Cách chăm sóc trẻ cho bà m
1. Cuống rốn
Muốn cho cuống rốn khỏi bị nhiễm trùng sau khi cắt, cần giữ sạch và khô. Cuống
rốn càng khô càng mau rụng. Vì lđó, không nên băng quanh bụng trẻ lại và nếu
muốn băng, thì nên băng lỏng thôi.
Đề phòng trmới đẻ bị đau mắt nguy hiểm, nhỏ 1 giọt nitrat 1% hoặc tra ít thuốc
mtetracyclin vào mỗi mắt ngay sau khi đẻ. Điều này quan trọng nếu bố hoặc mẹ
có dấu hiệu của bệnh lậu.
3. Giữ trẻ ấm, nhưng đừng nóng quá
Bảo vệ cho trẻ khỏi bị lạnh, nhưng cũng đừng để nóng quá. Cho trmặc m vừa
đủ như ta mặc cho ta.
Muốn cho trẻ mới đẻ đủ ấm, nên để mãm con vào lòng.
4. Vệ sinh
Điều quan trọng là phảim đúng những lời chỉ dẫn về v sinh. Cần chú ý đặc biệt
những điểm sau:
- Mỗi khi tã lót hay chăn chiếu của trẻ bướt hay bẩn, phải thay ngay. Nếu da trẻ
bị đỏ, phải thay tã lót luôn hoặc tốt hơn cứ nên để truồng.
- Sau khi rụng rỗn, tắm cho trẻ hàng ngày bằng nước ấm và xà phòng thơm.
- Nếu nhà có muỗi hay ruồi, buông màn cho trẻ nằm, có thể che bằng vải mỏng.
- Người bị lở loét, cảm cúm, viêm họng, lao hay bị bệnh nhiễm trùng khác không
được bế hay đến gần trẻ.
- Đừng để trẻ ở nơi có khói và bụi.
5. Cho
Sữa mẹ chứa đủ chất cần thiết của trẻ hơn bất kỳ thsữa nào khác, sữa tươi,
sữa bột hay sữa hộp.
- Sữa mẹ sạch. Khi cho trẻ ăn các thức ăn khác là khi đvào bình thì khó gi
bình được sạch, nên d sinh ỉa chảy và các bệnh khác
- Nhiệt độ của sữa mẹ bao giờ cũng vứa phải.
- Sữa mẹ có sẵn kháng thể giúp trẻ chống lại một số bệnh như sởi, bại liệt...
Sau khi đẻ, người mẹ nên cho ngay. Những ngày đầu, sữa mẹ thường rất ít. Đó
là bình thường, không nên thấy thế mà cho tr uống sữa bằng bình mà phải cho trẻ
bú mẹ nhiều lần. Trẻ bú nhiều lần, sữa sẽ ra nhiều hơn.
Người mnên cho con hoàn toàn sữa mtừ 4-6 tháng đầu, sau đó vẫn cho
nhưng cũng phải cho ăn thêm các thức ăn bổ sung khác.
Muốn cho mẹ có nhiều sữa
Người mẹ phải...
- Uống nhiều chất lỏng.
- Ăn đầy đủ, nhất là sữa, thức ăn có sữa và thức ăn bổ khác nếu có thể được.
- Ngủ nhiều, tránh làm việc mệt nhọc hay lo lắng.
- Cho trẻ bú luôn.
Cẩn thận khi dùng thuốc cho trẻ sơ sinh
Đối với trẻ mới sinh, nhiều thuốc rất nguy hiểm. Chỉ dùng các loại thuốc ta đã
biết chắc chắn chỉ dùng cho trsinh cũng chỉ dùng trong trường hợp hết sức
cần thiết. Phải đảm bảo dùng đúng liều lượng và không dùng quá nhiều. Đối với
trsơ sinh, cloramphenicol đặc biệt nguy hiểm và lại càng nguy him đối với trẻ
thiếu tháng hay quá nhẹ cân (dưới 2 kg).
BỆNH TẬT Ở TRẺ SƠ SINH
Điều quan trọng là phải chú ý đến mọi vấn đhay bệnh tật trẻ sinh - đối
phó khẩn trương.
