VĂN MẪU LỚP 11
CÁC XUNG ĐỘT KỊCH TRONG ĐOẠN TRÍCH VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG
ĐÀI
BÀI MẪU SỐ 1:
1. HS xác định đúng thể loại bài viết: nghị luận văn học.
2. Nội dung:
Đề bài này yêu cầu HS có những hiểu biết khái quát về tác phẩm kịch Như
nói chung đoạn trích Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài nói riêng. Để m bài viết này, HS cần
nắm rõ những nội dung sau:
a. Mâu thuẫn giữa nhân n lao động khốn khổ lầm than với hôn quân bạo
chúa và phe cánh của chúng sống xa hoa trụy lạc.
- Mâu thuẫn này trở nen căng thẳng khi Như xây dựng Cửu Trùng Đài.
Triều đình ra lệnh tăng sưu thuế, bắt thêm thợ giỏi, tróc nã, hành hạ những người chống
đối. Thợ làm việc cần lực mà vẫn bị đói khát, bị ăn chặn. Dân căm phẫn vua làm cho dân
cùng nước kiệt; thợ oán Như nhiều người chết bởi tai nạn, vì ôn cho chém đầu
những kẻ bỏ trốn.
- Tình hình đất nước đã tạo cơ hội thuận lợi cho các phe cánh nổi lên làm loạn. Lợi
dụng tình hình rối ren và những mâu thuẫn ấy, Trịnh Duy Sản “Kẻ cầm đầu phe cách đối
nghịch trong triều” đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ thuyền làm phản.
- Kết quả của mâu thuẫn này là: Lê Trương Dực bị giết, hoàng hậu nhảy vào lựa,
Đam Thiềm, Kim Phượng các cung nữ bị bắt bớ, bị nhục mạ, Như bị đem ra
pháp trường, Cửu Trùng Đài hiện thân cho sự ăn chơi sa đọa của Lê Trương Dực, khát
vọng nghệ thuật của Vũ Như Tô bị đốt thành tro.
b. Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy ca muôn đời và
lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân.
- Nguyên nhân sâu xa của mâu thuẫn này: Người nghệ sĩ thiên tài đầy hoài bão và
tâm huyết cũng không thể thi thố tài năng của mình để đem lại cái đẹp cho đời, niềm tự
hào cho dân tộc trong một chế độ thối nát, trong một đất nước mà nhân dân còn phải sống
triền miên trong đói khổ, lầm than.
- Như một kiến trúc thiên tài, khả năng “tranh tinh xảo với hóa
công”. Hoàn cảnh đất nước không tạo điều kiện cho Như thể hiện tài năng, thực
hiện những sáng tạo vĩ đại chân chín. Không còn lựa chọn nào khác, ông “theo lời
khuyên của Đan Thiềm” đành mượn uy quyền tiền bạc của tên hôn quân Tương
Dực để thực hiện hoài bão xây dựng cho đất nước một công trình nguy nga, vĩ đại. Khát
vọng của Vũ Như đã đẩy ông vào tình trạng đối lập với lợi ích trực tiếp thiết thực
của nhân dân, ông bị coi như kẻ thù, nguyên nhân cho những đau khổ, mất mát của họ.
Đây chính là bi kịch của Vũ Như Tô.
- Đến khi ra pháp trường, khi chứng kiến cảnh Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi,
Như không thể hiệu được nhân dân cũng như nhân dân không hiểu được những khát
vọng sáng tạo nghệ thuật của Như Tô. Bởi lẽ, ông người phụng sự cái đẹp, đứng
trên lập trường của người nghệ sĩ thuần túy. Điều đó hoàn toàn mâu thuẫn với thực tế đời
sống của nhân dân. Cái chết của Như Tô, Đam Thiềm việc Cửu Trùng Đài bị biến
thành đài lửa đã cho thấy tính chất khốc liệt của mâu thuẫn này.
BÀI MẪU SỐ 1:
1. Giới thiệu tác giả, tác phẩm
• Nguyễn Huy Tưởng là nhà văn có nhiều đóng góp về đề tài lịch sử thông qua th
loại tiểu thuyết và kịch. Những tác phẩm của ông toát lên vđôn hậu, thâm trầm. Nhà
văn luôn mơ ước dựng lên những bức tranh lịch sử hùng tráng, nhằm gửi gắm ý nghĩa
triết lí sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật.
Như vkịch 5 hồi quy hoành tráng, đoạn trích Vĩnh biệt Cửu
Trùng Đài thuộc hồi cuối cùng của vở kịch. Thông qua các mâu thuẫn cơ bản, nhà văn đã
thể hiện tư tưởng nghệ thuật của vở kịch nói chung và đoại trích nói riêng.
2. Khái niệm mâu thuẫn trong tác phẩm kịch
Mâu thuẫn yếu tố không thể thiếu để tạo nên hành động kịch. Từ những mâu
thuẫn lịch sử, hội, nhà viết kịch dựng nên một “cốt truyện” trong đó các nhân vật
kịch, hành động kịch phát triển theo những tuyến xung đột khác nhau dẫn tới kịch
tính. Việc giải quyết mâu thuẫn trong kịch diễn ra theo các hồi, cảnh, hành động trước
thúc đẩy hành động sau đòi hỏi phải giải quyết mâu thuẫn kịch Trong một vở kịch thể
một hoặc nhiều mâu thuẫn song sự phát triển của toàn bộ vở kịch lại dựa vào những
mâu thuẫn bản, nếu thiếu mâu thuẫn cơ bản sẽ không làm nên đặc trưng của tác phẩm
kịch.
• Mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa,
xa hoa, trụy lạc.
