việc quản lý doanh nghiệp. FDI không giống với các hình thức di chuyển vốn khác ở chỗ vai trò của nó không chỉ hạn chế trong việc làm tăng đầu tư ở nước nhận vốn ( chủ nhà ), FDI xuất phát từ quyết định của một doanh nghiệp ở một nước nào đó ( một công ty đa quốc gia ) nhằm tham gia vào sản sản xuất quốc tế, di chuyển địa điểm hoạt động của mình dến một nước chỉ nhà được chọn. Do dó về cơ bàn FDI đem theo cả kiến thức đặc thù cho công ty ( dưới hình thức công nghiệp, kỹ năng quản lý, bí quyết tiếp thị, v..v ) mà nước chủ nhà không thể thuê hoăc hoặc mua được trên thị trường. Các chi nhánh của các công ty đa quốc gia, như là m ột bộ phận quan trọng trong mạng lưới toàn cầu của công ty mẹ, đã có sẵn các kênh bao tiêu hàng, có kinh nghiệm và chuyên môn trong nhiều lĩnh vực phức tạp của việc phát triển sản phẩm và tiếp thị quốc tế, đồng thời ở vào thế có lợi để tận dụng được những khác biệt giữa các nước về chi phí sản xuất. Hơn nữa, các công ty đa quốc gia có nhiều khả năng đối phó lại với những áp lực bảo hộ ở nước xuất xứ hơn, sao cho có lợi cho việc nhập khẩu từ các chi nhánh của họ. Dựa trên cơ sở này, người ta thường nói rằng FDI cho phép các nhà quản lý và công nhân trong đất nước tiếp nhận được những kiến thức và công nghệ nhanh hơn. Nó cũng cho phép những người mới tham gia học hỏi về thị trường xuất khẩu, kích thích cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước, và đào tạo công nhân. Về mặt ổn định, có sự khác biệt rõ ràng giữa FDI và các hình thức cấp vốn khác như cho vay ngắn hạn của ngân hàng và đ ầu tư gián tiếp. Đầu tư gián tiếp chủ yếu bao gồm việc mua các tài sản tài chính. Lợi suất từ việc mua các tài sản tài chính con tuỳ thuộc vào nhiều biến số như tỷ giá, lãi suất và giá cổ phiếu, là cái thường chịu những dao động ngắn hạn. Hơn nữa những tài sản này có thể dễ d àng bán nhanh ( tức nhiên cũng có cái giá của nó ). Ngược lại, FDI như nêu trên là luồng vốn dài hạn dựa trên những cân nhắc lợi nhuận dài hạn, mà một khi đã đầu tư thì không dễ dàng nhanh chóng rút lui. FDI về cơ bản thể hiện ở quyền sở hữu và vận hành các cơ sở sản xuất. D o đó, khi so sánh với đầu tư gián tiếp và những loại luồng đầu tư khác, FDI là nguồn vốn tương đối ổn định. Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, nhà nước Việt Nam chủ trương khuyến khích mở rộng hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
  4. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG nhằm góp phần phát huy mọi tìm năng để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội. Để thể chế hóa chủ trương đó và cũng để tạo ra hệ thống khung pháp lý cho việc quản lý, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định. “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào nước ngoài vốn bằng tiền mặt hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này”. Với những quy định như đã nêu trong luật thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc các nhà đầu tư (pháp nhân hoặc tư nhân) đưa vốn (bằng tiền hay b ất cứ tài sản nào) vào nước tiếp nhận đầu tư đ ể thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm thu lợi nhuận và đạt được những hiệu quả xã hội. Do đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chính là một loại hình di chuyển vốn quốc tế mà trong đó mỗi người sở hữu đồng thời là người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động sử dụng vốn đầu tư. Đối với hình thức đầu tư này, người bỏ vốn sẽ trực tiếp tham gia quản lý điều hành quy trình thực hiện và có thể quyết định to àn bộ mọi hoạt động nếu hình thức là doanh nghiệp 100% vốn nước ngo ài, hoặc tham gia quyết định nếu là doanh nghiệp liên doanh. Nếu theo nghĩa hẹp, FDI là sự đầu tư của các công ty nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ toàn bộ hay từng phần của cơ sở đó, là hình thức đầu tư mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ và cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Nếu nguồn tài trợ ODF (chủ yếu là ODA) là nguồn tài trợ chính thức có thể cho không, hoặc vay ưu đ ãi do các quốc gia, các tổ chức quốc tế cung cấp, thì FDI là nguồn đầu tư chủ yếu do các công ty đa quốc gia thực hiện. Việc tiếp nhận nguồn đầu tư này không gây nên tình trạng nợ cho nước chủ nhà, trái lại còn tạo điều kiện cho nước chủ nhà phát triển tiềm năng trong nước. Bên cạnh đó, FDI không chỉ đưa vốn vào nước hưởng đầu tư mà đi cùng với nó là kỹ thuật, là công nghệ và là bí quyết kinh doanh, do đó nâng cao năng lực của nền kinh tế trong nước, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Xét về bản chất đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản , một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa và đây phải là hình thức xuất khẩu bổ xung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập nđoàn kinh tế nước ngoài. Nhiều trường hợp, hoạt động buôn bán hàng hóa tại nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, tìm hiểu luật lệ để đi đến quyết định đầu tư nước ngoài tại nước sở tại là điều kiện để xuất khẩu máy móc, nguyên vật liệu và khai thác tài nguyên của nước chủ nhà. Để đạt đ ược những mục tiêu này các nhà đầu tư sẽ phải lựa chọn một hình thức doanh nghiệp phù hợp, thành lập và tiến hành kinh doanh. Như vậy, với sự đầu tư trực tiếp nguồn vốn từ nước ngoài sẽ dẫn đến một hậu quả tất yếu là sự hình thành của
  5. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG một loại hình doanh nghiệp mới, đó là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngo ài. 3. Chính sách và việc tổ chức thu hút FDI của nước ngoài 3.1 Việc tổ chức thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài Việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài có thể đ ược coi là một quá trình xây dựng đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm tạo điều kiện không những cho vốn đầu tư nước ngo ài, mà cả vốn đầu tư trong nước được đ ưa vào thực hiện một cách thuận lợi ( với tư cách là phần vốn góp của nước sở tại trong liên doanh ). đứng trên giác độ của một quốc gia, việc thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài liên quan đến các vấn đề sau: 3.1.1 Xây dựng hệ quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài đối với phát triển kinh tế Để xây đựng hệ thống quan điểm về vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, trước hết phải xác định rõ FDI có vai trò như thế nào đối với sự phát triển kinh tế của nước đó. Xuất phát từ lý luận về xuất khẩu tư bản của V.I.Lênin, từ vai trò nguồn vốn nước nước ngoài của các nhà kinh tế học hiện đại chúng ta thấy, FDI là nguồn vốn bổ sung rất quan trọng cho các nước, nhất là các nước đang phát triển. Thiếu nguồn vốn này, các nước khó có thể vượt khỏi vòng luẩn quẩn của sự đói nghèo để đẩy nhanh sự phát triển kinh tế xã hội. Song vấn đề là ở chỗ, thái độ của nước nhận đầu