1. Những vấn đề trẻ mới lọt lòng
Những vấn đề này thdo điều bất thường trong quá trình phát triển của thai
trong tcung hoặc thai bị tổn thương trong khi đẻ. Vì vậy, ngay sau khi đẻ, phải
quan sát trcẩn thận. Nếu trẻ những dấu hiệu sau đây, thể vấn đề nghiêm
trọng:
- Nếu sau khi đẻ, không thở ngay.
- Nếu không thấy mạch đập, hoặc mạch dưới 100 lần/1 phút.
- Nếu mặt và người trắng, xanh hay vàng sau khi trẻ bắt đầu thở.
- Nếu tay, chân mềm thõng, không vận động tự chhay không vận động khi cấu
véo.
- Nếu sau 15 phút đầu, trẻ rên hoặc khó thở.
Một số vấn đề này thdo tổn thương não khi đẻ gây nên. Hầu như không bao
gido nhiễm trùng (trtrường hợp vỡ ối trước khi đẻ quá 14 giờ). Những thuốc
thông thường không ích gì. Phải đưa đi cấp cứu.
Sau 2 ngày đầu, trẻ không đi tiểu hoặc không đi ngoài được cũng phải mời thầy
thuốc thăm khám.
2. Những vấn đề trẻ sau khi đẻ (Những ngày đầu hoặc những tuần đầu):
2.1. Rốn mủ hoặc có mùi hôi dấu hiệu nguy hiểm. Chú ý dấu hiệu đầu tiên
của uốn ván rốn, hoặc nhiễm trùng máu. Cần nhỏ nước oxy già vào cuống rốn hay
bôi thuốc tím gentian để rốn hở, tiếp xúc với không khí. Nếu da quanh rốn đỏ
và nóng, cho trẻ uống kháng sinh.
2.2. Nhiệt độ quá thấp (dưới 350 ) hoặc st cao, cũng đều là dấu hiệu nhiễm trùng.
Sốt cao (trên 390) nguy him đối với trẻ mới đẻ. Cởi hết tã lót, chườm nước ấm
vào 2 hnách, bẹn cho trẻ. Chú ý dấu hiệu kiệt nước. Nếu thấy dấu hiệu kiệt
nước, phải cho trẻ bú sữa mẹ và uống “Nước uống để hồi phục lượng nước.”
2.3. Co giật: Nếu trẻ mới đẻ sốt, chữa như đã nói trên. Phải hết sức chú ý xem
có kiệt nước không. Trẻ bị co giật ngay sau khi đẻ, chắc là có tổn thương ở não khi
đẻ. Nếu co giật xảy ra ngay sau ít ngày, theo dõi cẩn thận những dấu hiệu của uốn
ván hoặc viêm màng não.
2.4. Trkhông lên cân: Những ngày đầu, nhiều trẻ thường sụt cân đôi chút. Đó là
chuyện bình thường. Sau tuần đầu, nếu là tr khỏe mạnh thì mỗi tuần tăng được
200g. Sau 2 tuần, trẻ khỏe mạnh phải cân nặng bằng lúc mới đẻ. Nếu không lên
cân hoặc sút cân, thể là vấn đề xấu. Phải xem lúc trẻ đẻ khỏe không?
bú nhiều không? Khám kỹ xem có những dấu hiệu nhiễm trùng hoặc những vấn đề
khác không. Nếu không tìm thấy nguyên nhân phải đi khám thầy thuốc.
2.5. Trớ: Khi trkhỏe mạnh (hoặc hơi trẻ nuốt phải trong khi bú), đôi khi
cũng ra một ít sữa. Đó điều bình thường. Để giúp trẻ hơi ra sau khi bú,
người mẹ phải ãm trlên vai, vnhẹ vào lưng trẻ. Nếu sau khi cho bú, đặt trẻ
nằm, trẻ bị trớ, thì sau khi cho bú giữ cho trẻ ngồi thẳng một lúc.
Nếu trẻ bị trớ nhiều quá, hoặc trớ luôn làm cho trbị sụt cân hay kiệt nước, tức là
trđã bốm. Nếu kèm theo bỉa chảy, thể là trbị viêm đường ruột, nhiễm
trùng máu, viêm màng não và nhiều bệnh viêm nhiễm khác cũng có thể gây trớ.
