Bộ ba Thế Lữ - Song Kim -
Nguyễn Huy Tưởng
Trong số các cựu học sinh trường Bonnal, Hải Phòng hi những
năm 20 của thế kỷ trước, có lẽ Thế Lữ là người thành danh sm
nhất. Tốt nghiệp bậc Thành chung năm 1928 khi vừa tròn 21 tuổi,
chàng bạch diện thư sinh thi tiếp vào trường Cao đẳng Mỹ thuật
nhưng chỉ học mt năm thì bỏ. Để rồi tìm đến thi ca với những thi
phẩm không vương bụi trần làm mê lòng bao người yêu cái đẹp
thoát tục. Để rồi đến năm 1934, khi mới 27 tuổi, đã tự lập cho
mình một thương hiệu trên báo giới: Lê Ta, người giữ chuyên
mc thơ nổi tiếng sành sỏi trên Phong hóa, cơ quan của Tự lực
Văn đoàn…
Dễ hiểu vì sao thầy giáo Nguyễn Hữu Tảo lại tự hào về người trò
cưng này của mình đến thế. Một ngày cuối năm 1934, khi la học
trò đàn em hỏi chuyện thầy về bậc đàn anh Nguyn Thứ Lễ, tức
Thế Lữ, rằng trước đấy thầy có đoán được tương lai sán lạn của
chàng không, thì thầy đã chẳng ngại ngần trả lời: Có chứ, thầy đã
nhận thấy ngay thiên bẩm của trò Lễ, cũng như trò Hiền, các anh
ấy chịu học lắm, học giỏi lắm (Hiền là Vũ Văn Hiền, cũng là cựu
học trò Bonnal, vsau trở thành luật sư nổi tiếng, có chân trong
nội các Trần Trọng Kim).
Trong số những trò đến hầu chuyện thầy Tảo hôm ấy, có cha tôi
nhà văn Nguyễn Huy Tưởng tương lai. Cha tôi sinh năm 1912,
thua Thế Lữ năm tuổi; tốt nghiệp Thành chung năm 1932, sau
Thế Lữ bốn năm. Bốn, năm năm trong cuộc đời người ta không
phải là nhiều, nhưng vào thời điểm đó, cha tôi cònm ông Thế
Lữ về nhiều phương diện. Năm 1934, khi Thế Lữ đã là một nhà
thơ, một nhà báo có tên tuổi, thì cha tôi còn là mt người vô danh
“trong bóng tối” (chữ dùng của chính ông); khi Thế Lữ đã là người
cm cân nảy mực trên thi đàn, thì cha tôi còn đang tập làm thơ
hòng dự thi báo Phong hóa nơi thi sĩ là một chủ soái. Từ đó đến
đầu những năm 40, cha tôi vẫn thường hay trở đi trở lại ý định
tìm đến Thế Lữ để nhờ ông này đọc thơ chỉ bảo cho, hoc, nếu
được, nhờ thi sĩ viết đề tựa cho tập thơ Nhất điểm linh đài ông
đang khao khát xuất bản. Chỉ đến khi chuyển hẳn sang viết kịch
và tiểu thuyết, cha tôi mới quên đi được nỗi ám ảnh Thế Lữ. Thế
rồi ông gia nhập Văn hóa cứu quốc, quyết đem ngòi bút phụng s
cho lý tưởng mà ông giác ngộ, với một định hướng dứt khoát
“dân tộc, đại chúng, khoa học”. Ông chẳng còn vướng bận với
những vần thơ thoát tục, của mình cũng như của người, dù
chúng có sc cám dỗ đến thế nào...
Cách mạng tháng Tám thành công. Sau những mày mò lúng túng
ban đầu, chỉ ít tháng sau cha tôi đã có vkịch Bắc Sơn, được
công diễn trên sân khấu Nhà hát lớn thủ đô đầu tháng 4-1946.
Thành công của đêm diễn đã có giá trị khích lệ rất nhiều, không
những cho công chúng đang đòi hi những tác phm sân khấu
xứng đáng với nền độc lập đã giành được, mà trước hết là cho
chính cha tôi, người có trách nhiệm cùng các đồng chí của mình
xây dựng một nền văn học nghệ thuật mới. Chắc chắn ông đã rất
tự hào khi đọc những lời khen của công luận, đại loại như “vở
kịch Bắc Sơn có thể xng đáng là một chấm mạnh, cảnh tỉnh cho
những ai còn nghi ngờ kịch cách mạng”, hay “Kịch Bắc Sơn là
mt vở sáng tác... Bắc Sơn là một vở kịch cách mạng mà không
có tính cách tuyên truyền”...
Tuy nhiên, cha tôi là một nhà văn có đủ tố chất nghệ sĩ để biết
nghi ngờ mọi hào quang; ông đặc biệt chú trọng ý kiến của giới
chuyên môn, hoặc chí ít, của những người thực sự có tri thức và
óc phê phán. Nhật ký những ngày này của ông còn ghi lại câu nói
kháy rất đau của một trí thức bạn ông, bác sĩ Phạm Ngọc Khuê:
“Mt thằng bị giam muốn cho nó chết chỉ việc cho nó đọc báo mặt
trận” (nhật ký 24-5-1946). Thế nên, dù đã có Bắc Sơn nổi đình
đám, ông vẫn cảm thấy trợn trợn khi chưa rõ thái độ của những
nhà văn, nhà hoạt động sân khấu ngoài đoàn thể. Không biết
phải do “tự kỷ ám thị” không, nhưng rõ ràng nhật ký của ông ngày
17-7-1946 có một câu khá tự ti: “Cảm thấy sự khinh bỉ ngấm
ngầm trong những phe: Tuân, Thế Lữ, Chu Ngọc”. Lúc này, Thế
Lữ vừa cùng ban kch Anh Vũ với những người bạn chí cốt
Nguyễn Xuân Khoát, Bùi Công Kỳ, Văn Chung... và người bạn
đời Song Kim trở về Hà Nội sau chuyến lưu diễn khắp các tỉnh từ
Hà Nội đến Quy Nhơn. Nhập vào không khí cách mạng tưng
bừng ở thủ đô, đoàn kịch đã mau chóng xây dựng kịch mục cho
những tháng ngày ti. Trong số đó có vở Đề Thám của Lưu
Quang Thuận. Một ngày cuối tháng 7, cha tôi được đạo diễn Thế
Lữ mời đến nhà Minh Đức để họp bàn về việc diễn vở này. Trái
với e ngại ban đầu của cha tôi, ông đã gây được cảm tình; thậm
chí có người còn cho rằng ông đã “hoàn toàn dám bcái cũ”, ý
nói về vở Bắc Sơn của ông. Có thể nói từ đây bắt đầu sự cộng
tác cảm động giữa hai gương mặt của sân khấu kịch nói Việt
Nam hồi đầu những năm cách mạng và kháng chiến: Thế Lữ và
Nguyễn Huy Tưởng...
Những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, cặp vợ chồng Thế Lữ -
Song Kim tản cư về Hà Đông, đến sau Tết Đinh Hợi 1947 thì