intTypePromotion=1

Cách Chữa Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ Phần 1

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
134
lượt xem
8
download

Cách Chữa Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Cách Chữa Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ Phần 1 Tóm lược Mục đích: Xét lại cách chữa trị hiện đại để kiểm soát nhịp và tốc độ tim trong bệnh rung tâm nhĩ (AF) và bàn luận những cách điều trị trong tương lai. Dịch tễ học: Trên hai triệu người sống tại Hoa Kỳ mắc bệnh rung tâm nhĩ và tỷ lệ lưu hành cao tới 10% cho những người 80 tuổi trở lên. Nguy cơ bị đột quỵ tăng tới 5 lần cho những bệnh nhân này. Tóm tắt: Bệnh rung tâm nhĩ rất thông thường, đặc biệt đối với...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cách Chữa Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ Phần 1

  1. Cách Chữa Trị Bệnh Rung Tâm Nhĩ Phần 1 Tóm lược Mục đích: Xét lại cách chữa trị hiện đại để kiểm soát nhịp và tốc độ tim trong bệnh rung tâm nhĩ (AF) và bàn luận những cách điều trị trong tương lai. Dịch tễ học: Trên hai triệu người sống tại Hoa Kỳ mắc bệnh rung tâm nhĩ và tỷ lệ lưu hành cao tới 10% cho những người 80 tuổi trở lên. Nguy cơ bị đột quỵ tăng tới 5 lần cho những bệnh nhân này.
  2. Tóm tắt: Bệnh rung tâm nhĩ rất thông thường, đặc biệt đối với người lớn tuổi, và thường đi đôi với nhiều bệnh và có tử vong cao. Điểm lưu ý là nguy cơ bị đột quỵ và suy tim rất cao cho những người bị rung tâm nhĩ. Mục đích chữa trị là làm giảm nguy cơ bị đột quỵ và tái diễn rung tâm nhĩ và suy tim. Ngoài cách ngăn chận đông máu với thuốc aspirin và warfarin, những phương cách để kiểm soát tốc độ gồm có thuốc ngăn chận kênh calcium, thuốc ngăn chận beta, digoxin, và cắt bỏ nút giữa tâm nhĩ và tâm thất (atrio- ventricular node ablation). Giữ nhịp độ sinus để làm giảm triệu chứng, giảm nguy cơ bị đột quỵ, và giảm sự tiến triển tái tạo bất lợi của tâm nhĩ là những phương sách cần được thực hiện. Những loại bằng chứng hiện có gồm những chỉ dẫn được công nhận trên toàn quốc, những cuộc nghiên cứu ngẫu nhiên được kiểm soát, những phân tích hồi cứu, những cứu xét có phương pháp. Mức độ bằng chứng hiện được đáng giá là tốt (là những thuốc dùng để kiểm soát tốc độ và nhịp được kể tới trong bảng chỉ dẫn), hay khá (là những nghiên cứu xét tác dụng của thuốc statins, thuốc áp chế diếu-tố biến đổi angiotensin, thuốc ngăn chận thụ thể angiotensin trong bệnh rung tâm nhĩ. Kết luận: Những bệnh nhân mắc bệnh rung tâm nhĩ có nhiều cách chữa trị để kiểm soát tốc độ hay nhịp tim trong AF. Các nhà nghiên cứu đã
  3. phát giác được những cơ chế mới trong bệnh rung tâm nhĩ và các nghiên cứu sẽ đưa tới những cách chữa trị phối hợp hữu hiệu hơn và an toàn hơn để ngừa bệnh phát khởi hay tái diễn. Rung tâm nhĩ : Bệnh rung tâm nhĩ là một bệnh thông thường và nhiều thử thách cho y-sĩ nội khoa và chuyên khoa về tim. Dù rằng đã có những chỉ dẫn tổng quát căn cứ trên bằng chứng để giúp y-sĩ định bệnh và chữa trị bệnh tim sai nhịp, cách điều trị có thể phức tạp. Một phần vì triệu chứng không rõ rệt, sự thay đổi của cách bệnh xuất phát, và tiềm thế đi đôi với những bệnh khác. Ngoài ra sự đáp ứng với những thuốc trị sai nhịp hay thay đổi và không dự đoán được về sự công hiệu, độ dung nạp,và mức an toàn. Định nghĩa : Bệnh rung tâm nhĩ là một loại bệnh sai nhịp tim rất thông thường xảy ra trên tâm thất (supraventricular arrythmias) gồm có hoạt động điện truyền qua tâm nhĩ và làm cho tâm nhĩ có thể rung từ 300 đến 600 lần trong một phút. Mức hoạt động điện vô tổ chức đó được thấy trên điện tâm đồ như những luồng sóng lớn nhỏ không đều xuất hiện rất mau thay vì luồng sóng P.
