CÔNG TÁC CẢI TIẾN DI TRUYỀN – GIỐNG TRÂU
Mai Văn Sánh
Bộ n nghiên cứu Trâu
Tác giả để liên hệ: TS. Mai Văn Sánh, Trưởng Bộ môn nghiên cứu Trâu;
Trưởng Phòng Đào tạo và Thông tin Viện Chăn nuôi.
ĐT: (04)8 386 125/ (04) 8 385 023 / 0912585 495; E-mail: mvsanh@netnam.vn
ABSTRACT
The paper overviews some achievements of buffalo genetic improvement. There are two types of
buffalo existing, River and Swamp buffalo. Most of countries kept buffalo have conducted experiments and
got good sucesses on buffalo genetic improvement. With pure breeding, they have achieved in selection,
performance testing, progeny testing etc. With crossing, good successes also were got in crossing between
breeds within River type, and crossing between River and Swamp buffalo (two ways and three ways
crossing).
MỞ ĐẦU
Trâu đã được thuần chủng từ khá sớm và hiện tồn tại hai loại hình trâu sông
(River buffalo) trâu đầm lầy (Swamp buffalo). Tên của hai loại nh trâu nước được
đặt trâu sông trâu đầm lầy chủ yếu phụ thuộc vào sở thích tự nhiên của loại trâu
ng Đông nam Á tch đầm lầy, n trâu ng Ấn Độ ng Viễn Đông thì thích
ng nước sạch hơn, chúng thực chất đều chung nguồn gốc. Trâu con vật vai
trò rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp đời sống nhưng nhìn chung nghiên cứu về
trâu chưa được nhiều. Do những đặc điểm riêng biệt vgiống của trâu nghiên cứu
về cải tiến di truyền trong chăn nuôi trâu n nhiều hạn chế. Tuy vy trên sáp dụng
những thành tựu nghiên cứu tc gia súc khác cải tiến trên trâu, chúng ta cũng đã
thu được những tnh tựu về cải tiến di truyền giống trâu rất đáng được ghi nhận.
thi cải tiến di truyền của tu nn chung làm được còn quá ít so với c
gia súc gia cầm khác. Các giống tu hiện có trên thế giới được nh thành trải qua ng
ngàn năm trong những điều kiện tnhiên kinh tế nhất định gần như chúng được
chọn lọc mt cách tự phát ngẫu nhiên hơn là theo những hướng tạo giống. Xuất phát từ
quan niệm của con người về mục đích sử dụng trâu chủ yếu cho y kéo nên ít người
quan tâm đến việc cải tiến nâng cao khả năng sản xuất của chúng. Dần dần trong quá
trình sử dụng, trâu đã góp phần vào việc cung cấp cho con người một lượng sữa và thịt
ngày ng nhiều, người ta mới thay đổi nhận thức vvai tcủa chúng. Trong my thập
kgần đây, công tác giống tu đã bắt đầu được tiến nh với việc cải tiến di truyền
nâng cao khả năng sản xuất của chúng.
CÔNG TÁC CHỌN LỌC NHÂN THUẦN
Chọn lọc nhân thuần công việc cần thiết thường xuyên của công tác giống
nhằm nâng cao khả năng sản xuất của gia c gia cầm thông qua tiến bộ di truyền trong
quần thể. Chọn lọc nhân thuần bao gồm nhiều ku: chọn tu đực ging, cái giống,
kiểm tra năng suất thể, kiểm tra qua đời sau, xây dựng đàn hạt nn, v.v. . . Một s
quốc gia đã tiến hành nghiên cứu thành công áp dụng trong sản xuất này n là một
chương trình giống quốc gia, thực tế đã đóng góp lớn vào sự phát triển của chăn nuôi
trâu nước họ đồng thời góp phần vào sự phát triển chung của chăn nuôi trâu khu vực,
châu lục thế giới. Ấn Độ, Pa-ki-stan, Bun-ga-ri, I-ta-lia, Bra-xin, Vê-nê-du-ê-la,
Trung Quốc, Ti Lan, Phi-lip-pin .v.v. những ớc đã khá thành công trong lĩnh
vực y. Chúng ta điểm qua một s công c giống điển hình đã được tiến hành và
thành công ở các quốc gia y
Ấn Đlà một trong những ớc có cnh ch về ging trâu tốt. Theo đnghcủa
Hội đồng Nông nghiệp quốc gia t muốn cải tiến nâng cao chất ợng đàn tu phải
chọn lọc những cá thể tốt trong các đàn có thể quản lý phối với những tu đực
giống đặc biệt tốt, hy vọng khả năng sản xuất sẽ nâng lên. Những vùng Nhà nước
quản lý được trong mạng lưới t thực hiện việc kiểm tra thqua đời sau (Yadav,
2004). Chương tnh giống tu quốc gia n Đdo Hội đồng nghiên cứu Nông nghiệp
Ấn Độ quản lý. một quốc gia có quần thtrâu rất lớn (gần 100 triệu tu hiện tại, với
tlệ tăng trung bình hàng năm 1,26%) lại rất nhiều nhóm giống giống khác nhau
trong đó chyếu là các giống tu sông. Có một thực tế do quần thể trâu rất lớn,
lại có nhiều giống khác nhau và trên một đất nước vừa rộng vừa đông dân, việc quản lý
giống rất khó, vậy chỉ khoảng 20-25% tổng strâu là thuần chủng, scòn lại do
không quản lý được nên b pha tạp các giống không xác định được cụ thể (Sethi và
Sikka, 2006).