tư như thế nào và biện pháp xử lý ra sao nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế tối đa những tác động tiêu cực của loại hình đầu tư này. Từ kinh nghịêm thành công của các nước đang phát triển trong việc thu hút FDI, có thể nói rằng, nhìn chung các nước này đều có thái độ và chính sách ưu đãi với các nhà đầu tư nước ngoài. Họ nhìn hoạt động FDI không phải là hoạt động nhằm bóc lột nguồn lực của nước mình, mà đó là những điều kiện thuận lợi cho việc tăng trưởng kinh tế của đất nước. Chính vì vậy, các nước thường có những chính sách ưu đãi, nhất quán đối với nhà đầu tư, tạo những điều kiện thuận lợi cho hoạt động FDI. Là nhà đầu tư, họ quan tâm đến những lợi ích và những ưu đãi mà họ có thể thu được từ dự án đầu tư thực hiện ở nước sở tại, các vấn đề liên quan đến việc thành lập và triển khai dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong việc lập dự án, nhà đầu tư sẽ quan tâm tới việc phải hoàn thành những gì trong bộ hồ sơ xin cấp giấy phép đầu tư, các ngành, các cấp nào đã tham gia vào việc cấp giấy phép đầu tư, liệu nhà đầu tư có nhận đ ược các thông tin trợ giúp từ phía chính phủ và các tổ chức môi giới hay không, thời gian trung bình để có được một giấy phép đầu tư là bao lâu,… Trong việc triển dự án đầu tư, nhà đầu tư sẽ quan tâm tới những vấn đề như giải phóng mặt bằng có thuận lợi hay không, việc đưa máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu vào nước sở tại để sản xuất kinh doanh có
  6. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG thuận lợi và khó khăn gì, việc tuyển dụng nhân công ở nước sở tại có sẵn có hay không (điều này có liên quan tới chính sách đ ào tạo lao động của nước sở tại ), trong một số trường hợp việc tuyển dụng nhân công nước ngoài có gặp khó khăn gì không và những vấn khác liên quan đến những khuyến khích đầu tư. Đạo tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước trong lĩnh vật đầu tư nước ngo ài và đội ngũ cán bộ kinh doanh quốc tế để có thể đáp ứng những yêu cầu của quá trình thu hút vốn nước ngoài như: tham gia thảm định các dự án đầu tư nước ngo ài, tham gia hoạch định chính sách đầu tư trên phạm vi khu vật và quốc tế, tham gia kinh doanh với nhà đ ầu tư nước ngoài. 3.1.2 Tạo lập môi trường đầu tư hấp dẫn Vấn đề có tính then chốt trong việc tổ chức nhằm thu hút FDI là tạo lập một môi trường đầu tư hấp dẫn. Môi trường đầu tư là tổng thể các bộ phận mà ở đó chúng tác động qua lại lẫn nhau và chi phối mạnh mẽ đến các hoạt động đầu tư. Buộc các nhà đ ầu tư, tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và phạm vi hoạt động cho thích hợp tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và đưa đến hiệu quả cao trong kinh doanh. Người ta có thể phân loại môi trường đầu tư theo nhiều tiêu thức khác nhau và mỗi tiêu thức phân loại đó lại hình thành các môi trường, thành phần khác nhau. Chẳng hạn: Căn cứ vào phạm vi không gian, có môi trường đầu tư nội bộ doanh nghiệp, môi trường đầu tư trong nước và môi trường đầu tư quốc tế. Căn cứ vào lĩnh vực, có môi trường chính trị, môi trường luật pháp, môi trường kinh tế, môi trường văn hóa xã hội, cơ sở hạ tầng… Căn cứ và sức hấp dẫn, có môi trường đầu tư có tính cạnh tranh cao (hấp dẫn nhiều), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh trung bình (hấp dẫn vừa), môi trường đầu tư có tính cạnh tranh thấp (hấp dẫn ít) và môi trường không có tính cạnh tranh (không hấp dẫn). Khi xem xét môi trường đầu tư, các nhà kinh doanh và các nhà quản lý phải thấy một số đặc điểm cơ bản trong quá trình đ ánh giá và tạo dựng môi trường đầu tư. Thứ nhất, môi trường đầu tư không phải là cố định mà luôn luôn biến đổi do sự thay đổi của các yếu tố cấu thành. Tính chất của môi trường đầu tư luôn luôn thay đổi là do mối tương quan giữa môi trường đầu tư trong nước và các môi trường đầu tư của các nước khác. Không có một môi trường đầu tư cố định. Thứ hai, môi trường đầu tư là sự đang xen của các môi trường thành phần và sự tác động qua lại giữa chúng. Điều này đòi hỏi khi phân tích đánh gia môi trường phải xem xét đánh giá một cách tổng thể trong
  7. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG mối quan hệ chặt chẽ và với một mối tương quan cụ thể giữa các môi trường thành phần. Thứ ba, ngày nay xu thế hội nhập không ngừng gia tăng, các doanh nghiệp không chỉ kinh doanh ở trong nước mà còn phải mở rộng hoạt động ở các thị trường nước ngoài. Do đó, khi đánh giá môi trường đầu tư của một nước cụ thể, không thể so sánh với môi trường đầu tư của các nước khác, đặc biệt là các nước trong khu vực. Bởi vì, các nhà đầu tư nước ngoài có một quyền rất lớn: đó là quyền tự do lựa chọn thị trường đầu tư ở nước này hay nước khác, quyền không đầu tư nếu môi trường không đáp ứng được các yêu cầu của họ, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt về vốn đầu tư. Nói đến môi trường đầu tư là nói đến hàng chục yếu tố hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh của dự án đầu tư, không kể vốn đầu tư là từ trong nước hay từ ngo ài nước. Đó là một môi trường đầu tư chung, “một sân chơi b ình đẳng” cho tất cả mọi người không kể quốc tịch và trình độ phát triển. 3.2 Chính sách đầu tư nước ngoài Chính sách đầu tư nước ngoài là một bộ phận trong các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Chính sách phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia đ ược chia thành chính sách đố i nội và chính sách đối ngoại. Theo lĩnh vực áp dụng, chính sách đối ngoại của một quốc gia được chia thành chính sách ngoại giao (lĩnh vực chính trị) và chính sách kinh tế đối ngoại (lĩnh vực kinh tế). Theo nội dung, chính sách kinh tế đối ngoại lại được chia thành chính sách ngoại thương, chính sách đ ầu tư nước ngoài, chính sách tỷ giá hối đoái và quản lý ngoại hối… Trong mỗi chính sách bộ phận trên lại có hàng lo ạt các chính sách khác. Chẳng hạn, chính sách đầu tư bao gồm chính sách thu hút đầu tư nước ngoài và chính sách đầu tư ra nước ngoài. Chính sách đầu tư nước ngo ài bao gồm một hệ thống các chính sách, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh các hoạt động đầu tư quốc tế của một quốc gia (bao gồm đầu tư ra nước ngoài và thu hút đầu tư nước ngoài) trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Chính sách đ ầu tư nước ngoài nhằm điều chỉnh và giải quyết các vấn đề của đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp. Nhiệm vụ của nó là phải giúp cho nhà nước đưa ra những quyết sách thích hợp để ứng xử với tình hình đầu tư nước ngoài, phải trả lời được là nên khuyến khích đầu tư ra nước ngoài hay thu hút đầu tư vào trong nước? Tỷ lệ giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếpở khoảng nào là tối ưu? Sử dụng các công cụ nào để khuyến khích đầu tư nước ngoài? Khuyến khích đầu tư nước ngo ài vào khu vực nào và ngành kinh tế nào?