  4. Bệnh rung tâm nhĩ được phân loại là rung tâm nhĩ kịch phát (paroxysmal AF) thường tự động chấm dứt; rung tâm nhĩ dai dẳng (persistent AF) là bệnh tiếp diễn đòi hỏi phải dùng điện hay dược-phẩm để chấm dứt và rung tâm nhĩ trường trực (permanent AF). Những đoạn tự chấm dứt thường kéo dài dưới bẩy ngày và có khi dưới hai mươi bốn giờ. Cả hai loại kích phát và bền bỉ thường hay tái phát. Không biết những loại trên có được dùng bởi y-sĩ đo điện tim hay không, đa số bác- sĩ nhận thấy rằng bệnh nhân thường ở vào hai loại, ví dụ kịch phát và dai dẳng. Ví dụ bệnh tâm nhĩ gây nên trực tiếp bởi giải phẫu, viêm cơ tim hay bệnh cường giáp thường được gọi là rung tâm nhĩ phụ thuộc (secondary AF), chữ rung tâm nhĩ đơn độc (lone AF) được dùng để diễn tả một bệnh nhân không có bệnh tim về cơ cấu và bệnh rung tâm nhĩ không có bệnh van (non valvular AF). Dịch tễ học - Trên hơn hai triệu người mắc bệnh rung tâm nhĩ tại Hoa Kỳ. Sự lưu hành tổng quát khoảng 0.4% gia tăng rất nhanh với tuổi, khoảng 2 % ở tuổi 60- 69, tới 4. 6% ở tuổi 70 –79 và tới 9%- 10% từ tuổi 80 trở lên.
  5. Khoảng 1 trên 4 người trên tuổi 40 sẽ mắc bệnh rung tâm nhĩ. V ì dân số ở Hoa Kỳ già đi vào những thập niên sắp tới và những người lớn tuổi đó sống sót sau khi bị tim kích và suy tim, sự lưu hành của bệnh sẽ có thể tăng lên trên 5 triệu. Sự gia tăng lưu hành bệnh đó thật đáng ngại vì tỷ lệ bệnh và tử vong rất đáng kể và phí tổn điều trị do bệnh rung tâm nhĩ gây nên cũng đáng kể. Đặc biệt và không kể tới việc dùng thuốc kháng đông máu để ngừa bệnh, một trên sáu bệnh bị đột quỵ trên đất Mỹ đều bị rung tâm nhĩ. Nói chung bệnh rung tâm nhĩ gia tăng nguy cơ đột quỵ tới 5 lần. Nói về tỷ lệ tử vong do bệnh rung tâm nhĩ là 1.5 và 1.9 cho đàn ông và đàn bà và bệnh rung tâm nhĩ là một cách để dự đoán mạnh về tử vong cho bệnh cơ tim phì đại (hypertrophic cardiomyopathy). Những biểu hiệu và bệnh thường đi đôi với bệnh rung tâm nhĩ Đa số bệnh nhân bị rung tâm nhĩ không có triệu chứng và hoàn toàn không biết nhịp tim bất thường. Những dữ kiện mới thu thập được từ việc dùng những máy điều nhịp (pacemakers) và những máy khử rung gắn (implantable defibrillators) cho thấy rằng một tỷ số cao bệnh nhân bị rung tâm nhĩ kịch phát và ngay cả những bệnh nhân không có tiền sử bệnh rung
  6. tâm nhĩ thường bị những đoạn rung tim không gây triệu chứng, và có những bệnh nhân bị đột quy thường mắc phải rung tâm nhĩ không có triệu chứng. Khi triệu chứng xảy ra, thường là cảm giác tim đập nhanh và không đều, và những chỉ dẫn huyết động lực bất thường như tức ngực, khó thở, mệt mỏi hay chóng mặt. Ngay cả những bệnh nhân có ít triệu chứng, bệnh rung tâm nhĩ kéo dài cũng có thể đưa tới suy tim hay bệnh cơ tim. Cuộc nghiên cứu Framingham từ năm 1970 cho tới 2000 cho thấy rằng những bệnh nhân mắc những loại bệnh tim khác nhau thường có tỷ lệ lưu hành bệnh rung tâm nhĩ khác nhau. Những tỷ số AF đó gồm có ví d ụ 10% tới 40% trong bệnh suy tim, 20% trong bệnh tim dạng thấp (rheumatic heart disease), 1%-2% trong bệnh động mach vành tim, 5%-10% trong