Chương tnh cải tiến di truyền nhằm nâng cao khnăng cho sữa của trâu được
bắt đầu tnhững năm 70 của thế k20. Mục đích của chương tnh ng cao chất
ợng đàn tu đực giống thông qua việc kiểm tra qua đời sau. Chương tnh y được
tiến hành trên 5 Trung tâm, trong đó hai Trung tâm tập trung cho hai giống tầm vóc
lớn là: Murrah Nili-Ravi, hai Trung tâm cho 2 giống tầm c trung bình Surti và
Mehsana một Trung tâm nữa là Anand nơi đang nghn cứu về nội tiết trâu. Đàn trâu
từng Trung tâm bao gồm hai nhóm: nm cao sản chuyên đphối với những trâu đực
đã kiểm tra qua đời sau nm kia để phối với những tu đực non mới chọn ể kiểm
tra qua đời sau). Mỗi đực giống mỗi nhóm phải kiểm tra thông qua 10-12 con gái
Trung tâm đã kết tc một chu k cho sữa đ đánh giá 50-60 con i c địa
phương (Alexiev, 1998). Hiện tại một dự án mạng ới về cải tiến di truyền trâu đã
đang hoạt động từ m 1993 nhằm ng cường đchọn lc của trâu đực giống Murrah
từ quần thể lớn ng số con đời sau của mỗi đực giống đkiểm tra tiến hành tn 7
đơn vị tham gia. Các giống khác cũng được tiến hành từ năm 2001 Nili- Ravi,
Jaffarabadi, Bhadawari, SurtiPandharpuri (Sethi và Sikka, 2006).
Pa-ki-stan, trâu cung cấp nguồn sữa cnh cho người dân nước này. Hai giống
trâu cnh đây là Nili-Ravi và Kundhi, trong đó nổi tiếng là Nili-Ravi. Đặc điểm chăn
nuôi trâu đây đa sni theo hộ với đàn nhỏ số ợng 1-5 tu. Thụ tinh nn tạo
trâu mới ch chiếm 5-10% đàn cái, tuy nhn số n lại được giao phối tự nhiên với
những tu đực tốt (Borghese cs., 2006). Chiến lược của chương tnh giống trâu
quốc gia Pakistan cũng là nhân thuần mà tập trung vào việc ghi chép theo dõi, chọn lọc
kiểm tra đực giống qua đời sau. ng việc đã được tiến hành từ năm 1979, những
năm đầu chỉ đánh giá qua đàn con sinh ra Trung tâm, đến năm 1984 tiến hành đánh
giá thêm qua đàn con sinh ra các địa phương để sở kết luận chính xác các kết
qu thu được của chương tnh. Các bước tiến hành của chương tnh chọn lọc và
đăng ký trâu i, chọn lc trâu i tốt để sản xuất trâu đực ging, chọn những trâu đực
có đủ tiêu chuẩn để kiểm tra cá thvà cuối cùng là kiểm tra qua đời sau đực giống
đó. Những trâu đực đã được chọn lọc được khai thác tinh phục vcông tác cải tiến di
truyền thông qua thụ tinh nhân tạo với c đàn trâui đã được chọn (Alexiev, 1998).