  8. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Theo tính chất, chính sách đầu tư nước ngoài có thể được phân thành chính sách đầu tư tự do và chính sách hạn chế đầu tư. Theo nội dung, chính sách đầu tư nước ngo ài có thể được chia thành: - Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính; - Chính sách ngành và lĩnh vực đầu tư (chính sách cơ cấu); - Chính sách thị trường; - Chính sách lao động; - Chính sách đất đai; - Chính sách công nghệ… 3.2.1 Chính sách tài chính và các khuyến khích tài chính Chính sách này bao gồm các chính sách thuế và các khuyến khích khác như tỷ lệ thuế mà các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp cho ngân sách nhà nước, thời gian miễn thuế kể từ khi doanh nghiệp kinh doanh có lợi nhuận. Sau kỳ chịu thuế này, các doanh nghiệp có thể được giảm thuế trong một thời gian nào đó. Luật thuế xuất nhập khẩu cũng là một công cụ để khuyến khích hay hạn chế đầu tư nước ngoài. Nếu một hàng hoá được khuyến khích đầu tư sản xuất bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong một nước thì có thể được miễn giảm thuế xuất (nhập) khẩu. Hoàn trả thuế lợi tức. Một khi lợi nhuận được sử dụng để tái đầu tư, nhà đầu tư nước ngo ài sẽ đ ược hoàn trả một phần hay toàn bộ thuế lợi tức đã nộp. Thuế chuyển lợi nhuận về nước. Thông thường, vốn trả nợ cho nước ngoài không phải chịu thuế, song khoản vay mượn này phải được kê khai trong hồ sơ d ự án đầu tư xin giấy phép đầu tư. Lợi nhuận chuyển ra nước ngoài cần được xem xét về mức độ đánh thuế của nó. Thuế thu nhập cá nhân. Thuế thu nhập cá nhân được đánh vào những người có thu nhập cao làm việc trong các dự án đầu tư nước ngoài. Quy định hình thức và tỷ lệ góp vốn. Nhà đầu tư trong và nước ngoài có thể góp vốn dưới các hình thức khác nhau như: bằng tiền mặt, máy móc, nguyên vật liệu, quyền sở hữu công nghiệp hay giá trị quyền sở hữu đất. Sự chuyển vốn ra nước ngo ài. Thông thường sau khi chịu thuế, nhà đầu tư nước ngoài có thể chuyển về nước những khoản lợi nhuận; giá trị chuyển nhượng công nghệ và dịch vụ; vốn đầu tư thu hồi; gốc và lãi từ các kho ản nợ thu được. 3.2.2 Chính sách về cơ cấu đầu tư Những ngành, lĩnh vực mà các nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư tự do, những ngành đòi hỏi một số điều kiện nhất định và những ngành, lĩnh vực được khuyến khích… 3.2.3 Chính sách đất đai
  9. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chính sách này xác định quyền của nhà đầu tư nước ngoài trong quan hệ sở hữu đất đai, thời hạn và giá cả thuê đất. 3.2.4 Chính sách lao động Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có được phép tự do tuyển d ụng lao động hay không và phải tôn trọng các nguyên tắc nào trong mối quan hệ chủ thợ. Thông thường, các nhà đầu tư phải ưu tiên tuyển dụng các lao động tại nước sở tại, đặc biệt là các lao đ ộng ở địa phương đặt trụ sở. Việc tuyển dụng lao động có thể thông qua văn phòng tuyển dụng, tư vấn đầu tư hay các tổ chức dịch vụ. Chỉ khi nào những cơ quan trên không cung cấp được cho doanh nghiệp những lao động phù hợp về số lượng và chất luợng thì doanh nghiệp mới trực tiếp đứng ra tuyển dụng. Khi có nhu cầu sử dụng lao động nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngo ài, các bên hợp danh cần giải trình sự cần thiết phải sử dụng lao động nước ngoài có kèm theo chứng chỉ nghề nghiệp của người lao động nước ngoài gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của doanh nghiệp để xem xét việc cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật về lao động. II. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế của các nước Để phát triển kinh tế đòi hỏi phải có vốn. Thực tế cho thấy hầu như tất cả các nước đều thiếu vốn đầu tư. Đ ể khắc phục tình tràng thiếu vốn, các nước sử dụng biện pháp thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, nhất là đầu tư trực tiếp. Do đó đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) là một vấn đề được nhiều nước phát triển và đang phát triển rất quan tâm. 1. Bản chất và đặc điểm của FDI 1.1 Bản chất FDI Trong hợp tác đầu tư quốc tế thường có nhiều nguồn vốn khác nhau. Nhìn chung, vốn nước ngoài đầu tư vào trong nước bằng hai con đường: đường công cộng (official) và đương tư nhân ho ặc thương mại (commercial). Hình thức chủ yếu của đường công cộng là viện trợ, bao gồm viện trợ không hoàn lại và cho vay dài hạn với lãi suất thấp từ các tổ chức quốc tế hoặc chính phủ của các nước tiên tiến. Viện trợ không hoàn lại không trở thành nợ nước ngoài, nhưng quy mô nhỏ và thường chỉ giới hạn trong lĩnh vực văn hoá, giáo dục và cứu trợ. Các hình thức chủ yếu trong đầu tư quốc tế là đ ầu tư trực tiếp, đầu tư qua thị trường chứng khoán, vay của các định chế kinh tế và các ngân hàng nước ngoài (vay thương mại) và nguồn vốn viện trợ phát chính thức (ODA). Do vậy thương mại với lãi suất cao nên dễ trở thành gánh nặng về nợ nước ngo ài trong tương lai. Đ ầu tư qua thị trường chứng khoán không trở thành nợ nhưng lại thay đổi đột ngột trong hành động (như: bán chứng khoán, rút tiền về nước) của nhà đầu tư nước ngoài làm ảnh hưởng mạnh đến thị trường vốn, gây biến động tỷ gia và các mặt khác của nền kinh tế
