intTypePromotion=1

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 - sự kết hợp sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc với hậu phương tại chỗ ở miền Nam

Chia sẻ: ViNobinu2711 ViNobinu2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
22
lượt xem
0
download

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 - sự kết hợp sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc với hậu phương tại chỗ ở miền Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết nhằm làm sáng rõ sự kết hợp sức mạnh từ hậu phương lớn miền Bắc và hậu phương tại chỗ ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung và trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 nói riêng.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 - sự kết hợp sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc với hậu phương tại chỗ ở miền Nam

TAÏP CHÍ KHOA HOÏC ÑAÏI HOÏC SAØI GOØN Soá 3(28) - Thaùng 5/2015<br /> <br /> <br /> CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975 -<br /> SỰ KẾT HỢP SỨC MẠNH CỦA HẬU PHƯƠNG LỚN MIỀN BẮC<br /> VỚI HẬU PHƯƠNG TẠI CHỖ Ở MIỀN NAM<br /> <br /> TRẦN THỊ THANH VÂN(*)<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Bài viết nhằm làm sáng rõ sự kết hợp sức mạnh từ hậu phương lớn miền Bắc và hậu<br /> phương tại chỗ ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói chung và trong chiến<br /> dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 nói riêng. Hậu phương miền Bắc có<br /> vai trò quyết định nhất còn hậu phương tại chỗ ở miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp<br /> trong thắng lợi vĩ đại đánh đuổi chủ nghĩa đế quốc, thống nhất đất nước của cách mạng<br /> Việt Nam.<br /> Từ khóa: hậu phương chi viện kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc, hậu phương lớn<br /> miền Bắc, hậu phương tại chỗ ở miền Nam…<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The article aims to clarify the combination of power between the great rear in the<br /> Northern Vietnam and the spot rear in the Southern Vietnam during the war against the<br /> USA in general and The General offensive and uprising in the Spring of 1975 in particular.<br /> The Northern rear played the most decisive role while the Southern rear played the direct<br /> decisive role in the great victory over imperialism and for the national reunification of the<br /> Vietnamese revolution<br /> Keywords: rear assisted the front line against imperialism, great rear in the Northern<br /> Vietnam, spot rear in the Southern Vietnam ….<br /> <br /> (*)<br /> Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa thành của tất cả những lực lượng, những<br /> Xuân năm 1975 đã diễn ra thần tốc, “một yếu tố làm nên sức mạnh tất thắng của<br /> ngày bằng 20 năm”. Chỉ trong vòng 55 nhân dân ta trong cuộc chiến tranh yêu<br /> ngày đêm, quân dân ta đã chiến thắng áp nước vĩ đại” [8;20]. Một trong những yếu<br /> đảo bằng các đòn tiến công chiến lược giải tố có ý nghĩa quyết định tạo nên sức mạnh<br /> phóng Tây Nguyên, giải phóng Huế - Đà tất thắng đó chính là sự kết hợp giữa hậu<br /> Nẵng và kết thúc thắng lợi bằng đòn tiến phương lớn miền Bắc với hậu phương tại<br /> công chiến lược giải phóng Sài Gòn - Gia chỗ ở miền Nam.