Thái Lan là quốc gia có số lượng trâu đầm lầy khá lớn. Những năm 80 của thế k
trước, slượng trâu đã ợt tn 6 triệu. Do nhiều do mà đàn trâu Thái Lan đang
giảm t nhanh chóng. Mặc giảm t về số lượng nhưng trong những năm cuối
của thế kỷ trước họ đã tiến hành chương trình giống quốc gia về “Đánh giá khả năng
sản xuất của trâu” nhằm nâng cao khnăng y o cho thịt của trâu đầm lầy. Năm
1981 Trung tâm giống trâu quốc gia Surin bắt đầu tiến hành chương trình này. Chương
trình được tiến hành mỗi m 3 nhóm, mỗi nhóm 10 đực và 80 cái sinh ra tại Trung
tâm, được chọn lọc sau cai sữa (8-12 tng) dựa vào một số đặc đim và tiêu chuẩn
giống như: ng trọng trung nh hàng ngày, khối lượng đã điều chỉnh 240 ngày tuổi,
chiều cao, hình dáng… Sau hai năm nuôi thử nghiệm sẽ đánh giá qua các chỉ tiêu: tăng
trọng trung bình hàng ngày (2ADG), khối lượng cơ thđã điều chỉnh lúc 2 năm tuổi (2
YWt), chiều cao y (H) hình ng (GA).
Khối lượng 240 ngày được xác định theo công thức:
WW- BW
KL
240ngày
= -------------------------
AW(240 + BW)
Trong đó WW là khối lượng lúc cai sữa
BW là khối lượng sơ sinh (kg)
AW là tuổi cai sữa (ngày)
Sau khi có được các chỉ tiêu thì kết hợp lại để đánh giá:
2ADG + 2YWt + H + GA
Họ đã tnh ng trong thực hiện chương tnh y, sau 10 năm thực hiện khối
ợng nghé sinh tăng 7,7 % (t28,4 lên 30,6 kg), lúc cai sữa 8 tháng tuổi tăng 38 %
(từ 121 lên 167 kg), 2 năm tuổi tăng 18 % (từ 268 lên 317 kg); tỷ lđẻ của đàn cái
sinh sản cũng được cải thiện, tăng từ 60,6% lên 69 %, tuổi đẻ lứa đầu rút ngắn từ 4,5
năm xuống 3,37 năm khoảng ch 2 lứa đrút ngắn t587 ngày xuống 468 ny
(Chantalakhana và Skunmun, 2002) .
Phi-lip-pin có quần thể trâu đầm lầy ln nhất khu vực Đông Nam Á, với n gọi là
Carabao. Theo truyền thống t Carabao cũng ch sử dụng cho cày o là chính, tuy
nhiên quá trình giới hoá đã chuyển dần mục đích sử dụng sang lấy thịt và sữa t
những năm 1970. Trong chương tnh cải tiến di truyền tu quốc gia họ thực hiện chọn
lọc nhân thuần đàn trâu địa pơng nhập trâu sông để lai tạo tạo con lai lấy sữa, thịt.
Với chọn lọc nhân thuần đàn trâu địa phương, họ xây dựng hệ thống hạt nhân mở đ
chọn lọc và cải tiến nâng cao chất lượng đàn, đàn hạt nhân được chọn lọc xây dựng
dựa vào hai chỉ tiêu chính tầm vóc khả năng sinh sản. Nhằm cải tiến nâng cao khả
năng cho thịt sữa họ nhập trâu Murrah để lai tạo với Carabao. Trâu Murah Mđã
được nhập phối với đàn tu địa phương tạo con lai khả năng cho thịt tốt n cv
năng suất và chất lượng. Trâu Murrah Bungari cũng được nhập khẩu với những cá thể
sản lượng sữa cao để lai tạo trâu lai hướng sữa. Trâu Murah nhập được nuôi gitại
một Trung tâm, chọn lọc những thể khnăng sinh trưởng sinh sản tốt đđưa
vào kiểm tra năng suất, sau khi kiểm tra qua đời sau những tu đực ging y được
khai thác tinh để làm thụ tinh nhân tạo (Cruz, 2006).
Trung Quốc là nước quần thể trâu đầm ly lớn nhất thế giới. Do đặc điểm sinh
thái giữa c vùng trong nước kc nhau đã dẫn đến với ng một giống tu đầm lầy
tới 14 loại nh khác nhau thích hợp từng vùng. Chiến ợc phát triển trâu của
Trung Quốc là tạo giống trâu ớng sữa. Họ đã nhập c giống trâu ng như Murrah,
Nili- Ravi đlai với trâu đầm lầy đa phương tạo tu lai kiêm dụng sữa thịt. Tớc mắt
họ làm tốt việc chọn lọc nhân thuần từng giống (trâu địa phương trâu nhập nội) để
nâng cao tầm c kh năng sản xuất, trên cơ sở đó sử dụng đực giống tu ng nhập
nội phối với đàn i nền trâu địa pơng (Liang Xian-wei và CS, 2004). Ngoài ng tác
chọn lc nhân thuần đàn tu địa phương đlai tạo giống tu lai ớng sữa, chương
trình giống của Trung Quốc còn chọn lọc nhân thuần tạo ging trâu đầm lầy Trung
Quốc mới ớng sữa và chọn lọc tạo ging trâu ng mới Binlang Vân Nam ly sữa
(Zhang Chunxi, 2006).