  10. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG vĩ mô. FDI cũng là hình thức đầu tư không trở thành nợ. Đây là vốn có tính chất lâu dài ở bản xứ nên không dễ rút đi trong thời gian ngắn. Ngoài ra, FDI không chỉ đầu tư vốn mà còn đ ầu tư công nghệ và tri thức khách hàng nên dễ thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp hiện đại và phát triển kinh tế. 1.2 Đặc điểm chủ yếu của FDI Hiện nay FDI có những đặc điểm sau đây: 1.2.1 FDI trở thành hình thức chủ yếu trong đầu tư nước ngoài. Xét về xu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh tế thế giới, gắn liền với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia và các doanh nghiệp quốc tế 1.2.2 FDI đang và sẽ tăng mạnh ở các nước đang phát triển Có nhiều lý do giải thích mức độ đầu tư cao giữa các nước công nghiệp phát triển với nhau, nhưng có thể thấy hai nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất, môi trường đầu tư của các nước phát triển có độ tương hợp cao. Môi trường này hiểu theo nghĩa rộng bao gồm cả môi trường công nghệ và môi trường pháp lý. Thứ hai, xu hướng khu vực hóa đã thúc đẩy các nước này thâm nhập thị trường của nhau. Cũng với hai lý do chính đó, ta có thể giải thích được xu hướng tăng lên của FDI ở các nước công nghiệp mới (NICs), các nước ASEAN và Trung Quốc, Ấn Độ. Quá trình tự do hoa kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường ở các nước này cũng như khu vực Đông Âu và Liên Xô đã tạo nên những khoảng trống mới cho đầu tư. Mặc khác, các nhà đầu tư lớn nhất có xu hướng cũng cố khu vực lân cận của mình. Như vậy, xu hướng tự do hoá và mở cửa nền kinh tế của các nước đang phát triển trong những năm gần đây đ ã góp phần đáng kể vào sự thay đổi dòng chảy FDI. Năm 1990, tổng số vốn đầu tư của các nước đang phát triển nhận được là 19%, năm 1991 là 25% và năm 1992 khoảng 30%. Trong những năm gần đây tỷ lệ này vẫn có xu hướng tăng lên. 1.2.3 Cơ cấu và phương thức ngày càng đa dạng hơn về cơ cấu FDI, đặc biệt FDI vào các nước công nghiệp phát triển có những thay đổi như sau: - Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao tăng lên. Hơn 1/3 FDI tăng lên hằng năm là tập trung vào các ngành then chốt như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo và chế tạo máy. Trong khi đó, nhiều ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm tuyệt đối hoặc không đầu tư. - Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên. Điều này có liên quan đến
  11. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP của các nước OECD tăng lên và hàm lượng dịch vụ trong công nghiệp chế tạo cao. Một số lĩnh vực ưu tiên là các dịch vụ thương mại, bảo hiểm, các dịch vụ tài chính và giá trị. Tỷ lệ các nguồn FDI và d ịch vụ tăng rất mạnh từ thập kỷ 80: năm 1985, FDI vào dịch vụ tại Mỹ chiếm tỷ trọng 44% (so với 32% năm 1950), vào Nhật Bản là 52% (so với 20% năm 1965)… 1.2.4 Sự gắn chặt chẽ giữa FDI với ODA, thương mại, và chuyển giao công nghệ FDI và thương mại có liên quan rất chặt chẽ với nhau. Thông thường một chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được nhằm vào mục đích tiềm năng xuất khẩu của một nước. Mặt khác, các công ty nước ngoài được lựa chọn và địa điểm đầu tư cũng dựa trên cở sở tăng khả năng của sản phẩm trên thị trường quốc tế. FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyể giao công nghệ. Xu hướng hiện nay là FDI và chuy ển giao công nghệ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. đấy chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế. Nhiều đã đạt được thành công trong việc hấp thụ các yếu tố bên ngoài để phát triển kinh tế trong nước là nhờ chú ý đến điều này. Hơn nữa, chuyển giao công nghệ giúp nâng cao năng lực cộng nghệ bản địa. Kinh nghiệm của các nước cho thấy rằng, sự tách rời công nghệ với thương m ại quốc tế, trước hết là xuất khẩu đã làm cho năng lực công nghệ quốc gia không được cải thiện, ngược lại có nguy cơ tụt hậu do thiếu sức cạnh tranh. Sự gắn bó giữa FDI và các nguồn viện trợ và vay nợ khác cũng là một đặc điểm nổi bật của sự lưu chuyển các nguồn và công nghệ trên phạm vi quốc tế trong những năm gần đây. Hơn nữa, xu hướng này sẽ ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn. Lý do là trước đây các nguồn viện trợ và cho vay thường nhằm vào m ục đích quân sự và chính trị, do đó hiệu quả của nó đối với thúc đẩy phát triển sự phát triển kinh tế của các nước nhận và nước cho rất thấp. Ở các nước chậm phát triển nhất hiện nay viện trợ và cho vay chiếm 90% các nguồn vốn từ b ên ngoài bên ngoài. Viện trợ và cho vay trong nhiều trường hợp dẫn đến sự phụ thuộc một chiều hơn là giúp cho các nước nhận có được sự phát triển tự thân và tham gia có hiệu quả và phân công lao động quốc tế. Vì vậy, các nguồn vốn này đã được các chính phủ, các tổ chức quốc tế đặt trong các mối quan hệ với các nguồn vốn tư nhân nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng chúng. 2. Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế đất nước 2.1 Một số quan điểm về FDI của các nhà kinh tế học Đầu thế kỷ XX các nhà kinh tế đã bàn nhiều về xuất khẩu tư bản. V.I.Lênin cho rằng:xuất khẩu tư bản là m ột đặc điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản hiện đại (tức chủ nghĩa tư b ản độc quyền). Theo ông, trong giai đoạn cạnh tranh tự do đặt diểm của chủ nghĩa tư bản là xuất khẩu hàng hóa, còn trong giai đoạn hiện đại là xuất khẩu tư bản. Xuất khẩu tư