<br /> Định. Đúng như Đại hội IV của Đảng đã Theo quy luật của chiến tranh từ xưa<br /> đánh giá “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đến nay, chiến thắng sẽ thuộc về bên nào<br /> mùa Xuân 1975 là bước phát triển ở giai có được sức mạnh tổng lực áp đảo. Sức<br /> đoạn chín muồi trong toàn bộ cuộc kháng mạnh đó phải có ở cả tiền tuyến lẫn hậu<br /> chiến chống Mỹ, cứu nước; là kết quả hợp phương. Hậu phương được hiểu theo nghĩa<br /> hẹp là “nơi đối xứng với tiền tuyến, có sự<br /> (*) phân biệt rạch ròi bằng yếu tố không gian,<br /> TS, Trường Đại học Sài Gòn<br /> <br /> 76<br /> là lãnh thổ ngoài vùng chiến sự, phía sau hội chủ nghĩa, hậu phương tại chỗ ở miền<br /> chiến tuyến, có dân cư và tiềm lực mọi Nam và hậu phương do bạn bè quốc tế<br /> mặt, nhất là về nhân lực, vật lực. Là nơi viện trợ.<br /> xây dựng và huy động sức người, sức của, 1. Ngay từ rất sớm, sau khi Hiệp định<br /> đáp ứng nhu cầu của lực lượng vũ trang Genève được ký kết, Trung ương Đảng<br /> ngoài tiền tuyến” [7; 231]. Nếu hiểu rộng Lao động Việt Nam đã chủ trương xây<br /> hơn, hậu phương là nơi cung cấp sức dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách<br /> người, sức của cho chiến tranh, là chỗ dựa mạng, hậu phương lớn của cả nước; đồng<br /> để tiến hành chiến tranh. Xây dựng hậu thời cũng tiến hành xây dựng các vùng căn<br /> phương hùng mạnh, phát huy sức mạnh chi cứ, hậu phương tại chỗ ở miền Nam để<br /> viện từ hậu phương là vấn đề có tính chất từng bước thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ<br /> chiến lược và mang tính quyết định sống chiến lược ở hai miền Nam - Bắc. Xây<br /> còn đối với một cuộc chiến. Lý luận cách dựng miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội<br /> mạng của các nhà tư tưởng lỗi lạc K.Marx, không những đáp ứng yêu cầu phát triển<br /> F.Engels, V.I.Lenin đều đã khẳng định vấn khách quan của miền Bắc sau khi đã hoàn<br /> đề này. thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ<br /> F.Engels đã phân tích: “Toàn bộ việc nhân dân, mà còn là một đòi hỏi tất yếu của<br /> tổ chức và phương thức chiến đấu của quân cách mạng miền Nam lúc bấy giờ.<br /> đội và do đó thắng lợi, thất bại đều tỏ ra là Trong 10 năm đầu của cuộc kháng<br /> phụ thuộc vào những điều kiện vật chất, chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1964) là<br /> (…), nghĩa là vào chất lượng và số lượng khoảng thời gian hoà bình mà miền Bắc đã<br /> của cư dân và của cả kĩ thuật” [4;242]. tận dụng để tập trung khôi phục và phát<br /> V.I.Lenin nhấn mạnh rằng: “Trong chiến triển kinh tế. Những thành tựu cơ sở vật<br /> tranh, ai có nhiều lực lượng hậu bị hơn, ai chất và kỹ thuật được tạo ra trong thời kỳ<br /> có nhiều nguồn lực, ai kiên trì đi sâu vào này cùng với những thành công của phong<br /> quần chúng nhân dân hơn thì người đó thu trào Hợp tác hoá đã tạo tiền đề và khả năng<br /> được thắng lợi” [3;84]. “Muốn tiến hành để miền Bắc thực hiện vai trò hậu phương<br /> chiến tranh một cách thực sự phải có một của mình với tiền tuyến miền Nam. Nhiệm<br /> hậu phương có tổ chức vững chắc” [3;497]. vụ chi viện trực tiếp cho cách mạng