bệnh áp huyết cao, 2%-3% trong bệnh cường giáp và 5%-40% sau khi giải phẫu nối tắt động mạch vành tim. Ngược lại những bệnh nhân bị bệnh rung tâm nhĩ thường có tỷ lệ cao bệnh áp huyết cao (56%), bệnh động mạch vành tim (19%), bệnh van tim (18%), bệnh cường giáp (11%) rối loạn cơ năng nút sinus (11%), bệnh tim phì đại (10%) và nghiền rượu (8%). Bệnh rung tâm nhĩ trong bệnh suy tim cần được nghiên cứu riêng rẽ. Nhiều cuộc nghiên cứu chứng tỏ rằng sự lưu hành bệnh rung tâm nhĩ tăng lên một cách song song với tăng phân loại suy tim của Hiệp Hội Tim New
  7. York từ dưới 5% cho loại I cho tới 25%-50 % cho loại III-IV. Sự lưu hành bệnh đặc biệt cao cho bệnh nhân lớn tuổi và đàn bà mắc bệnh suy tim trong khi đó nó thấp cho bệnh nhân Mỹ gốc Phi Châu. Sự liên hệ mật thiết giữa bệnh rung tâm nhĩ và suy tim có thể phản ảnh một liên hệ bệnh lý cho những bệnh nhân mà áp xuất tăng trong tâm nhĩ đưa tới rãn tâm nhĩ và sơ cứng về sau; kết quả là thay đổi về tính cách điện sinh lý và rung tâm nhĩ. Trái lại suy tim do bệnh rung tâm nhĩ thường gây nên vì tốc độ tâm thất không kiểm soát được. Dù bất cứ cơ chế nào liên hệ rung tâm nhĩ và suy tim, rõ ràng những bệnh nhân bị suy tim hay bệnh nhân cần thẩm tách máu có mức độ tử vong cao. Dù rằng ảnh hưởng của sự tái tạo nhịp tim bình thường trong bệnh suy tim hay suy thận kinh niên không được rõ, những thuốc để trị suy tim như thuốc áp chế men chuyển angiotensin (ACEIs) và áp chế thụ thể angiotensin (ARBs) có thể làm giảm tỷ số tử vong một phần vì tái tạo nhịp tim bình thường. Những yếu-tố rủi ro và mục tiêu chữa trị Những nghiên cứu gần đây tiếp tục làm sáng tỏ sự liên hệ giữa bệnh rung tâm nhĩ với những bệnh khác hay yếu-tố rủi ro. Căn cứ trên sự hiển nhiên và những cách chữa trị có liên hệ, sự viêm cơ quan là phần đang được cứu xét một cách tích cực nhất. Cuộc nghiên cứu về Sức Khỏe Tim Mạch
  8. (Cardiovascular Health Study) đo lường sự liên hệ giữa bệnh rung tâm nhĩ và C reactive protein (CRP), một chất đánh dấu trong máu của người bị viêm trong số trên 5806 bệnh nhân dược theo dõi trong bẩy năm. Những nghiên cứu gia nhận thấy rằng mức độ CRP cao thường đi đôi với sự hiện diện của bệnh rung tâm nhĩ; ví dụ sự lưu hành của bệnh rung tâm nhĩ là 3.7% cho những bệnh nhân với CRP thấp nhất (3.41mg/L). Họ cũng nhận thấy rằng CRP tiên đoán được sự phát hiện bệnh rung tâm nhĩ cũng như tỷ lệ những người sống sót không mắc bệnh rung tâm nhĩ. Nhiều cuộc nghiên cứu khác cũng xác định rằng mức độ CRP cao cũng tiên đoán được sự phát hiện bệnh rung tâm nhĩ. Kết quả cho thấy mức độ CRP cao hơn cho những bệnh nhân mắc bệnh rung tâm nhĩ bề n bỉ so với những bệnh nhân bị rung tâm nhĩ kịch phát. CPR cũng cao hơn ở những bệnh nhân mắc bệnh có triệu chứng so với những bệnh nhân không có triệu chứng, và mức độ CRP cao tiên đoán sự thất bại khi dùng điện để tái tạo nhịp tim cũng như sự giảm khả năng duy trì nhịp tim bình thường sau khi tái tạo nhịp tim bằng điện. Dù rằng nguyên nhân của mức độ CRP cao trong bệnh rung tâm nhĩ không được rõ rệt, cơ chế có thể do viêm trong sự tái tạo tâm nhĩ. Những liên can của sự nghiên cứu này đang được theo dõi trong