  12. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG bản có ảnh hưởng đến nguồn vốn đầu tư của các nước xuất khẩu tư bản, nhưng lại giúp các tổ chức độc quyền thu được lợi nhuận cao ở nước ngoài. Ngoài ra, xuất khẩu tư bản còa vai trò bảo vệ chế độ chính trị ở các nước nhập khẩu tư b ản và ít nhiều có tác dụng thúc đẩy phát triển kinh tế, kỹ thuật. Song về hậu quả nhân dân oqr các nước nhập khẩu tư bản bị bốc lột nhiều hơn, sự lệ thuộc về kinh tế và kỹ thuật tăng lên, dẫndeens sự phụ thuộc về chính trị là khó tránh khỏi. Từ phân tích trên, V.L.Lê nin rút ra kết luận “ các nước xuất khẩu tư b ản hầu như bao giờ cũng có khả năng thu được một số” khoản lợi” nào có, và tính chất của những khoản lợi này làm sáng tỏ đặc trưng của thời đại tư bản tài chính và độc quyền”. Vào giữa thế kỹ XX, việc xuất khẩu tư bản, nhất là FDI, phát triển nhanh chóng. Các nhà kinh tế học cho rằng, dể phát triển kinh tế các nước đang phát triển phải có biện pháp thu hút được FDI. Điẻn hình là hai nhà kinh tế học P.Samue lson và R. Nukse. Trong lý thyết “ cái vàng luẩn quẩn”và cút huých” từ b ên ngoài, Samuelson cho rằng, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức tố thiếu, do đó khả năng tích luỹ vốn hạng chế Mặt khác, theo Samuelon, ở các nước đang phát triển, nguồn nhân lực hạn chế bởi tuổi thọ và dân trí thấp; tài nguyên thiên nhiên khan hiếm; kỹ thuật lạc hậu và gặp trở ngại trong việc kết hợp chúng. Do vậy, ở nhiều nước đang phát triển ngày càng khó khăn và càng tăng” cái vòng luẩn quẩn”. Samuelson cho rằng: để phát triển kinh tế phải có”cú huých từ bên ngoài nhằm phá vỡ cái vòng luẩn quẩn”. Đó là phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển. Theo ông, “nếu có quá nhiều trở ngại như vậy đối với việc đi tìm tiết kiệm trong nước để tạo vốn thì tại sao không d ựa nhiều hơn vào các nhuồn bên ngoài? Chẳng phải lý thuyết kinh tế đã từng nói với chúng ta rằng, một nước giàu, sau khi đã hút hết những dự án đầu tư có lợi nhuậnước cao của mình, cũng có thể làm lợi cho chính nó và nước nhận đầu tư bằng cách đầu tư những dự án lợi nhuận cao ra nước ngoài đó sao?” Sơ đồ 1: vòng luẩn quẩn của các nước đang phát triển Tiết kiệm và đầu tư thấp Thu nhập b ình Tốc đ ộ tích quân thấp luỹ vốn thấp Năng suất lao động thấp
  13. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Theo ông R.Nurkse, mở cửa cho FDIcó ý nghĩa đối với các nước đang phát triển có thể vươn đến những thị trường mới, cũng như khuyến khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý có hiệu quả. FDI giúp các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi về lãi suất chặt chẽ, về điều kiện thanh toán nợ và những điều hay tác động đến vay nợ quốc tế. Mặc dù FDI là để phục vụ cho việc củng cố hệ thống này, các nước có thu nhập thấpđược chuyên môn hóa sản xuất nguyên liệu và thực phẩm xuất khẩu, được chuyên môn hoá dựa trên nguyên tắt bất di bất dịch của lợi thế trong thương mại quốc tế, dù rằng FDI trước hết phục vụ cho lợi ích của các công nghiẹp xuất khẩu, chứ không phải của nước nhận vốn, và thậm chí phần nào các nước đang phát triển phải chịu sự mất cân bằng không tránh khỏi, nhưng vẫn nên mở cửa hơn là đóng cửa. R.Nurkse cho rằng, FDI đem lại lại lợi ích chung cho cả hai bên, dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được vì nó là đòi hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình vận động thị trường. Đầu tư trực tiếp là kết quả hoàn toàn tự nhiên bởi hoạt động tự do của các động cơ kiếm lợi nhuận. Lẽ tất yếu là phương hướng của đầu tư tư nhân chịu tác động lớn của hướng vận động lớn của hướng vận động thị trường. 2.2 Vai trò của FDI đối với việc phát triển kinh tế Qua phân tích quan điểm của nhà kinh điển về vai trò của FDI và đặc điểm của FDI, ta thấy FDI có những thế mạnh của nó. Dù vẫn chịu chi phối của Chính phủ, nhưng FDI ít lệ thuộc vào m ối quan hệ chính trị giữa hai bên. Mặt khác, bên nước ngo ài trực tiếp tham gia quản lý sản xuất, kinh doanh nên mức độ khả thi của dự án khá cao, đặc biệt la trong việc tiếp cận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu. Do quyền lợi gắn chặt với dự án, họ quan tâm đến hiệu quả kinh doanh nên có thể lựa chọn công nghệ thích hợp, nâng cao trình độ quản lý và tay nghề của công nhân. Vì vậy, FDI ngày càng có vai trò Phòng tổ chức hành chính lớn đối với việc thúc đẩy qúa trình phát triển kinh tế ở nước đầu tư và các nước nhận đầu tư. Cụ thể là: - Đối với các nước đầu tư, đầu tư ra nước ngoài giúp nâng cao hiệu quả sử dụng những lợi thế sản xuất ở nơi tiếp nhận đầu tư, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư và xây dựng được thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng. Mặc dù, đầu tư ra nước ngoài giúp bành trươngsuwcs m ạnh kinh tế và nâng cao uy tín chính trị. Thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước đầu tư mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước. - Đối với các nước nhận đầu tư. H iện nay có hai dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài. Đó là dòng chảy vào các nước phát triển và dòng chảy vào các nước đang phát triển.