miền<br /> Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng chỉ rõ, Nam được triển khai ngay từ khi có Nghị<br /> hậu phương thắng lợi thì chắc chắn tiền quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương<br /> phương sẽ thắng lợi; “khi có chiến tranh, (1959). Tuy vậy, phải đến tháng 1-1961,<br /> phải huy động và tổ chức tất cả các lực khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết về “Phương<br /> lượng trong nước để chống giặc” [2;474]. hướng và công tác trước mắt của cách<br /> Nắm vững lý luận cách mạng này, mạng miền Nam” thì công tác chi viện sức<br /> Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ động, người, sức của cho cách mạng miền Nam<br /> sáng tạo, vừa kháng chiến vừa kiến quốc, mới được triển khai một cách đồng bộ và<br /> vừa đánh giặc vừa xây dựng chế độ mới, toàn diện theo hướng đáp ứng những yêu<br /> chuẩn bị hậu phương cho chiến tranh giải cầu cụ thể của các cơ quan, ban, ngành,<br /> phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc. Cách đơn vị, địa phương ở miền Nam. Thời kỳ<br /> mạng Việt Nam dựa trên sức mạnh của ba này, cùng với tuyến vận tải chiến lược trên<br /> tầng hậu phương: hậu phương miền Bắc xã bộ được xây dựng từ năm 1959, tuyến vận<br /> <br /> 77<br /> tải trên biển cũng bắt đầu được hình thành số quân động viên ở hậu phương trong<br /> để đáp ứng yêu cầu chi viện sức người, sức trong thời gian đó). Chỉ tính riêng trong<br /> của cho cách mạng miền Nam đang tăng năm 1968, miền Bắc đã đưa vào miền<br /> nhanh. Bộ Quốc Phòng triển khai thành lập Nam 141.081 quân và cán bộ dân chính<br /> các đơn vị đi “B” (B là tên gọi chiến đảng cùng 72.499 tấn vũ khí và hàng hoá<br /> trường miền Nam) và hình thành các trung các loại. Liên tiếp trong ba năm sau đó<br /> tâm huấn luyện cho lực lượng này. Cho (1969-1972), khi tình hình tại các chiến<br /> đến năm 1964, hậu phương lớn miền Bắc trường miền Nam đang gặp nhiều khó<br /> đã chi viện cho các chiến trường ở miền khăn, miền Bắc đã kịp thời chi viện tiếp<br /> Nam trên 40.000 quân và 3.000 tấn vũ khí 162.051 cán bộ, chiến sĩ và 111.045 tấn vật<br /> các loại [12;154]. chất các loại [10;177]. Sự chi viện kịp thời<br /> Đầu năm 1965, sau thất bại của chiến và có hiệu quả này đã giúp cách mạng<br /> lược Chiến tranh đặc biệt, đế quốc Mỹ miền Nam nhanh chóng phục hồi, vượt qua<br /> chuyển sang chiến lược Chiến tranh cục được giai đoạn khó khăn sau Mậu Thân<br /> bộ, ồ ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và quân 1968. Trong 2 năm 1973 - 1974, miền Bắc<br /> Đồng minh vào trực tiếp tham chiến ở đã huy động được 25 vạn thanh niên nhập<br /> miền Nam, đồng thời leo thang chiến tranh ngũ thì 15 vạn trong số đó nhanh chóng<br /> ra phá hoại miền Bắc. Lúc này, miền Bắc được tổ chức huấn luyện và bổ sung tăng<br /> vừa sản xuất, vừa chiến đấu, lại vừa phải cường cho các chiến trường miền Nam<br /> dốc sức chi viện cho các chiến trường miền cùng với 379.000 tấn vật chất (bằng 54%<br /> Nam. Mọi hoạt động tại hậu phương lớn tổng khối lượng vật chất miền Bắc đưa vào<br /> miền Bắc đều được chuyển sang thời chiến miền Nam trong 16 năm trước đó)<br /> theo tinh thần “Tất cả vì tiền tuyến, tất cả [10;178].