Mâu thuẫn này từ trước khi Cửu Trùng Đài được xây dựng, hậu quả tất yếu
của các giai cấp đối kháng trong xã hội. Vua Lê Tương Dực là ông vua ăn chơi sa đọa, để
thỏa mãn những thú vui của phe cánh mình, ông ta đã ra sức bóc lột tận xương, tận tủy
người lao động. Đến khi Cửu Trùng Đài được xây dựng, mâu thuẫn này càng trở nên gay
gắt hơn gấp bội. Đến hồi V, mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm, trong kinh thành tin n
gặp nạn lụt lội, mất mùa, “dân gian đói kém nổi lên tứ tung”. Vũ Như Tô vẫn không nhận
ra được mục đích cuộc đấu tranh của nhân dân nên vẫn không ngừng đốc thúc thợ gấp rút
hoàn thành Cửu Trùng Đài. Thợ định nổi loạn. Hơn nữa Tương Dực không phải một
ông vua yêu nước, thương dân, chăm lo cuộc sống cho dân nên đã gây ra “biến”, loạn”
trong xã hội và lòng người, triều đình bấy giờ đang rất rối ren. Trịnh Duy Sản đã lợi dụng
tình hình rối ren đó cầm đầu phe đối nghịch đlôi kéo thợ thuyền dấy binh nổi loạn giết
chết vua, Như Tô, Đan Thiềm phá hủy Cửu Trùng Đài, chấm dứt ước vọng một
đời của Vũ Như Tô.
Như vậy, mâu thuẫn ở hồi V đã phát triển lên đỉnh điểm và được giải quyết triệt đ
theo đúng trình tkết cục của một vbi kịch. Các nhân vật chịu cái chết khó tránh
khỏi. Mâu thuẫn được giải quyết, hành động kịch cũng chấm dứt.
Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi
ích trực tiếp thiết thực của nhân dân.
Người nghệ thiên tài muốn cống hiến tài năng của mình để xây dựng cho đất
nước tòa đài tráng lệ, làm vinh danh muôn đời. Ông nhà kiến trúc tài năng, “tài
trời”, “ngàn năm chưa dễ một”, “tranh tinh xảo với hóa công”, “chỉ vẩy bút chim,
hoa đã hiện lên”. Vũ Như Tô đã dành cả tâm hồn và thể xác của mình cho công trình kiến
trúc trong tương lai sẽ điểm cho đất nước, vì vậy ông chấp nhận m việc cho tên hôn
quân, bạo chúa, ợn quyền uy để thực hiện hoài bão, bị thương nhưng ông vẫn tiếp
tục xây Cửu Trùng Đài, thậm chí khi thợ bỏ việc, ông không ngần ngại trị tội những
người bỏ trốn. Nhưng thật chua xót vì hoài bão lớn lao đó ông tình đã đẩy nhân
dân rơi vào vòng lao khổ, mất cả tính mạng và niềm tin. Trong con mắt của nhân dân,
Cửu Trùng Đài không phải một công trình nghệ thuật mang đến hạnh phúc và lợi ích của
họ, ngược lại hiện thân cho săn chơi xa hoa của vua quan triều đình, đem đến
những tai họa và bất hạnh cho người dân. Như vậy khát khao nghệ thuật để rồi cống hiến
sống chết cho nghệ thuật chân chính của Như lúc này lại đi trái với lợi ích
nhu cầu thiết thực của nhân dân. Muốn thực hiện đam mê nghệ thuật của mình, ông lại bị
ngay nhân dân chống đối, họ coi ông “thủ phạm”, “không hiểu” việc m của ông.
Trong hoàn cảnh đất nước phải sống lầm than như vậy, người nghệ sĩ không có hội và
điều kiện thể hiện khát vọng sáng tạo nghệ thuật, nếu muốn thực hiện ước thì mâu
thuẫn với nhân dân, ngược lại nếu đứng về phía nhân dân ông lại không thể nào thực hiện
được tưởng nghệ thuật. Mặt khác, quá ctâm vào nghệ thuật thuần túy, ông đã xa
rời lợi ích của nhân dân, nghệ thuật đó đã thoát li đời sống, không được nhân dân ủng h
và chính nhân dân người đào thải nó. Đó là nguyên nhân sâu xa dẫn tới mâu thuẫn gay
gắt không thể trì hoãn của tấn bi kịch. Nhưng đây cũng mâu thuẫn không được giải
quyết một cách triệt để vì cho đến lúc chết, Vũ Như vẫn không nhận ra sai lầm của
mình vẫn “mơ mộng”: “Mà tôi thì không làm nên tội. Họ hiểu nhầm”, “tôi làm
nên tội?”.
Hai mâu thuẫn trên nối tiếp nhau tạo thành xung đột của vkịch. Từ đó tác giả
phơi bày bộ mặt hội trong đó những mối quan hệ phức tạp đòi hỏi phải được giải
quyết. Mức độ giải quyết tình trạng xung đột cho ta thấy hơn tài năng nghệ thuật và ý
đồ sáng tác của nhà văn.
• Tổng kết
Đoạn trích thể hiện một ngôn ngữ kịch điêu luyện, xây dựng các hành động kịch
nối tiếp nhau tạo nên những mâu thuẫn đẩy xung đột kch lên cao trào, từ đó bộc lộ
tính cách nhân vật.
Thông qua mâu thuẫn của vbi kịch, Nguyễn Huy Tưởng thể hiện lòng trân trọng
tài năng tôn kính cái đẹp nghệ thuật nhưng đằng sau đó nỗi niềm thương cảm của
nhà văn với bi kịch của những tài năng siêu việt.