  14. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG + Đối với các nước kinh tế phát triển, FDI có tác dụng lớn trong việc giải quyết những khó khăn về kinh tế, xã hội như thất nghiệp và lạm phát… Qua FDI, các tổ chức kinh tế nước ngoài mua lại những công ty, doanh nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán và tạo công ăn việc làm cho người lao động. FDI còn tạo điều kiện tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách, tạo ra môi trường cạnh tranh thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại, giúp người lao động và cán bộ quản lý học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nước khác. + Đối với các nước đang phát triển, FDI giúp đẩy mạnh tốc độ phát triển kinh tế thông qua việc tạo ra những doanh nghiệp mới, thu hút thêm lao động, giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở nước này. Theo thống kê của Liên hợp quốc, số người thất nghiệp và bán thât nghiệp của các nước đang phát triển chiếm khoản 35-38% tổng số lao động FDI giúp các nước đang phát triển khắc phục tình trạng thiếu vốn kéo dài. FDI là phương thức đầu tư phù hớp với các nước đang phát triển, tình tràng tích lũy quá căng thẳng dẫn đến những méo mó về kinh tế không đáng xảy ra. Theo sau FDI là máy móc thiết bị và công nghệ mới, giúp các nước đang phát triển tiếp cận với khoa học-kỹ thuật mới. Quá trình đưa công nghệ vào sản xuất giúp tiết kiệm chi phí và nâng cao khả năng cạnh tranh của các nước đang phát triển trên thị trường quốc tế. Cùng với FDI, những kiến thức quản lý kinh tế, xã hội hiện đại được du nhập vào các nước đang phát triển, các tổ chức sản xuất trong nước bắt kịp phương thức quản lý công nghiệp hiện đại, lực lượng lao động quen dần với phong cách làm việc công nghiêpk cũng như hình thành dần đội ngũ những nhà doanh nghiệp giỏi. FDI giúp các nước đang phát triển mở cửa thị trường hàng hóa nước ngoài và đi kèm với nó là những hoạt động marketing được mở rộng không ngừng. FDI giúp tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh thuế các công ty nước ngoài. Từ đó các nước đang phát triển có nhiều khả năng hơn trong việc huy động nguồn tài chính cho các dự án phát triển. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên cạnh những ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là:  Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị thì nhà đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn.  Nếu nước sở tại không có một qui hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Cũng như các nước đang phát triển, để phá “cái vòng luẩn quẩn” và phát triển kinh tế, đòi hỏi Việt Nam phải có biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài, nhất là FDI. Ngày 18-04-1977, nước ta thông qua “điều lệ
  15. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG đầu tư nước ngo ài”. Ngày 29-12 -1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua và đ ến nay được bổ sung ba lần vào ngày 30-06-1990, ngày 23 -12-1992 và ngày 12-11-1996. Qua các lần sửa đổi bổ sung Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày càng hấp dẫn hơn đối với các nhà đ ầu tư nước ngoài và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế Việt Nam và xu hương thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của các khu vực. Sở dĩ Đảng và Nhà nước ta quan tâm tới FDI như vậy, vị đối với nước ta, hình thức này có vai trò rất là quan trọng. Điều này thể hiện ở chỗ: Giúp đ ẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế của đất nước. Để đạt được những chỉ tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong những năm tới, thì tốc độ phát triển b ình quân hằng năm phải đạt ít nhất 7% và nhu cầu về vốnước đầu tư có từ 4,2 tỷ USD trở lên cho mỗi năm. Đây là con số không nhỏ đối với nền kinh tế của nước ta, cho nên FDI là nguồn bổ sung quan trọng để phát triển kinh tế ở Việt Nam. FDI đem lại khả năng mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng những doanh nghiệp và cơ sở sản xuất dịch vụ mới làm cho tổng sản phẩm xã hội của Việt Nam tăng lên và cho phép giải quyết được tình trạng thất nghiệp của người lao động. Tính đến hết năm 1997, đã có 2.317 dự án đầu tư nước ngoài được cấp giấy phép. Hiện nay, cả nước có 1.928 dự án đang hoạt động với tổng vốn đăng ký đầu tư là 32,1 tỷ USD, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, tăng thu ngân sách nhà nước. - Thông đầu tư nước ngoài, nhất là FDI, chúng ta tiếp nhận thành tựu phát triển khoa học-kỹ thuật tiên tiến của thế giới, nhờ đó rút ngắn khoảng cách của ta so với thế giới. - Nhờ có FDI chúng ta sử dụng có hiệu quả những lợi thế của đất nước mà nhiều năm qua không thể thực hiện do thiếu vốn như khai thác dầu mỏ, khoáng sản v.v… Ngoài ra, trong quá trình tiếp nhận FDI chúng ta học được kinh ngiệm quản lý kinh doanh và cách làm thương mại trong điều kiện kinh tế thị trường của các nước tiên tiến. Tóm lại, FDI có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để đưa nước ta nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của thế giới và khu vực. III. Tầm quan trọng của các doanh nghiệp có vốn FDI 1. Doanh nghiệp có vốn FDI 1.1 Nguồn gốc của doanh nghiệp có vốn FDI Một trong những hình thức biểu hiện của đầu tư trực tiếp nước ngoài là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngo ài. Đối với Việt Nam đây là một loại hình doanh nghiệp mới, được hình thành kể từ khi luật đầu tư nước ngoài được ban hành đầu tiên vào năm 1988. Mặc dù doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm một tỷ trọg
  16. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG không lớn ở nhiều quốc gia kể cả các nước NICs ở Châu Á, tuy nhiên ở một số nước ASEAN con số này là khá cao và thực tế đã cho thấy vai trò quan trọng của loại hình doanh nghiệp này đối với đời sống kinh tế của Việt Nam. Trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoa, quốc tế hoá nền kinh tế không thê đảo ngược thì các doanh nghiệp FDI thực sự trở thành một bộ phận cấu thành hữu cơ của toàn nền kinh tế, là nhân tố cần thiết, quan trọng tạo dựng những nền tảng cơ bản giúp Việt Nam nói và Đà Nẵng nói riêng từng bước hoà nhập vào thị trường thế giới. Bắt đầu từ những năm 90, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hoá nền kinh tế thế giới được mở rộng, cùng với tự do hoá thương mại, tự do hoá đầu tư xuất hiện đã tạo cơ hội phát triển mạnh mẽ cho các doanh nghiệp FDI phát triển với quy mô ngày càng tăng. Đồng thời do nghịch lý của tự do hoá đầu tư, các doanh nghiệp FDI được coi là phương tiện hữu hiệu để vượt qua hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Sự khác nhau về văn hóa, luật pháp và các chính sách của Chính phủ các nước cũng như trình đ ộ phát triển, các doanh nghiệp FDI thực hiện mở rộng quy mô, thực hiện chuyển giao công nghệ và do đó kéo dài chu kỳ sống sản phẩm và dịch vụ. Các doanh nghiệp FDI xuất hiện ở hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế, từ lĩnh sản xuất - chế tạo - lắp ráp, khai thác tài nguyên, dịch vụ như bảo hiểm, kiểm toán, vận tải, tư vấn, tài chính – ngân hàng … cho đên các lĩnh vực nghiên cứu, triển khai và đào tạo. Quy mô của các doanh nghiệp FDI cũng rất đa dạng từ dự án chỉ vài trăm ngàn USD với thời gian hoạt động ngắn cho đến dự án lên tới vài tỷ USD với thời gian dài (99 năm). 1.2 Khái niệm doanh nghiệp có vốn FDI Doanh nghiệp FDI không phải là khái niệm mới trong quan hệ kinh tế quốc tế và trong đ ời ssống kinh tế thế giới, cho dù ở Việt Nam chi xuất hiện được hơn 10 năm. Các doanh nghiệp FDI có nhiều hình thức tổ chức khác nhau vơi quy luật vận động nội tại và những đặc thù hoạt động và phát triển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI cũng được quan niệm theo những cách khác nhau. Quan niệm thứ nhất: cho rằng doanh nghiệp FDI là một quan hệ bạn hàng lâu dài giữa các bên tham gia trên cơ sở cùng góp vốn và các yếu tố sản xuất khác để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm đem lại lợi ích cho các bên. Quan niệm thứ hai: cho rằng doanh nghiệp FDI là m ột thực thể kinh doanh được thành lập bởi các bên có quốc tịch khác nhau để cùng góp vốn, cùng quản lý, cùng phân chia lợi nhuận và chia sẽ rủi ro. Quan niệm thứ ba: cho eằng doanh nghiệp FDI bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp FDI là nước tiếp nhận đầu tư vì được thành lập theo Luạt pháp của nước đó.