<br /> để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Nhân Trải qua hai cuộc chiến tranh phá hoại<br /> dân miền Bắc đã phải hai lần chuyển tàn khốc của không quân và hải quân Mỹ,<br /> hướng, tiến hành động viên quy mô lớn về hậu phương miền Bắc đã phải chịu tổn thất<br /> sức người và sức của để chi viện cho cách nặng nề. Mặc dầu vậy, trước khi quân và<br /> mạng miền Nam trong bối cảnh đang phải dân miền Nam mở cuộc Tổng tiến công và<br /> gồng mình chiến đấu chống lại cuộc chiến nổi dậy Xuân 1975, miền Bắc không<br /> tranh phá hoại tàn bạo của không quân và những đã vượt qua được khó khăn thử<br /> hải quân Mỹ. thách tưởng chừng như không vượt qua<br /> Trong khoảng 10 năm (1965 -1975), nổi, mà còn nhanh chóng khôi phục nền<br /> miền Bắc đã động viên hơn 2 triệu thanh kinh tế, tạo được sự phát triển đáng kể. So<br /> niên tham gia lực lượng vũ trang, tổng số với năm 1965 thì tổng sản phẩm xã hội và<br /> lao động ở miền Bắc được động viên thu nhập quốc dân của miền Bắc năm 1974<br /> chiếm tới 11% dân số. Thậm chí vào các đã tăng 1,3 lần; sản lượng lương thực tăng<br /> năm 1968, 1972, 1975 số nhân lực được 75 vạn tấn, công nghiệp tăng 1,5 lần; năng<br /> động viên còn vượt quá số lao động xã hội lực vận tải tăng 1,5 lần… Lúc này, miền<br /> tăng lên hằng năm. Thời kỳ cao điểm (từ Bắc tiếp tục động viên được trên 1 triệu tấn<br /> năm 1965 đến năm 1972), hậu phương lương thực (chiếm 18% tổng sản lượng của<br /> miền Bắc đã chi viện cho cách mạng miền năm 1974), huy động 60% năng lực vận tải<br /> Nam trên 670.000 quân (chiếm 43% tổng hiện có để nhanh chóng đưa hàng vào các<br /> <br /> 78<br /> chiến trường. Chỉ riêng 9 tháng đầu năm kháng chiến chống Mỹ nói chung và trong<br /> 1974, miền Bắc đã chuyển vào các chiến cuộc Tổng tiến công nổi dậy mùa Xuân<br /> trường miền Nam trên 33 vạn tấn vật chất 1975 nói riêng. Không phải ngẫu nhiên mà<br /> các loại. nhiều nhà nghiên cứu chiến lược quân sự<br /> Sự chuyển biến mau lẹ của tình hình ở Mỹ đều cho rằng: Một trong những nguyên<br /> chiến trường miền Nam và khả năng động nhân quan trọng nhất làm cho Mỹ thua ở<br /> viên tối đa nguồn nhân tài, vật lực của hậu Việt Nam là do không triệt phá được tiềm<br /> phương lớn miền Bắc là cơ sở để Bộ Chính lực của miền Bắc và sự chi viện cho miền<br /> trị hạ quyết tâm mở cuộc tiến công chiến Nam qua đường Hồ Chí Minh.<br /> lược mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn 2. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa<br /> miền Nam, thống nhất đất nước. Xuân năm 1975 là một cuộc tổng động<br /> Giai đoạn cuối của cuộc kháng chiến viên sức mạnh của cả nước, là sự kết hợp<br /> chống Mỹ (1974 - 1975), trong bối cảnh sức mạnh của hậu phương lớn miền Bắc<br /> không còn nhiều nguồn viện trợ từ các với hậu phương tại chỗ ở miền Nam. Ngay<br /> nước xã hội chủ nghĩa, để thực hiện quyết từ những năm đầu kháng chiến chống Mỹ,<br /> tâm của Trung ương Đảng Lao động Việt song song với việc tập trung xây dựng<br /> Nam, quân và dân miền Bắc đã dốc toàn bộ miền Bắc thành hậu phương lớn của cả<br /> sức lực của mình chi viện cho các chiến nước, Đảng ta cũng đã chủ trương xây<br /> trường miền Nam. Chỉ trong 4 tháng đầu dựng các vùng căn cứ, vùng giải phóng<br /> năm 1975, từ hậu phương lớn miền Bắc đã thành hậu phương tại chỗ cho chiến tranh<br /> có hơn 110.000 quân và 230.000 tấn vật cách mạng ở miền Nam.