Nếu các chất trớ ra màu xanh, hay vàng thlà trbị tắc ruột, đặc biệt nếu bụng
trẻ chướng căng, hoặc không đi ngoài được, cần cho trẻ đi bệnh viện cấp cứu ngay
lập tức.
2.6. Trkhông chịu bú: Nếu quá 4 giờ trẻ không chịu dấu hiệu nguy hiểm,
nhất là nếu thấy trẻ vẻ buồn ngủ hoặc mệt hoặc quấy khóc hoặc cử động bất
thường. Nhiều bệnh thể những dấu hiệu này, nhưng thường trong 2 tuần đầu
nguyên nhân thông thường nhất là nhiễm trùng máu và uốn ván.
3. Nếu trẻ mới đẻ bỏ bú hay xem ra có vm: Thăm khám kỹ toàn diện. Cần kiểm
tra như sau:
3.1. Xem trkhó thở không? Nếu mũi bị ngạt, thì hút mũi cho trẻ. Thở nhanh
(50 lần/phút hoặc hơn), da xanh, thở khò khè, co rút hõm ức các xương
sườn, là dấu hiệu của viêm phổi. Trẻ mới đẻ bị viêm phổi không ho, đôi khi không
thấy một dấu hiệu phổ biến nào của bệnh này. Nếu ngtrẻ bị viêm phổi, điều trị
như nhiễm trùng máu.
3.2. Xem màu da: Nếu môi và mặt màu xanh tím, phải ngđến viêm phổi (hoặc
có bệnh tim bẩm sinh hoăc vấn đề gì bm sinh khác).
Nếu mặt và củng mạc mắt vàng vào những ngày đầu hoặc ngày th5 là rất trầm
trọng. Cần cho đi khám. Vào giữa ngày thứ 2 đến ngày thứ 5, trẻ có thể có vàng da
nhẹ. Thường là không nghiêm trọng. Cho trẻ uống nhiều chất lỏng nước uống để
hồi phục lượng nước” rất tốt, phối hợp với bú sữa mẹ. Cởi hết tã lót cho trẻ, để gần
cửa sổ cho ánh sáng chiếu vào (nhưng không được để ánh sáng mặt trời chiếu trực
tiếp vào da trẻ).
3.3. Sờ thóp (Chmềm ở đỉnh đầu):
- Nếu thóp lõm, trcó thể bị kiệt nước.
- Nếu thóp phồng, trẻ có thể bị viêm màng não.
ĐIỀU QUAN TRỌNG: Nếu trẻ mới đẻ bị viêm nàng não, đồng thời lại bị ỉa chảy,
thóp thbình thường. Vì vậy, muốn chắc chắn phải tìm những dấu hiệu khác
của kiệt nước và viêm màng não.
3.4. Chú ý những cử động và vẻ mặt của trẻ
- Người cứng và hoặc không có những cử động bất thường là dấu hiệu
của uốn ván, viêm màng não, tổn thương não khi đẻ hoặc sốt. Nếu khi sờ
vào hoặc di chuyển trẻ, các ở mặt hoặc thân đột nhiên co giật, th
trẻ bị uốn ván. Kiểm tra xem trẻ có mồm được không và tìm phn xạ
đầu gối.
- Nếu khi trẻ một cđộng đột ngột hay mạnh mà mắt trợn ngược hoặc
đưa đi đưa lại, thì chắc không phải là un n. Những cơn giật này
th là do viêm màng não. Kiệt nước và sốt cao cũng thể là nguyên
nhân gây co giật.
3.5. Cần tìm nhng dấu hiệu của nhiễm trùng máu: Tr mới đẻ rất dễ bị nhiễm
trùng. Vi trùng qua da, dây rốn trong khi đẻ vào máu lan tràn đi khắp thể,
thời gian này 1 hoc 2 ngày. Nhim trùng máu thường xảy ra nhất sau khi đẻ 2
ngày.
Dấu hiệu:
Dấu hiệu nhiễm trùng trẻ mới đẻ khác với dấu hiệu nhiễm trùng các trẻ lớn
hơn. trẻ mới đẻ hầu hết bẩt kỳ dấu hiệu nào sau đây cũng thể do nhiễm trùng
máu. Những dấu hiệu đó có thể là:
- Không chịu bú