  17. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định”Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài “. Theo nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đánh giá đây là một quy định thông thoáng và có khả năng hấp nhẫn đầu tư cao. Kết hợp với chính sách khác như cho phép người nước ngoài vốn và lợi nhuận ra nước ngoài , rõ ràng tạo ràng ra một môi trường đầu tư thuận lợi, cho phép nhà đầu tư được hưỡng những điều kiện kinh doanh hết sức ưu đãi. 1.3 Các hình thức của các doanh nghiệp có vốn FDI Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên ho ặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chính phu nước ngo ài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vố đầu tư nước ngoài hợp tác vóidn Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư trên cơ sở hợp đồng liên doanh. Có thể chia doanh nghiệp liên doanh thành 3 loại hình sau: - Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp được thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam. - Doanh nghiệp liên doanh mới: là doanh nghiệp được thành lập giữa doanh nghiệp liên doanh đã được phép hoạt động tại Việt Nam hoặc với doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đã được phép hoạt động tại Việt Nam. - Trong trường hợp đặc biệt,doanh nghiệp liên doanh có thể được thành lập trên cơ sở hiệp định ký kết giữa chính phủ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chính phủ nước ngoài. Khác với hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng liên doanh dẫn đến sự hình thành một pháp nhân mới. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân tuân theo pháp luật Việt Nam. Đối với doanh nghiệp liên doanh, các bên tham gia được chia lợi nhuận và chia sẽ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn của mỗi bên vào phần vốn pháp định của liên doanh. Theo pháp luật Việt Nam phần góp vốn pháp định của bên nước ngoài không hạn chế về mức cao nhất như một số nước khác, nhưng không được ít hơn 30% vốn pháp định. Hiện nay, tại Việt Nam doanh nghiệp liên doanh chiếm tới 61% dự án và 70% số vốn đầu tư. Việc các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhiều đến hình thức thành lập các doanh nghiệp liên doanh chủ yếu là do khi đầu tư vào thị trường mới, các nhà đầu tư nước ngoài chưa hiểu rõ phong tục tập quán, thói quen tiêu dùng, luật lệ kinh doanh, nên muốn liên doanh với các doanh nghiệp trong nước để giúp họ khắc phục mọi khó khăn về thủ tục, thông tin, chia sẻ rủi ro trong quá trình tiến hành thành lập cũng như khi doanh nghiệp đi vào hoạt động. Thêm vào đó,với chính
  18. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG sách khuyến khích đầu tư chiều sâu, đã kích thích các doanh nghiệp trong nước có nhu cầu liên doanh với các đối tác nước ngoài, nhằm sử dụng có hiệu quả hơn mặt bằng, nhà xưởng, máy móc, có điều kiện tiếp nhận công nghệ mới, nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là doanh nghiệp hoàn toàn thuộc quyền sở hữu cảc các tổ chức, cá nhân nước ngoài, do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập và tự quản lý. Doanh nghiệp này được thành lập d ưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân Việt Nam. Khác với xí nghiệp liên doanh, xí nghiệp 100% vốn nước ngoài hoàn toàn do bên nước ngo ài góp vốn, tự quản lý, tự chịu mọi rủi ro, thu mọi lợi nhuận. Nhưng doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài phải chịu sự kiểm soát của nước sở tại và thực hiện mọi nghĩa vụ theo luật định cũng như theo cam kết. Mặc dù số doanh nghiệp được thành lập theo hình thức 1))% vốn nước ngoài chưa nhiều, nhưng có thể thấy rằng xu hướng gia tăng các dự án đầu tư theo hình thức này đã thể hiện rõ trong thời gian qua. Điều này thể hiện qua việc gia tưng tỷ trọng các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong tổng số dự án đ ược cấp giấy phép. Xu hướng này một mặt phản ánh trạng thái của các nhà đầu tư nước ngo ài muốn được tự chủ trong kinh doanh, trong điều hành hoạt động của doanh nghiệp, không b ị lệ thuộc vào đối tác Việt Nam, đồng thời tận dụng được nguồn lao động, tài nguyên và thị trường sẵn có. Mặt khác cũng thể hiện một thực tế là khả năng góp vốn, khả năng hợp tác của các tổ chức kinh tế Việt Nam với nước ngoài còn có nhiều hạn chế. Như vậy, thông qua hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cho phép các nước chủ nhà tăng cường khai thác nguồn vốn bên ngoài, cũng như giải quyết các vấn đề vướng mắc khác. Thực tế ở nhiều nước đang phát triển mà nôit bật là ASEAN, nhở FDI đã giải quyết một phần khó khăn, góp phần thúc đẩy việc thực hiện thành công quá trình công nghiệp hoá đất nước. 2. Đặc điểm của các doanh nghiệp có vốn FDI Là một loại hình doanh nghiệp hình thành và phát triển bắt nguồn từ hoạt động đầu tư nước ngo ài tại Việt Nam, nên loại hình doanh nghiệp có những đặc điểm riêng, khác biệt với các loại hình doanh nghiệp khác, cần phải tìm hiểu nghiên cứu kỹ lưỡng, để hạn được những sai lầm không đáng có trong quá trình quản lý hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp này. 2.1 Lo ại hình doanh nghiệp và chủ thể của các doanh nghiệp có vốn FDI Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, dù hình thức đầu tư là doanh nghiệp liên doanh hay doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài nhưng