In-đô--xia quần thể trâu đầm lầy lớn ngay sau Việt Nam. Đặc điểm của một
đất nước tới 13 nghìn n đảo trải dài qua nhiều kinh tuyến đã hình thành nên
nhiều loại nh kc nhau về màu sắc lông da, tầm c và cả về tập nh như: trâu
Aceh, trâu Java, trâu Binanga, trâu Moa, tu Kalang, trâu lang trắng đen.v.v. Hng
tiến hành công tác chọn lc nhân thuần trong từng loại hình để giữ sđa dạng và làm
sở lai tạo với trâung tạo tu lai kiêm dụng (Triwulanningsih cs, 2005).
I-ta-li-a nước số lượng trâu tăng liên tục, giống trâu đây là trâu Địa Trung
Hải được nuôi trong cả nước. Tu được ni đlấy sữa sản xuất pho mát, còn thịt thì
vẫn ít được chú ý. Nời ni trâu cho rằng ni trâu cho hiệu quả kinh tế cao vì sữa
trâu được bán đ sản xuất pho mát nổi tiếng (Mozzarella di Buffalo) cho tu ng
trong nước cho xuất khẩu. Thịt tu sản phẩm phụ, nhiều vùng không tập quán
ăn thịt trâu, vy trâu loại thải bán rất rẻ, còn trâu tơ lấy thịt không có, nghé đực sinh
ra bị p chết ln. Nhiều ý kiến cho rằng thịt trâu vỗ béo có chất ợng cao
khuyến kch nuôi trâu thịt nhưng vẫn ca phát triển. I-ta-li-a không m ng tác lai
tạo trâu ch chọn lọc nn thuần để cải tiến di truyền nâng cao năng suất đàn trâu
sữa của họ (Alexiev, 1998). Công tác chọn lọc bắt đầu tiến hành quy từ những năm
1980, kiểm tra qua đời sau vào năm 1986. Kiểm tra chất lượng giống dựa vào các chỉ
tiêu ng suất pho mát, ợng sữa, tl m sữa, t l protein sữa, sản lượng
protein sữa. Những trâu đực giống trâu cái đã được kiểm tra tiềm năng đặc biệt
tốt s được công b trên ca-tô- (Borghese cs., 2006). Để chọn được những trâu
giống tốt người ta tập trung nhiều nhất o mục tiêu sản ợng pho mát bằng cách xây
dựng chs pho t (PKM: Production kg Mozzarella), chỉ snày được tính bằng công
thức:
Mozzarella (kg) = sữa (kg) x (3.5 x % đạm sữa + 1.23 x % mỡ sữa 0.88)/100
Quần thể trâu châu M k khiêm tốn, tuy vậy h ng rất chú ý ti ng tác
giống trâu. Bra-xin ớc có quần thể trâu lớn khu vực này công tác giống tu
cũng được tiến hành ktốt. Do đặc điểm chăn nuôi điều kiện mà họ áp dụng các
giải pháp kc nhau, tuy nhiên vẫn dựa vào những nguyên tắc chung chọn lọc nhân
thuần. Tại c trại nghiên cứu hng tiến hành kiểm tra thvà kiểm tra qua đời sau
nhưng trong điều kiện sản xuất họ lại áp dụng phương pháp đơn giản hơn đàn trâu
được phân làm hai nhóm: nm A là đàn tu hạt nhân đã chọn lọc (20% trâu ng
suất cao nhất) nhóm B 80% còn lại. Đàn giống A để sản xuất ra trâu đực giống,
đàn ging B sản xuất ra đàn trâui sinh sản (trâu đực đàn y chỉ để vỗ béo ly thịt).
Đàn tu đực sinh ra từ nm bố A sẽ được kiểm tra nghiêm ngặt v khả năng sinh
trưởng các chỉ tiêu kc để chọn 1% tt nhất để phối giống cho đàn trâu i hạt
nhân, 49% trâu đực tốt tiếp theo sẽ chọn làm đực giống phối cho đàn trâu cái đại t
50% đực còn lại không dùng làm đực giống, chỉ đnuôi ly thịt (Alexiev, 1998).