  9. việc sử dụng các chất kháng viêm như aspirin và statins để chữa trị bệnh rung tâm nhĩ Nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy rõ yếu-tố rủi ro bệnh rung tâm nhĩ cho đàn bà. Mặc dù sự lưu hành bệnh rung tâm nhĩ cao hơn cho đàn ông, nguy cơ bị tử vong do bệnh rung tâm nhĩ cao hơn cho đàn bà. Nói chung đàn bà mắc bệnh suy tim có rủi ro mắc bệnh rung tâm nhĩ gấp đôi và đàn bà mắc bệnh rung tâm nhĩ thường hay có triệu chứng và phẩm chất cuộc sống kém và nguy cơ có nhịp tâm thất cao, nguy cơ bị đột quỵ cao và nguy cơ nhịp tim đập không đều (khi đang d ùng thuốc làm đều nhịp tim). Một cuộc nghiên cứu căn cứ theo giống trong việc điều trị rung tâm nhĩ bền bỉ cho thấy rằng 192 đàn bà đáp ứng khá về kiểm soát tốc độ hơn là kiểm soát nhịp. Sự kiện này trái ngược với kết quả cho 330 đàn ông có đáp ứng tương tự đối với kiểm soát tốc độ và nhịp. Chỉ có 35% đàn bà được phân phối một cách ngẫu nhiên để kiểm soát nhịp có nhịp bình thường vào lúc cuộc nghiên cúu chấm dứt và tỷ lệ những phản ứng bất lợi do những thuốc trị sai nhịp tim (gồm có hồi hộp và sự cần thiết dùng máy điều nhịp vì tim đập chậm) cao hơn cho đàn bà so với đàn ông. Những bệnh nhân đàn bà đó cũng có tỷ lệ suy tim và đột quỵ cao.
  10. Một cuộc nghiên cứu rộng rãi ATRIA (Anticoagulation and Risk factors in AF Trial) cũng cho thấy rằng đàn bà có rủi ro tương đối bị đột quỵ cao; nguy cơ bị đột quỵ cho đàn bà cao hơn so với đàn ông (3.5% so với 1.8%/ năm). Nhiều cuộc nghiên cứu gần đây cho thấy những yếu-tố rủi ro và sự liên hệ với bệnh rung tâm nhĩ. Một cuộc nghiên cứu khác có 2000 người tham dự cho thấy sự rủi ro mắc bệnh rung tâm nhĩ sau 4 năm gia tăng t ùy theo số yếu-tố nguy cơ (gồm có cao áp huyết, bệnh tiểu đường, bệnh động mạch vành tim và bệnh rung tâm nhĩ của cha mẹ) đã được thấy đối với cha mẹ. Bệnh ngưng thở khi đang ngủ và tỷ lệ khối lượng thân thể cao cũng gia tăng nguy cơ mắc bệnh rung tâm nhĩ. Dược phẩm trị liệu bệnh rung tâm nhĩ Đặc tính người bệnh Thuốc sử dụng Loại Tuổi < 60, không Aspirin 32 5mg hay không I mắc bệnh tim dùng thuốc
  11. Tuối < 60, có bệnh Aspirin325mg/ngày I tim, không có yếu-tố Tuổi = hay > 60, Aspirin 325mg/ngày I không có yếu-tố rủi ro Tuổi 60 hay > 60, Thuốc kháng đông máu I có bệnh tiểu đường (INR=2-3) hay bệnh động mạch Thêm aspirin 81mg- IIb vành tim 162mg/ngày Tuổi = hay >75 , Thuốc kháng đông máu I đặc biệt đàn bà (INR= 2) Thuốc kháng đông máu Suy tim I (INR= 2-3 ) I Tỷ lệ tống xuất tâm Thuốc kháng đông máu (
  12. thất trái< 0. 35 INR= 2-3) Thuốc kháng đông máu ( Cường giáp I INR=2-3) Thuốc kháng đông máu ( Áp huyết cao I INR= 2-3 ) Bệnh tim dạng thấp Thuốc kháng đông máu ( I (Nghẹt van hai lá) INR=2.5- 3.5) Thuốc kháng đông máu Van tim nhân tạo I (INR= 2.5 - 3.5) Bệnh nghẹt mạch do Thuốc kháng đông máu I khối huyết (INR=2 5.- 3.5 ) Huyết khối trong Thuốc kháng đông máu I tâm nhĩ (INR= 2.5 - 3.5)
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2