<br /> chất các loại được đưa vào các chiến Cùng với sự phát triển của cuộc kháng<br /> trường ở miền Nam. Để kịp thời đưa nguồn chiến chống Mỹ, cứu nước, hậu phương tại<br /> nhân lực và vật chất được động viên từ chỗ ở miền Nam không ngừng lớn mạnh và<br /> miền Bắc vào các chiến trường phục vụ ngày càng thể hiện rõ vai trò quan trọng<br /> tổng tiến công, ngoài 6.770 chiếc tô vận tải của mình. Hậu phương tại chỗ ở miền Nam<br /> chuyên trách của quân đội, các địa phương, vừa là nơi xây dựng thế trận chiến lược của<br /> cơ quan, ban, ngành ở miền Bắc còn huy chiến tranh nhân dân; vừa đáp ứng được<br /> động tới 60% các phương tiện vận tải dân yêu cầu của các chiến trường, giải quyết<br /> sự. Riêng về nhiên liệu, trong 2 năm 1973 - vấn đề hậu cần tại chỗ cho các lực lượng<br /> 1974, hệ thống đường ống xăng dầu Bắc - kháng chiến, nhất là tại những địa bàn xa<br /> Nam đã đưa vào các chiến trường gần xôi cách trở, sự chi viện của hậu phương<br /> 303.000 tấn [1;1121]. Khối lượng lớn binh miền Bắc thường vào chậm, hoặc vào rất<br /> khí, kỹ thuật, nhiên liệu được miền Bắc hạn chế.<br /> động viên và kịp thời chi viện cho các Trong kháng chiến chống Mỹ, hệ<br /> hướng tiến công trên các chiến trường ở thống căn cứ địa, vùng giải phóng ở miền<br /> miền Nam đã giúp cho các binh đoàn chủ Nam đan xen liên hoàn, nối từ miền Tây<br /> lực thực hiện cơ động thần tốc, hoàn thành Trị - Thiên qua Tây Nguyên vào miền<br /> các mục tiêu chiến lược đề ra. Đông và xuống tận miền Tây Nam Bộ. Sự<br /> Những con số trên đây cho thấy rất rõ đan xen liên hoàn đó đã tạo ra mạng lưới<br /> vai trò to lớn và có ý nghĩa quyết định của hậu phương tại chỗ rộng khắp. Thực tế ở<br /> hậu phương lớn miền Bắc trong cuộc các chiến trường cho thấy, bên cạnh nguồn<br /> <br /> 79<br /> vật lực được chi viện từ hậu phương lớn 85% phương tiện vận tải cơ giới là do<br /> miền Bắc, nguồn hậu cần khai thác từ hậu nguồn bổ sung từ hậu phương lớn miền<br /> phương tại chỗ ở miền Nam đã có những Bắc; 77% lương thực, 90% thực phẩm,<br /> đóng góp cực kỳ quan trọng. Từ sau phong 61% quân trang là do hậu phương tại chỗ<br /> trào Đồng Khởi (1960) cho đến năm 1975, cung cấp [12;165].<br /> hậu phương tại chỗ ở miền Nam đã bảo 3. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa<br /> đảm 22,5% nhu cầu vật chất cho các lực Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch<br /> lượng vũ trang. Nếu tính cả nguồn chiến Hồ Chí Minh lịch sử cho thấy sức mạnh áp<br /> lợi phẩm và nguồn do bộ đội tăng gia sản đảo về thế và lực của cách mạng đối với<br /> xuất được thì tỷ lệ đó lên đến 35% thế và lực của đối phương. Có được sức<br /> [10;222]. Về nhân lực, chỉ riêng trong 2 mạnh đó chính là nhờ sự kết hợp được sức<br /> năm (1973-1974), hậu phương tại chỗ đã mạnh của hậu phương lớn miền Bắc với<br /> động viên được 12.000 thanh niên gia nhập sức mạnh của hậu phương tại chỗ ở miền<br /> Quân giải phóng. Nếu như năm l973 hậu Nam. Mối quan hệ giữa hai hậu phương đã<br /> phương