
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế

Nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vì vậy, Đảng ta khẳng định, trong giai đoạn hiện nay,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn được xem là một trong những
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy vậy, tùyv
ào thời kỳ khác nhau, do mục tiêu kinh tế - xã hội khác nhau, do đó vị trí, vai trò của nông
nghiệp, nông thôn cũng được nhận thức ở những mức độ khác nhau. Trong tình hình hiện
nay, khi Việt Nam đang đứng trước cánh cửa WTO thì nhận thức về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa hết sức quan trọng.
1. Sự phát triển nhận thức của Đảng ta về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn
Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm, xuyên suốt của thời kỳ
quá độ ở nước ta. Điều này đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) khẳng định.
Tại Đại hội này, nội dung tổng quát của công nghiệp hóa XHCN được Đảng ta xác định là:
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ
và
nông nghiệp.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) tiếp tục khẳng định lại
những nội dung cơ bản mà Đại hội III đề ra. Trong đó vẫn ưu tiên phát triển công nghiệp
nặng, trên cơ sở phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp. Nhìn chung mô hình công
nghiệp hóa do Đại hội III và Đại hội IV đề ra là chú trọng để phát triển công nghiệp nặng.
Nông nghiệp, nông thôn chỉ xem xét ở mức độ nhất định. Sở dĩ như vậy là vì do yêu cầu
của việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện đất nước có chiến tranh. Mặt
khác, mô hình này chịu sự ảnh hưởng của các nước XHCN, đứng đầu là Liên Xô (cũ).
Tầm quan trọng của nông nghiệp, nông thôn được Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn
tại Đại hội 5 (1982). Tại Đại hội này, những nội dung cơ bản về công nghiệp hóa XHCN
được bổ sung hoàn thiện. Trong đó, đáng chú ý là Đảng ta đã nhấn mạnh cần phải đưa
nông nghiệp lên nền sản xuất lớn XHCN. Tuy nhiên, do có những tư tưởng nóng vội, chủ
quan, do bước đi không phù hợp nên trong nông nghiệp đã tiến hành ồ ạt phong trào hợp

tác hóa, trong khi lực lượng sản xuất trong nông nghiệp phát triển rất thấp kém. Điều đó
dẫn đến tình trạng là mặc dù một nước nông nghiệp nhưng lại phải nhập khẩu lương thực.
Nông nghiệp, nông thôn nước ta nói riêng vẫn chưa phát huy được vai trò của nó và rơi
vào khủng hoảng chung của nền kinh tế đất nước.
Cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 80 (thế kỷ XX) đặt ra cho Đảng ta cần phải
tìm ra mô hình phát triển kinh tế đúng hướng, trong đó có mô hình công nghiệp hóa nói
chung và công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng.
Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI (1986) đã đánh dấu quá trình đổi
mới đất nước. Trong đó về nội dung công nghiệp hóa được cụ thể ở ba chương trình kinh
tế lớn: Chương trình lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng; và hàng xuất khẩu. Ba
chương trình kinh tế lớn đã thúc đẩy nông nghiệp và công nghiệp nhẹ ở nước ta phát triển
nhanh chóng. Nhờ đó đến năm 1983 nước ta đã trở thành một trong những nước xuất khẩu
lương thực lớn nhất thế giới.
Những thành tựu kinh tế - xã hội mà nước ta đã giành được sau Đại hội 6 chứng tỏ
đường lối đổi mới nói chung, trong đó có nông nghiệp, nông thôn nói riêng là hoàn toàn
phù hợp với quy luật. Tiếp tục sự phát triển về tư duy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, Đại hội VII, VIII đặc biệt là Đại hội IX và Nghị quyết Trung ương 5
khóa IX, nhận thức một cách có hệ thống về vai trò, vị trí của nông nghiệp, nông thôn và
nông dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đảng ta khẳng
định: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát triển công
nghiệp và dịch vụ phải hướng vào phcụ vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn".
Như vậy, có thể khẳng định rằng, tư duy về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn được Đảng ta dần dần hoàn thiện. Tùy vào từng thời kỳ lịch sử khác
nhau mà nhận thức đó được bổ sung, khắc phục và phát triển thêm từng bước.
2. Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn. Sở dĩ trong giai đoạn hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,