  19. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG điều đ ược thành lập duới dạnh các công ty trách nhiệm hữu hạng. Do đó trong quá trình hoạt động, cũng như khi thanh lý hợp đồng, xử lý tranh chấp đều tiến hành áp dụng những quy định của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn. Trong hoạt động của các doanh nghiệp này cá sự tham gia có đối tác nước ngo ài, chủ yuế làn công ty đa quốc gia ( chiếm 90% số lượng vốn đầu tư trực tiếp FDI trên thế giới ). Khi đầu tư vào các quốc gia khác các công ty đa quốc gia có thể lựa chọn nhiều hình thức. Nhưng dưới hình thức nào thí chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu theo luật đầu tư của mõi nước. Việt Nam quy định chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu 30% pháp định của dự án. Quyền quản lý doanh nghệp cũng như mức độ gánh chịu trách nhiệm về hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn. nếu chủ đầu tư nước ngoài góp 100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do họ quản lý, điều hành. Nhìn chung do nắm ty lệ vốn lớn nên đối tác nước ngoài thường nằm quyền chủ động trong các doanh nghiệp. Bởi vậy cơ cấu tổ chức cũng như quản lý điều hành ho ạt động của các doanh nghiệp này chịu ảnh hưởng rõ nét, mang phong cách của các công ty đa quốc gia nước ngoài. Khi tiến hành đầu tư nước ngoài trực tiếp, động cơ chung của các nhà đ ầu tư nước ngoài là tìm kiếm một thị trtường hấp dẫn, thuận lợi và an toàn nhằm thu đ ược lợi nhuận cao và đ ảm bảo nkhả năng phát triẻn lâu dài của doanh nghịêp. Tuy nhiên, do chiến lược phát triển của các doanh nghiệp và mục tiêu của nó ở thị trường nước ngoài là khác nhau, mối quan hệ sẵn có của doanh nghiệp với nước chủ nhà là khác nhau do đó động cơ cụ thể trong từng doanh nghiệp cũng khác nhau. Nhìn chung có 3 động cơ chính sau: - Đầu tư đ ịnh hướng thị trường: là hình thức đầu tư nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty mẹ sang nước sở tại. - Đầu tư định hướng chi phí: là hình thức đầu tư nước ngoài nhằm giảm chi phí sản xuất kinh doanh, thông qua việc tận dụng lao động và tài nguyên rẽ của nước sở tại nhằm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao tỷ suất lợi nhuận. - Đ ịnh hướng nguyên liệu: là hình thứcdt theo chiều dọc. Các doanh nghiệp nước ngoài là một bộ phạn cấu thành trong dây chuyền của công ty mẹ. nó chịu trách nhiệm khai thác nguồn nguên liệu tại chỗ của nước sở tại cung cấp cho công ty mẹ đẻ tiếp tục sản xuất dảnb phẩm hoàn chỉnh. 2.2 Lĩnh vực và địa bàn đầu tư của doanh nghiệp có đầu tư FDI Thời gian qua cơ cáu đ ầu tư của các doanh nghệp Fdi đã có những sự chuyển dịch khá lớn theo định hướngb và nhu cầu phát triển kinh tế và Việt Nam. Về cơ cấu ngành, nếu trong nhữnh năm đầu khi luật đầu tư nước ngoài ra đời, đa số các doanh nghiệp tẩp trung vài các ngành dầu (
  20. ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32,2% ), khách sạn ( 20,6% ) thì hiện nay đầu tư nước ngoài hướng mạnh vào lĩnh vực sản xuất ra của cải vật chất, xây dựng két cấu hạ tầng. Số lưọng các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vào công nghiệp ngày càng tăng lênm, nhiều doanh nghiệp đàu tư chiều sâu nhằm khai thác, nâng cấp năng lực sản xuất hiện có. Đến nay có khoảng 70% số doanh nghiệp các ngành sản xuất vật chất, xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất hàng tiêu dùng, dịch vụ và hàng x uất nhập khẩu. Cụ thể, công nghiệp: 1.985 dự án, vốn đầu tư 20.878 triệu USD; dịch vụ (giao thông vận tải, bưu điện, khách sạn – du lịch, tài chính – ngân hàng, xây d ựng): 679 dự án, vốn đầu tư 14.838 triệu USD. Trong đó Đ à Nẵng có 52 dự án (trong đó có 42 dự án công nghiệp và 10 dự án dịch vụ). Về cơ cấu vùng lãnh thổ, đa số các doanh nghiệp tập trung vào vùng kinh tế trọng điểm là: thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai – V ũng Tàu, Hà Nội - H ải Phòng - Q uảng Ninh, Đà N ẵng - Huế - Q uảng Ngãi. Số lượng và tỷ trọng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa là rất ít. Tuy có những chuyển biến tích cực so với những năm đầu thực hiện luật đầu tư, nhưng hiện đa số các doanh nghiệp tạp trung vào các ngành công nghiệp nhẹ, sản xuất gia công, lắp ráp, khách sạn, dịch vụ, du lịch những ngành có tỷ suất sinh lời cao và có khả năng nhanh chóng thu hồi vốn đầu tư. Các ngành kinh tế then chốt, các vùng kinh tế trọng điểm, đặc biệt là những ngành quan trọng đối với đời sống xã hội nhưng sinh lời ít, thu hồi vốn như đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nông lâm ngư nghiệp, cơ khí chế tạo, các ngành yêu cầu kỹ thuật cao thì số lượng doanh nghiệp cũng như tỷ trọng vốn đầu tư còn thấp. Nếu có, thường là những doanh nghiệp nhỏ, chủ yếu là thuộc về các chủ đầu tư tại các nước trong khu vực, số lượng các công ty lớn quá ít. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này, bắt nguồn từ chính mục đích của nhà đầu tư đó là lợi nhuận. Đây là động lực thúc đẩy họ tiến thành mọi hoạt động đầu tư kinh doanh. Do đó đối với những lĩnh vực, khu vực đầu tư không” hấp dẫn” rất khó có thể thu hút được họ 2.3 Vốn đầu tư lớn Là sản phẩm của các tổ chức kinh tế, các tập đoàn hùng mạnh nên các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngo ài tại Việt Nam, nhìn chung đều là các doanh nghiệp có vốn lớn, có tiềm lực về lực về tài chính tốt hơn các doanh nghiệp nội địa. Trong một số lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hầu như không có đối thủ trong nước. Ví dụ như trong lĩnh vực khai thác dầu khí, chế tạo và lắp ráp xe máy, kinh doanh mỹ phẩm, nước giải khát. Số lượng các doanh nghiệp tăng với nhịp độ khá nhanh, quy mô b ình quân của một doanh nghiệp những năm 188 – 1990 là 10 triệu USD, đến năm 1995 – 1996 quy mô bình quân tăng lên đến 30 triệu USD, số doanh nghiệp có vốn đầu tư trên 30 – 40
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2