tại chỗ ở miền Nam chỉ mới huy được hình thành, không ngừng phát triển,<br /> động được 117.128 du kích thì năm 1975 tác động và thúc đẩy lẫn nhau trong một<br /> đã huy động tới 296.184 người [6;34]. chỉnh thể thống nhất. Chúng ta không thể<br /> Trong Tổng tiến công mùa Xuân 1975, chỉ nhấn mạnh đến một phía, như lâu nay<br /> hậu phương tại chỗ ở Trị - Thiên, Tây trong các nguồn tài liệu chủ yếu chỉ đề cập<br /> Nguyên, miền Đông Nam Bộ đã trở thành nhiều đến “hậu phương lớn miền Bắc” mà<br /> hậu phương trực tiếp cho các quân đoàn không đánh giá đúng mối quan hệ mật thiết<br /> chủ lực. Chỉ riêng ở Tây Nguyên, cuối giữa hai hậu phương.<br /> tháng 2-1975, các lực lượng vũ trang đã có Xây dựng miền Bắc trở thành hậu<br /> lượng dự trữ 54.000 tấn vật chất các loại, phương lớn của cả nước, đưa miền Bắc tiến<br /> trong đó có 7.286 tấn đạn, 28.600 tấn lên chủ nghĩa xã hội không chỉ để đáp ứng<br /> lương thực, thực phẩm. Nguồn dự trữ này nhu cầu phát triển về mọi mặt của nhân dân<br /> đủ cho lực lượng vũ trang Tây Nguyên miền Bắc, mà trong đó còn bao hàm nội<br /> hoạt động trong cả năm 1975 [9;362]. dung vì sự nghiệp giải phóng miền Nam,<br /> Chuẩn bị cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch thống nhất đất nước. Ngược lại, tiến hành<br /> sử, hậu phương tại chỗ đã huy động được cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân<br /> gần 10.000 tấn lương thực, thực phẩm, bảo ở miền Nam (trong đó có nội dung xây<br /> đảm hơn 50% nhu cầu của các cánh quân dựng hậu phương tại chỗ) ngoài mục đích<br /> tham gia chiến dịch. Động viên hơn 10.000 để giải phóng miền Nam, thống nhất đất<br /> người thành lập các tiểu đoàn cơ động; huy nước thì quá trình thực hiện cuộc cách<br /> động gần 4.000 xe vận tải các loại, 656 mạng này ở miền Nam cũng chính là góp<br /> thuyền máy, l.73 xe đạp thồ, 63.342 dân phần quan trọng vào công cuộc bảo vệ và<br /> công phục vụ chiến dịch [11;219]. xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.<br /> Nhìn vào những số liệu đã được tổng Những số liệu trên cho thấy vai trò đặc<br /> kết có thể thấy trong giai đoạn cuối của biệt quan trọng mang tính quyết định của<br /> cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên các chiến hậu phương lớn miền Bắc và hậu phương<br /> trường miền Nam có hơn 80% quân, 81% tại chỗ ở miền Nam trong kháng chiến<br /> vũ khí, 60% xăng dầu, 65% thuốc men, chống Mỹ nói chung và trong Tổng tiến<br /> <br /> 80<br /> công và nổi dậy mùa Xuân 1975 nói riêng. đã được phát triển lên một tầm cao mới và<br /> Điều này càng chứng minh cho sự sáng trở thành biểu tượng của cuộc Kháng chiến<br /> suốt và tầm nhìn chiến lược của Đảng Lao chống Mỹ, cứu nước.<br /> động Việt Nam 21 năm về trước khi xác Đó là sức mạnh của đoàn kết toàn dân<br /> định xây dựng miền Bắc thành hậu phương kết hợp với sức mạnh thời đại để đưa dân<br /> lớn của cả nước, đồng thời xây dựng các tộc tiến tới “độc lập, tự do, hạnh phúc”. Đó<br /> vùng căn cứ ở miền Nam thành hậu là sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân;<br /> phương tại chỗ. Miền Bắc có vai trò quyết sự đoàn kết quân - dân; đoàn kết Bắc -<br /> định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải Nam, đoàn kết các lực lượng yêu nước và<br /> phóng miền Nam, thống nhất nước nhà, tiến bộ cả ở trong và ngoài nước. Trong<br /> miền Nam có vai trò quyết định trực tiếp suốt cuộc kháng chiến này, cả dân tộc vừa<br /> trong việc đánh đổ ách thống trị của đế thể hiện quyết tâm đánh đuổi quân xâm<br /> quốc và bè lũ tay sai hoàn thành cách xâm lược; vừa có cả tín tâm, tin tưởng vào<br /> mạng dân tộc dân chủ nhân dân [5]. sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, của Bác<br /> Thắng lợi vĩ đại và vẻ vang của cuộc Hồ; tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng của<br /> Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là kết cách mạng. Cả hậu phương lớn miền Bắc<br /> quả của chặng đường đấu tranh đầy gian ngày đêm đau đáu hướng về miền Nam,<br /> nan và thử thách của dân tộc Việt Nam, với dốc sức người, của cải vật chất cho sự<br /> những hy sinh mất mát to lớn, đã phải nghiệp giải phóng miền Nam. Quân và dân<br /> chiến đấu và chiến thắng kẻ thù bằng bản miền Nam luôn hướng về miền Bắc với<br /> lĩnh, trí tuệ và văn hóa giữ nước mang đậm niềm tin mãnh liệt vào Đảng, Bác Hồ, vào<br /> bản sắc Việt. Thắng lợi đó được hội tụ, kết công cuộc xây dựng hậu phương miền Bắc;<br /> tinh bởi nhiều nhân tố, trong đó đặc biệt là luôn coi miền Bắc là chỗ dựa, là đầu não<br /> tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. của cách mạng và kháng chiến.<br /> Thành công, thành công, đại thành công”<br /> <br /> <br /> TÀI LIỆU THAM KHẢO<br /> <br /> 1. Bộ Quốc Phòng – Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2000), Đại thắng Mùa Xuân<br /> 1975 – sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, Nxb Quân đội nhân dân, HN.<br /> 2. Hồ Chí Minh toàn tập (1996), Nxb Chính trị Quốc gia, HN.<br /> 3. Lênin toàn tập, tập 30, Nxb Sự thật, HN.<br /> 4. Mác – Ănghen (1977), Về mối quan hệ giữa kinh tế hậu phương, chiến tranh và quân<br /> đội, Nxb Quân đội nhân dân, HN.<br /> 5. Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ 7 (khoá II), tháng 3-1955.<br /> 6. Nguyễn Huy Thục (1995), “Tổng động viên sức mạnh cả nước giải phóng miền Nam<br /> thống nhất Tổ quốc”, Tạp chí Lịch sử Quân sự, số (1), tr.34.<br /> 7. Từ điển Bách khoa Việt Nam (1998), tập 1, Nxb Từ điển, HN.<br /> <br /> <br /> 81<br /> 8. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 4 Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Sự<br /> thật, HN.<br /> 9. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1995), Đại thắng mùa Xuân 1975 - Nguyên nhân<br /> và bài học, Nxb Quân đội nhân dân, HN.<br /> 10. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt<br /> Nam, Nxb Quân đội nhân dân, HN.<br /> 11. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1991), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước<br /> (1954-1975), Nxb Quân đội nhân dân, tập 2, HN.<br /> 12. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (1990), Trận quyết chiến lịch sử Xuân 1975, Nxb<br /> Quân đội nhân dân, HN.<br /> <br /> * Ngày nhận bài: 30/3/2015. Biên tập xong: 24/4/2015. Duyệt đăng: 04/5/2015.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 82<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2