nông thôn được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước là vì:
Xét về phương diện lý luận: nông nghiệp là ngành kinh tế cung cấp các sản phẩm
thiết yếu dùng làm tư liệu sinh hoạt cho con người và cung cấp nguyên liệu cho các ngành
công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệp chế biến ra các tư liệu sinh hoạt thiết yếu cho
xã hội. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn làm cho năng suất lao động
nông nghiệp tăng lên, giá trị của các sản phẩm nông nghiệp giảm xuống, tức là giá trị các
tư liệu sinh hoạt giảm xuống. Mà giá trị tư liệu sinh hoạt này được đo bằng thời gian lao
động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra chúng và bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
để sản xuất và tái sản xuất ra giá trị sức lao động của con người. Khi giá trị tư liệu sinh
hoạt giảm xuống thì giá trị sức lao động cũng giảm xuống, do đó giá trị thặng dư tăng lên.
Hay nói cách khác năng suất lao động nông nghiệp cũng tăng lên sẽ làm cho xã hội thu
được khối lượng lợi nhuận lớn hơn. Do đó, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn là cần thiết.
Xét về phương diện thực tiễn: nông nghiệp, nông thôn cung cấp nguyên liệu cho
các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến. Nông nghiệp, nông thôn là thị
trường rộng lớn cho bản thân nó và cho ngành công nghiệp và dịch vụ.
Nông nghiệp, nông thôn là nơi cung cấp lao động cho các ngành công nghiệp và
dịch vụ, là thị trường rộng lớn. Nông nghiệp góp phần tích luỹ vốn để phát triển kinh tế;
cung cấp các mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao.
Kinh nghiệm thực tế ở một số nước như Achentina, Oxtraslia... cho thấy các nước
này trở thành những nền công nghiệp hiện đại đều bắt đầu có những chính sách đúng trong
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt là Đài Loan, những thành
công về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước này có thể giúp
Việt Nam rút ra những bài học bổ ích. Đó là:
Trước hết là bài học về tư duy: Đài Loan đã có nhận thức, đánh giá, nghiên cứu,
điều tra cơ bản về nông nghiệp, nông thôn, nông dân.

Tiếp đến là bài học về chính sách: Đài Loan nghiên cứu để chế định chính sách
nông nghiệp phù hợp với hoàn cảnh con người, lãnh thổ kinh tế - xã hội, đồng thời luuôn
biến đổi các chính sách đó theo sát sự phát
triển mới.
Cuối cùng là bài học về hành vi (điều hành): Đài Loan định ra kế hoạch cụ thể, các
biện pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu trong từng nước, từng giai đoạn. Ba bài học
kinh nghiệm trên của Đài Loan cho thấy sự cần thiết phải hướng quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo mô hình mở và liên tục sáng tạo, cần thiết
phải nhận thức không ngừng, nhận thức liên tục và thay đổi liên tục, có như vậy tính sáng
tạo mới càng cao. Đài Loan không coi sự chế định ra chính sách là đúng hoàn toàn và ngay
như chủ trương, đường lối cũng vậy, đều dùng thực tiễn, lấy hiệu quả để soi xét. Như vậy
Đài Loan đã nhanh chóng trở thành quốc gia có nền nông nghiệp phát triển và được xếp
vào vùng lãnh thổ có nền công nghiệp hiện đại.
3. Những thành tựu và hạn chế của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn ở nước ta trong thời gian qua
Theo đánh giá của Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) thì nông nghiệp, nông thôn
nước ta đã có bước phát triển mới và đạt được những thành tựu to lớn. Điều đó thể hiện:
- Nhìn một cách tổng thể nông nghiệp nước ta đã cơ bản chuyển sang nền sản xuất
hàng hóa. Một số sản phẩm có tỷ suất hàng hóa ngày càng cao như lúa gạo 50%, cà phê
95%, cao su 85%, chè 60%. Nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chiếm được thị phần lớn
trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, thủy sản... Đã hình thành được nhiều vùng sản
xuất nông sản hàng hóa như sản xuất lúa gạo ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông
Cưu Long, cà phê ở Tây Nguyên... Tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ trong nông
nghiệp ngày càng tăng. Nhịp độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 4,2%. Tuy nhiên
nhiều vùng, nhất là vùng sâu, vùng xa sản xuất nông nghiệp còn phân tán, manh mún, tự
cung tự cấp là chủ yếu.
- Công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn bước đầu phục hồi và phát triển;
kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được quan tâm đầu tư xây dựng, môi trường sinh thái và