Tại Việt Nam, công tác chọn lọc nhân thuần đàn trâu làm chưa tốt và không
thường xuyên. Cng ta có tu Ngố ngoại nh to là nguồn gen bản địa quý sẵn
các tỉnh miền i ớc ta. m năm gần đây, nh chương trình chọn tạo giống y
trồng vật ni nên đã đề tài trọng điểm cấp ngành vchọn lọc lai tạo nhằm cải tạo
tầm vóc khả năng sản xuất của trâu địa phương. Kết qubước đầu cho thấy sdụng
trâu đực Ngố ngoại hình to m giống kết hợp với chọn lc đàn trâu cái đã cải thiện
nâng cao tầm vóc tu lên 10% so với đại trà. Chúng ta đang tiến hành áp dụng rộng rãi
kết quả để ng cao tm c và khả năng sản xuất tu đa pơng (Mai Văn nh,
2005).
Một trong những quốc gia châu Âu đi đầu trong công tác giống trâu Bun-ga-ri.
Trâu đã được nuôi Bun-ga-ri 12 thế kỷ. Nước này chỉ nuôi trâu ng để khai thác sữa,
vậy mục tiêu chương trình giống trâu quốc gia Bun-ga-ri là tập trung cải thiện kh
năng cho sữa của trâu. Công tác chọn lọc nhân thuần được họ tiến hành thường xuyên
qua rất nhiều năm nhiều thế hệ. Các ớc tiến nh theo một trình tự nhất định từ
khâu ghi chép theo i đến chọn con mẹ, chọn con con và kiểm tra qua đời sau mới đưa
vào sdụng (Alexiev, 1998). Quy trình đó có thể tóm tắt như sau:
+ Xác định cấu đàn trâu.
+ Ghi cp về sản lượng sữa khả năng sinh sản.
+ Chọn lọc trâu i sinh sản tốt để sản xuất ra đực giống.
+ Kiểm tra khả ng của đực hậu btớc khi chọn lọc (dựa vào khnăng sinh
trưởng, tuổi tnh thục, phẩm chất tinh dịch…).
+ Thử nghiệm phối giống c tu đực mi chọn lọc.
+ Tiến nh kiểm tra qua đời sau.
+ Chọn những đực giống đã kiểm tra đủ tu chuẩn và những con cái của những
trâu đực y đưa vào sdụng.
CÔNG TÁC LAI TẠO
Một trong những biện pp nâng cao khả năng sản xuất của gia súc gia cầm là
công tác lai tạo để tạo ưu thế lai, hạn chế những nhược điểm của giống này cũng như
phát huy ưu điểm của giống kia trong con lai. Đối với trâu, mặc dù được thuần h đã
lâu nhưng trâu đầm ly ít được chọn lọc, cải tạo nên vẫn giữ hình dáng gần với nguyên
thuỷ và vẫn chỉ mt giống duy nhất. Trong khi đó, do quá trình chọn lọc, tu sông
đã nh thành nhiều giống cải tiến riêng biệt với các ngoại hình kc nhau khả
năng sản xuất sữa, thịt cao. Chvùng Nam Á đã có tới 18 giống trâu sông khác nhau,
được xếp o 5 nhóm vớic giống chính (Cockril, 1974) là:
- Nm trâu Murrah các giống chính là Murrah, Nili-Ravi, Kundi.
- Nm trâu Gujarak có các giống chính Surti, Mehsana, Jafarabadi.
- Nm trâu Uttar Pradesh các giống chính là Bhadawari, Tarai.
- Nm tu vùng Trung n các giống chính Nagpuri, Pandharpuri, Manda,
Jerangi, Kalahandi, Sambalpur.
- Nm trâung Nam Ấn có các giống cnh là Toda, South Kanara.
Lai tạo trâu được tiến hành nhiều năm trên nhiều quốc gia nhằm nâng cao kh
năng sản xuất của trâu địa pơng chyếu khnăng cho sữa, sau đó đến cho thịt,
còn sức kéo thì gần ncon người đã hài lòng với những mà con tu đã . Trong
mấy thập kqua rất nhiều công tnh lai tạo đã được tiến hành và thu được những tnh
công lớn. Người ta đã lai giữa các giống trong loại nh trâu ng với nhau hoặc lai
giữa trâu sông với trâu đầm lầy tutheo mục đích sử dụng điều kiện từng quốc gia.
Người ta cũng đã thành công trong lai 3 máu đ kết hợp hoàn hảo hơn các ưu thế của 3