
Cây thuốc vị thuốc Đông y –
CÂY XẤU HỔ
Cây Xấu hổ
CÂY XẤU HỔ
Herba Mimosae Pudicae
Tên khác: Trinh nữ, Cây mắc cỡ, Cây thẹn.
Tên khoa học: Mimosa pudica L., họ Trinh nữ (Mimosaceae).
Mô tả: Cây nhỏ, phân nhiều nhánh, mọc thành bụi, loà xoà trên mặt đất, cao
độ 50cm, thân có nhiều gai hình móc. Lá kép lông chim chẵn, hai lần, cuống

phụ xếp như hình chân vịt, khi dụng chạm nhẹ thì lá cụp xẹp lại, hoặc buổi
tối cũng cụp lại. Lá chét nhỏ gồm 12-14 đôi. Hoa nhỏ, màu tím nhạt, tụ lại
thành hình đầu. Quả giáp nhỏ, dài độ 2cm, rộng 2-3mm, tụ lại thành hình
ngôi sao, có lông cứng-hạt nhỏ, dẹt dài độ 2mm, rộng 1-1,5mm.
Mùa hoa: tháng 6-8.
Cây xấu hổ mọc hoang nhiều nơi ở nước ta: ven đường, bờ ruộng, trên đồi.
Bộ phận dùng: Cành lá, rễ.
Phân bố: Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta và nhiều nước khác.
Thu hái: Mùa hạ, khi cây đang phát triển xanh tốt, cắt lấy phần trên mặt đất,
phơi khô là được (chú ý tránh làm rụng lá).
Tác dụng dược lý:
Hoạt tính chống nọc rắn độc: Khả năng trung hòa nọc rắn độc của mimosa
được nghiên cứu khá sâu rộng tại Ấn Độ. Nghiên cứu tại ĐH Tezpur (Ấn
Độ) năm 2001 ghi nhận các dịch chiết từ rễ khô mimosa pudica có khả năng
ức chế các độc tính tác hại của nọc rắn hổ mang Naja kaouthia. Sự ức chế
bao gồm các độc hại gây ra cho bắp thịt, cho các enzy mes. Dịch chiết bằng
nước có tác dụng mạnh hơn dịch chiết bằng alcohol (Journal of
Ethnopharmacology Số 75-2001). Nghiên cứu bổ túc tại ĐH Mysore,
Manasa gangotry (Ấn Độ) chứng minh được dịch chiết từ rễ cây mắc cỡ ức
chế được sự hoạt động của các men hyaluronidase và protease có trong nọc

các rắn độc loại Naja naja, Vipera russelii và Echis carinatus (Fitoterapia Số
75-2004).
Hoạt tính chống co giật: Nghiên cứu tại Departement des Sciences
Biologiques, Faculté des Sciences, Université de Ngaoundere (Cameroon)
ghi nhận dịch chiết từ lá cây mắc cỡ khi chích qua màng phúc toan (IP) của
chuột ở liều 1000 đến 4000 mg/ kg trọng lượng cơ thể bảo vệ được chuột
chống lại sự co giật gây ra bởi pentylentetrazol và strychnin tuy nhiên dịch
này lại không có ảnh hưởng đến co giật gây ra bởi picrotoxin, và có thêm tác
dụng đối kháng với các phản ứng về tâm thần gây ra bởi N-methyl-D-as
partate (Fitoterapia Số 75-2004).
Hoạt tính chống trầm cảm (antidepressant) Nghiên cứu tại ĐH Veracruz
(Mexico) ghi nhận nước chiết từ lá khô Mimosa pudica có tác dụng chống
trầm cảm khi thử trên chuột. Thử nghiệm cũng dùng clomipramine,
desipramine để so sánh và đối chứng với placebo (nước muối 0,9 %). Liều
sử dụng cũng được thay đổi (dùng 4 lượng khác nhau từ 2mg, 4mg, 6mg đến
8 mg/kg). Chuột được thử bằng test buộc phải bơi.
Hoạt tính chống âu lo được so sánh với diazepam, thử bằng test cho chuột
chạy qua các đường đi phức tạp (maze). Kết quả ghi được: clomipramine
(1,3 mg/kg, chích IP), desipramine (2.14mg/kg IP) và Mắc cở (6,0mg/kg và
8,0 mg/kg IP) làm giảm phản ứng bất động trong test bắt chuột phải bơi. M.
pudica không tác dụng trên test về maze. Các nhà nghiên cứu cho rằng hoạt
tính của Mắc cỡ có cơ chế tương tự như nhóm trị trầm cảm loại tricyclic
(Phytomedicine Số 6-1999).

Tác dụng trên chu kỳ rụng trứng: Nghiên cứu tại ĐH Annamalai, Tamilnadu
(Ấn Độ): Bột rễ mimosa pudica (150 mg/ kg trọng lượng cơ thể) khi cho
uống qua đường bao tử, làm thay đổi chu kỳ oestrous nơi chuột cái Rattus
norvegicus. Các tế bào loại có hạch (nucleated và cornified) đều không xuất
hiện. Chất nhày chỉ có các leukocytes.. đồng thời số lượng trứng bình
thường cũng giảm đi rất nhiều, trong khi đó số lượng trứng bị suy thoái lại
gia tăng. (Phytotherapia Research Số 16-2002). Hoạt tính làm hạ đường
trong máu: Dịch chiết từ lá mắc cỡ bằng ethanol, cho chuột uống, liều 250
mg/ kg cho thấy có tác dụng làm hạ đường trong máu khá rõ rệt (Fitoterapia
Số 73-2002).
Thành phần hoá học: Alcaloid (mimosin C8H10O4N2.) và crocetin còn có
flavonoid, các loại alcol, acid amin, acid hữu cơ. Hạt chứa chất nhầy, lá chiết
ra một chất tương tự adrenalin. Trong lá và quả đều có selen.
Công năng: An thần, giảm đau, trừ phong thấp,
Công dụng: Cành, lá làm thuốc ngủ, an thần. Rễ chữa nhức xương, thấp
khớp.
Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g cành lá khô, sắc uống trước khi đi ngủ.
Rễ cây thái mỏng, tẩm rượu sao vàng sắc uống ngày 100-120g.
Bài thuốc:
1. Suy nhược thần kinh, mất ngủ: Mắc cỡ 15g, dùng riêng hoặc phối hợp với
Cúc bạc đầu 15g. Chua me đất 30g sắc uống hằng ngày vào buổi tối.

2. Viêm phế quản mạn tính: Mắc cỡ 30g, rễ lá Cẩm 16g sắc uống, chia làm
hai lần trong ngày.
3. Ðau ngang thắt lưng, nhức mỏi gân xương: Rễ Mắc cỡ rang lên, tẩm rượu
rồi lại sao vào 20-30g sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với rễ Cúc tần và
bưởi bung, mỗi vị 20g, rễ Ðinh lăng và Cam thảo dây, mỗi vị 10g.
4. Huyết áp cao (đơn thuốc có kinh nghiệm của lương y Ðỗ Văn Tranh): Hà
thủ ô 8g, trắc bá diệp 6g. Bông sứ cùi 6g, Câu đằng 6g, Tang ký sinh 8g, Ðỗ
trọng 6g, mắc cỡ gai 6g. Lá vông nem 6g, hạt Muồng ngủ 6g, Kiến cò 6g
Ðịa long 4g sắc uống. Có thể tán bột, luyện thành viên uống hàng ngày.
Chú ý: Người suy nhược, hàn thì không dùng.

