
Cộng hòa La Mã
RES•PVBLICA•ROMANA
Khẩu hiệu quốc gia: Senatus Populusque
Romanus
Viện nguyên lão và nhân dân La Mã
Ngôn ngữ
chính thức
Latinh
Thủ đô La Mã
Chế độ Cộng hòa
Thống Hai quan chấp chính, ở một

lãnh tối
cao
vài thới kỳ là một Thống
lãnh tối cao (nhà độc tài)
Quốc hội Viện nguyên lão La Mã
Cơ quan
lập pháp Hội đồng lập pháp La Mã
Thành lập
509 TCN
Tan rã 16 tháng 1, 27 TCN, từng
bước một chuyển đổi thành
Đế quốc La Mã
Hai quan
chấp chính
đầu tiên
Lucius Junius Brutus,
Lucius Tarquinius
Collatinus (509 TCN–508
TCN)
Quan chấp
chính cuối
cùng
Không rõ, vì dưới quyề
n các
Hoàng đế La Mã các quan
chấp chính vẫn được tiếp
tục bầu chọn

Cộng hòa La Mã là giai đoạn trong
nền văn minh La Mã cổ đại được
phân biệt vì có chế độ cộng hòa. Giai
đoạn cộng hòa bắt đầu khi chế độ
quân chủ bị lật đổ vào khoảng năm
509 TCN và kéo dài hơn 450 năm,
đến khi bị hao mòn do loạt nội chiến
và được thay bằng chế độ nguyên thủ (Principate) và giai đoạn Hoàng đế. Đúng
lúc mà Cộng hòa La Mã trở thành Đế quốc La Mã tùy theo cách hiểu. Các nhà lịch
sử đã đề nghị chọn một vài sự kiện, bao gồm khi Julius Caesar được bổ nhiệm làm
Thống lãnh tối cao (độc tài suốt đời; 44 TCN), Trận Actium (2 tháng 9 năm 31
TCN), và khi Viện nguyên lão La Mã cấp Octavian các quyền lực đặc biệt theo
thỏa thuận đầu tiên giữa Viện nguyên lão và bình dân (16 tháng 1 năm 27 TCN).
Lãnh thổ của La mã mở rộng trong thời kỳ này, lúc đầu chỉ từ trung tâm bán đảo
Italia sau mở rộng đến hết vùng địa trung hải. Trong hai thế kỷ đầu tiên lãnh thổ
La mã mở rộng hết bán đảo Italia, thế kỷ tiếp theo mở rộng thêm Bắc Phi, bán đảo
Iberia, Hi Lạp, và vùng miền nam nước Pháp hiện nay. Trong hai thế kỷ cuối của
nền cộng hoà La mã tiếp túc mở rộng nốt phần còn lại của nước Pháp hiện nay. Do
diện tích quá rộng lớn nên bộ máy cộng hoà đã sụp đổ dưới chính sức nặng của đế
chế.
Định rõ lúc kết thúc của Cộng hòa là việc dành cho nhà lịch sử ngày nay; dân La
Mã vào lúc đó không nghĩ rằng Cộng hòa không còn. Các "Hoàng đế" vương triều
Julia-Claudia giữ vững rằng res publica (thời quần chúng) vẫn tiếp tục, dù mà hoạt
động dưới sự bảo vệ của các quyền lực đặc biệt, và sẽ cuối cùng trở lại hình thức
Cộng hòa đầy đủ. La Mã vẫn còn là Cộng hòa trên danh nghĩa ít nhất cho đến thế
kỷ 3 và cuộc cải cách lập chế độ Dominate (chủ nhân).
Tiền chế
độ Vương quốc La Mã
Hậu chế độ
Đế quốc La Mã

Nhiều công trình của La mã vẫn còn tồn tại trên khắp châu Âu cho đến ngày nay
và học thuyết về chính phủ cộng hoà được áp dụng rộng rãi tại các quốc gia và tổ
chức hiện đại.
Mục lục
1 Khái quát lịch sử
2 Hiến Pháp
o 2.1 Viện nguyên lão
o 2.2 Hội đồng lập pháp
o 2.3 Hội đồng Centuries
o 2.4 Hội đồng Tribe
o 2.5 Hội đồng Pleb
[ ] Khái quát lịch sử
Theo truyền thuyết thời kỳ cộng hoà La mã bắt đầu từ khi Lucius Junius Brutus lật
đổ vua của vương triều Tarquin năm 509 TCN. Cộng hoà La mã được điều hành
bởi Viện nguyên lão, một cách khác hẳn so với chế độ quân chủ.
Nước Cộng hoà La Mã được điều hành bởi Hiến pháp bất thành văn, những điều
luật này dựa trên nguyên tắc phân quyền và nguyên tắc kiểm soát và cân bằng. Sự
phát triển của hiến pháp chịu ảnh hưởng lớn bởi cuộc đấu tranh giữa tầng lớp quý
tộc và những tầng lớp còn lại. Lúc đầu chính quyền được điều hành bởi tầng lớp
quý tộc (The patricians), những người đã sống lâu đời tại La Mã. Dần dần các luật

đưa ra đặc quyền của tầng lớp quý tộc bị loại bỏ, từ đó nổi lên tầng lớp quý tộc
mới dựa trên kết cấu xã hội thay vì điều luật để duy trì quyền lực.
Lã Mã bắt đầu mở rộng lãnh thổ mạnh mẽ trong thời gian này, từ trung tâm Italia
đã bành trướng ra toàn Địa Trung Hải. Trong 2 thế kỷ đầu tiên La Mã thôn tính
toàn bộ Italia. Thế kỷ tiếp theo dưới sức mạnh của quân đội và kinh tế vượt trội La
Mã đã thôn tính tiếp Bắc Phi, Tây Ban Nha, Hi Lạp và miền Nam nước Pháp.
Trong 2 thế kỷ cuối nền Cộng hoà, La Mã thôn tính tiếp phần còn lại nước Pháp,
phần lớn Anatolia, và Syria
[ ] Hiến Pháp
Bài chi tiết: Hiến pháp La mã và Hiến pháp của cộng hoà La Mã
Hiến pháp La mã là tập hợp những chỉ dẫn và nguyên tắc bất thành văn chủ yếu
thông qua từ các tiền lệ. Hiến pháp La Mã không chính quy, đa số không thành
văn và thay đổi liên tục.
[ ] Viện nguyên lão
Nền tảng quyền lực của viện nguyên lão xuất phát từ sự quý trọng và uy tín. Sự
quý trọng và uy tín này xuất phát từ thói quen và phong tục, cũng giống như năng
lực và uy tín cao của các nghị sĩ. Viện nguyên lão thông qua các sắc lệnh được gọi
là senatus consultum, một cách chính thức được gọi là "Lời khuyên" của viện
nguyên lão đối với quan chấp chính. Trong thực tế thì các quan chấp chính luôn
chấp hành mệnh lệnh này. Viện nguyên lão chủ yếu tập trung vào chính sách đối
ngoại mặc dầu về nguyên tắc thì viện nguyên lão không hề có vai trò quản lý
những xung đột quân sự, nó cũng có vai trò quản lý công dân trong các thành phố
và thị trấn. Điều kiện để trở thành một nghị sĩ viện nguyên lão là phải sở hữu một
vùng đất tương đương với 100.000 denarii, thuộc dòng dõi patrician (Quý tộc có
dòng dõi lâu đời tại La Mã), đã từng giữ chức vụ trong chính quyền. Viện nguyên

